Header Ads

  • Breaking News

    Tin tức thế giới ngày Thứ năm 20 tháng 01 năm 2022


    TT Biden: Còn quá sớm để giảm thuế cho Trung Quốc


    Tổng thống Mỹ Joe Biden (ảnh: Chụp màn hình video của Yahoo Finance).

    Tổng thống Hoa Kỳ Joe Biden hôm thứ Tư (19/1) nói rằng vẫn còn quá sớm để nới lỏng thuế quan đối với hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc.

    Phát biểu về vấn đề thuế quan đối với Trung Quốc tại một cuộc họp báo của Nhà Trắng, ông Biden nói, “Tôi muốn có thể ở một vị trí mà tôi có thể nói rằng họ đang đáp ứng các cam kết, hơn cả các cam kết, để có thể nâng cao điều gì đó, nhưng chúng tôi vẫn chưa có được vị trí đó”.

    Phát biểu của Tổng thống Biden là dấu hiệu mới nhất cho thấy chính quyền của ông tiếp tục giữ quan điểm cứng rắn của chính quyền Trump đối với Trung Quốc.

    Theo thỏa thuận thương mại giai đoạn 1 đạt được giữa chính quyền Trump và Bắc Kinh vào ngày 15 tháng 1 năm 2020, Trung Quốc cam kết mua thêm 200 tỷ đô la hàng hóa của Hoa Kỳ. Tuy nhiên, Trung Quốc đang cho thấy họ chưa tích cực thực hiện thỏa thuận.

    Theo dữ liệu do Viện Kinh tế Quốc tế Peterson tổng hợp, vào tháng 11 năm 2021, lượng hàng hóa Mỹ mà Trung Quốc mua chỉ đạt khoảng 60% so với thỏa thuận. Dữ liệu tháng 12 dự kiến được công bố vào tuần tới.

    Biden nói rằng ông biết một số nhóm doanh nghiệp đã yêu cầu ông xóa bỏ thuế quan lên tới 25% đối với hàng hóa nhập khẩu trị giá hàng trăm tỷ đô la từ Trung Quốc. Tuy nhiên, ông cho rằng còn quá sớm để hành động vì Trung Quốc không tăng cường mua hàng của Mỹ.

    Dữ liệu do chính phủ Trung Quốc công bố tuần trước cho thấy, thặng dư thương mại của Trung Quốc đạt 94,5 tỷ USD trong tháng 12/2021, phá vỡ kỷ lục 84,5 tỷ USD trước đó được thiết lập vào tháng 10/2021. Gần một nửa thặng dư thương mại của Trung Quốc trong tháng 12 đến từ Hoa Kỳ. Sự mất cân bằng thương mại song phương trong tháng này là 39,2 tỷ đô la, giảm nhẹ so với mức kỷ lục 42 tỷ đô la được thiết lập vào tháng 9.

    Ấn Độ cảnh giác hơn trước omicron

    Ký ức kinh hoàng về biến thể delta khiến người Ấn Độ rất lo sợ khi omicron xuất hiện. Tuy nhiên, dữ liệu gần đây cho thấy họ không cần phải quá lo lắng. Số ca bệnh tại các thành phố lớn nhất của Ấn Độ, bao gồm Delhi và Mumbai, đã giảm mạnh trong tuần này. Quan trọng hơn, số người nhập viện và tử vong đều không tăng đột biến.

    Điều này phần lớn là do omicron gây triệu chứng nhẹ hơn. Ngoài ra còn vì Ấn Độ đẩy mạnh chương trình vắc-xin, với độ phủ hai liều lên đến gần 50% dân số. Các quan chức cũng phản ứng tốt hơn ở lần này. Delhi, nơi bị thiệt hại nặng nề trong làn sóng dịch trước, đã tăng số giường bệnh ngay khi ca nhiễm bắt đầu tăng, trong khi ủy ban bầu cử cấm mít tinh, một yếu tố vốn góp phần gây ra thảm họa năm ngoái.

    Dù vậy, các chuyên gia nói vẫn phải cảnh giác. Họ dự đoán số ca sẽ tăng cao khi biến thể lan rộng đến các thành phố nhỏ hơn. Và một số người tin rằng số ca thấp chỉ là do bị thiếu xét nghiệm.

    Lạm phát cao trên toàn EU

    Các số liệu lạm phát chính thức của khu vực đồng euro công bố vào thứ Năm này sẽ xác nhận một thực tế rõ ràng: lạm phát bao trùm. Lạm phát toàn khối có thể lên tới 5% trong tháng 12, cao hơn ba điểm phần trăm so với mục tiêu của Ngân hàng Trung ương Châu Âu (ECB). Một số nhà kinh tế dự đoán nó sẽ vẫn ở mức cao trong nửa đầu năm, dù có thể giảm xuống còn 4,1% trong quý đầu và 3,7% trong quý hai.

    ECB đang chịu áp lực thắt chặt chính sách tiền tệ một khi biến thể Omicron thuyên giảm. Họ đã cho biết sẽ chấm dứt mua ròng trái phiếu theo chương trình ứng phó đại dịch 1,85 nghìn tỷ euro (2,1 nghìn tỷ đô la) kể từ tháng 3. Các quan chức ECB khẳng định khó có khả năng tăng lãi suất trong năm nay. Nhưng một số chuyên gia đang nghi ngờ, với dự đoán ngân hàng rồi sẽ phải tăng lãi suất sớm nhất trong tháng 9. Dự báo của ECB cho thấy lạm phát sẽ không quay đầu về mức mục tiêu cho đến năm sau.

    Lạm phát tiếp tục hoành hành ở Thổ Nhĩ Kỳ

    Một khách mời trên một chương trình tin tức Thổ Nhĩ Kỳ gần đây khi nhìn vào chỉ số lạm phát ở một số nước phương Tây đã hỏi: “Tại sao bạn lại cộng chúng vào ở cột dưới này?” Con số mà ông đề cập đến khi ấy, 36,1%, chính là lạm phát của Thổ Nhĩ Kỳ.

    Các gói kích thích đại dịch và gián đoạn chuỗi cung ứng đã khiến giá cả tăng vọt trên toàn thế giới. Song ở Thổ Nhĩ Kỳ, nguyên nhân lại là các lý thuyết kinh tế kỳ cục của tổng thống Erdogan. Từ tháng 9 năm ngoái, Recep Tayyip Erdogan đã ra lệnh cho ngân hàng trung ương giảm lãi suất từ 19% xuống 14%, với niềm tin điều này giúp kiềm chế lạm phát. Hậu quả, như đã thấy, là lạm phát cao nhất kể từ 2002. Ủy ban chính sách tiền tệ của ngân hàng, sẽ nhóm họp vào thứ Năm, đáng lẽ đã phải ngăn cản thử nghiệm điên rồ của ông Erdogan từ mấy tháng trước. Tuy nhiên các nhà phân tích dự đoán ủy ban sẽ tiếp tục giữ nguyên lãi suất cho vay. Do đó lạm phát có thể sớm lên tới 50%.

    Một năm nắm quyền : Tỷ lệ ủng hộ TT Biden tiếp tục xuống thấp

    20/01/2022



    Khi Tổng thống Mỹ Joe Biden kết thúc năm đầu tiên nắm quyền, có một thực tế rõ rệt là đa số người dân Mỹ lần đầu tiên không tán thành cách ông thực hiện chức trách tổng thống khi đối phó với đại dịch kéo dài và lạm phát cao, theo một cuộc thăm dò mới đây của Trung tâm Nghiên cứu Các vấn đề Công cộng AP-NORC, là một chương trình hợp tác giữa hãng tin AP và Đại học Chicago.

    Số người Mỹ không tán thành nhiều hơn số tán thành cách ông Biden thực hiện vai trò tổng thống, 56% so với 43%. Tính đến thời điểm hiện tại, chỉ có 28% người Mỹ nói họ muốn ông Biden tái tranh cử vào năm 2024, trong đó chỉ có 48% cử tri Dân chủ.

    Hôm 19/1, khi được hỏi tại một cuộc họp báo về mức độ ủng hộ bị sụt giảm, Tổng thống Biden trả lời: “Tôi không tin các cuộc thăm dò.”

    Kết quả này là sự đảo chiều thấy rõ nếu so với đầu nhiệm kỳ.

    Hồi tháng 7, 59% người dân Mỹ cho biết họ tán thành thành tích làm việc của ông Biden trong một cuộc thăm dò của AP-NORC. Tỷ lệ này đã giảm xuống còn 50% vào cuối tháng 9 trong bối cảnh Mỹ rút quân một cách hỗn loạn và đẫm máu khỏi Afghanistan, số ca nhiễm virus corona gia tăng và những nỗ lực phập phù của chính quyền Biden để thúc đẩy các chính sách kinh tế, cơ sở hạ tầng và thuế qua Quốc hội.

    Cuộc thăm dò mới nhất cho thấy niềm tin của người Mỹ vào cách ông Biden xử lý đại dịch – vốn hồi đầu được xem là thế mạnh của chính quyền ông – đã xói mòn thêm vào lúc biến chủng Omicron làm quá tải hệ thống y tế và càng làm cho một lượng cử tri Mỹ vốn hy vọng cuộc sống sẽ trở lại bình thường vào lúc này thêm mệt mỏi.

    Chỉ có 45% người được vấn ý nói rằng họ tán thành cách xử lý dịch COVID-19 của ông Biden, giảm từ mức 57% trong tháng 12 và từ 66% vào tháng 7 năm 2021.

    Người Mỹ thậm chí còn bi quan hơn về thành tích kinh tế của ông Biden, với chỉ 37% tán thành. Sự bất mãn ngày càng tăng về các chính sách kinh tế của ông xảy ra vào lúc lạm phát tăng nhanh nhất trong gần 40 năm vào tháng trước, tăng 7% so với một năm trước đó, làm tăng chi phí sinh hoạt và gặm nhấm vào số tiền tăng lương.

    Bà Joyce Bowen, 61 tuổi, ở Knoxville, bang Tennessee, nói rằng Biden đáng được khen ngợi vì đã khuyến khích người Mỹ tiêm ngừa, nhưng bà bày tỏ thất vọng về phản ứng của chính quyền trước lạm phát.

    Người công nhân quét dọn bán thời gian tại một thư viện công cộng này cho biết bà và anh trai, người mà bà chu cấp, đã ăn ít thịt hơn để bù đắp chi phí hàng hóa tăng và giá xăng tăng vốn đã làm giảm sức mua của tiền lương của bà.

    “Thật khó để có đủ thức ăn trên bàn ăn và xăng trong xe”, bà Bowen, người đã bỏ phiếu cho ông Biden nhưng nói bà không muốn ông tái tranh cử vào năm 2024.

    Nhưng không phải tất cả đều là tin xấu đối với ông Biden: nhiều người tiếp tục đánh giá tích cực về tổng thống, tính cách và sự điều hành của ông.

    Cuộc thăm dò của AP-NORC cũng cho thấy ông Biden được ủng hộ nhiều hơn ông Trump vào cùng thời điểm trong nhiệm kỳ. Vào tháng 2 năm 2018, chỉ có 35% người Mỹ nói họ ủng hộ ông Trump.

    Lạm phát toàn cầu: 7 lý do chi phí sinh hoạt tăng cao trên thế giới

    By Beth Timmins & Daniel Thomas


    Nguồn hình ảnh, Getty Images

    Từ việc mua hàng hóa cho đến sưởi ấm ngôi nhà của chúng ta trong mùa đông, chi phí sinh hoạt đang tăng cao - không chỉ ở Vương quốc Anh mà trên khắp thế giới.

    Lạm phát toàn cầu - tốc độ tăng giá - ở mức cao nhất kể từ năm 2008. Dưới đây là một số lý do.

    1. Giá xăng dầu và năng lượng tăng


    Nguồn hình ảnh, Getty Images

    Giá dầu lao dốc từ khi đại dịch bùng phát, nhưng nhu cầu đã tăng vọt trở lại.

    Tại Mỹ, giá dầu hiện trung bình là 3,31 USD/gallon - tăng từ mức giá 2,385 USD/gallon của năm trước. Đó là câu chuyện tương tự xảy ra ở Vương quốc Anh và EU.

    Giá khí đốt cũng tăng vọt, khiến người dân trên khắp thế giới phải kinh ngạc với các hóa đơn tiền sưởi ấm.

    Nhu cầu từ châu Á đã khiến giá cả tăng lên, cùng với mùa đông lạnh giá ở châu Âu năm ngoái, đã làm cạn kiệt nguồn dự trữ khí đốt.

    2. Thiếu hàng hóa


    Nguồn hình ảnh, Getty Images

    Chụp lại hình ảnh,

    Nike - và các công ty khác - đã phải tăng giá do chi phí chuỗi cung ứng

    Giá cả nhiều mặt hàng tiêu dùng hàng ngày đã tăng vọt trong thời gian đại dịch.

    Người tiêu dùng mắc kẹt ở nhà trong thời kỳ phong tỏa năm ngoái đã đổ xô đi mua các mặt hàng gia dụng và sửa chữa nhà cửa vì họ không thể đi ăn hàng hay đi nghỉ mát.

    Các nhà sản xuất ở những nơi như châu Á - nhiều nơi đã phải đóng cửa do các biện pháp hạn chế về Covid - đã phải vật lộn để đáp ứng nhu cầu kể từ đó.

    Điều này dẫn đến tình trạng thiếu hụt vật liệu như nhựa, bê tông và thép, làm đẩy giá lên cao. Gỗ hiện có giá cao hơn 80% so với bình thường trong năm 2021 ở Vương quốc Anh và cao hơn gấp đôi so với giá thông thường ở Mỹ.

    Các nhà bán lẻ lớn của Mỹ như Nike và Costco đã phải tăng giá bán hàng hóa do chi phí chuỗi cung ứng cao hơn.

    Và đang có tình trạng thiếu vi mạch, là những thành phần cấu thành quan trọng trong ô tô, máy tính và các mặt hàng gia dụng khác.

    3. Chi phí vận chuyển


    Nguồn hình ảnh, Getty Images

    Các công ty vận tải biển toàn cầu - chuyên vận chuyển hàng hóa đi khắp thế giới - đã bị choáng ngợp bởi nhu cầu tăng cao sau đại dịch.

    Điều đó có nghĩa là các nhà bán lẻ đã phải chi trả nhiều hơn để đưa được những hàng hóa đó vào các cửa hàng. Hệ quả là, chi phí này đã được chuyển sang người tiêu dùng.

    Đi cùng với đó là việc tăng phí vận chuyển hàng hóa bằng đường hàng không và còn trở nên tồi tệ hơn do tình trạng thiếu tài xế lái xe tải ở châu Âu.

    Các nút thắt vận tải dường như đã giảm bớt vào tháng 12/2021, với việc Hoa Kỳ bắt đầu đỉnh kỷ lục về tình trạng tắc nghẽn tại các cảng của nước này.

    Nhưng Omicron và sự xuất hiện của các biến thể Covid trong tương lai có thể đảo ngược những điều đã đạt được này.

    4. Lương tăng

    Nhiều người đã bỏ hoặc thay đổi công việc trong thời kỳ đại dịch.

    Tháng 4/2021, Mỹ đã chứng kiến ​​hơn 4 triệu người bỏ việc, theo Bộ Lao động Hoa Kỳ. Đây là mức tăng đột biến lớn nhất từng được ghi nhận.

    Do đó, các công ty đang gặp khó khăn trong việc tuyển dụng nhân viên như tài xế, nhân viên chế biến món ăn và nhân viên phục vụ nhà hàng.

    Một khảo sát do công ty nghiên cứu Korn Ferry thực hiện với 50 nhà bán lẻ lớn của Mỹ cho thấy 94% đang gặp khó khăn trong việc lấp các vị trí trống.

    Hệ quả là, các công ty đang phải tăng lương hoặc đưa ra các khoản tiền thưởng đã được ghi sẵn trong hợp đồng khi ký để thu hút và giữ chân nhân viên. McDonald's và Amazon đang đưa ra các khoản tiền thưởng cho việc tuyển dụng từ 200 đến 1.000 đô la.

    Các chi phí thêm của nhà tuyển dụng một lần nữa được chuyển sang cho người tiêu dùng. Thương hiệu quần áo toàn cầu Next đổ lỗi việc tăng giá theo kế hoạch cho năm 2022 một phần là do chi phí trả lương leo thang.


    Nguồn hình ảnh, Getty Images

    Chụp lại hình ảnh,

    Amazon đang đưa ra các khoản tiền thưởng tuyển dụng trong nỗ lực nhằm thu hút nhân công

    5. Tác động của khí hậu

    Thời tiết khắc nghiệt ở nhiều nơi trên thế giới đã góp phần gây ra lạm phát.

    Nguồn cung dầu toàn cầu đã bị ảnh hưởng bởi các cơn bão Ida và Nicholas đi qua Vịnh Mexico và gây thiệt hại cho cơ sở hạ tầng khai thác dầu của Mỹ.

    Và các vấn đề đáp ứng nhu cầu về vi mạch đã trở nên tồi tệ hơn sau khi một cơn bão mùa đông khốc liệt làm đóng cửa các nhà máy lớn ở Texas vào năm ngoái.

    Giá cà phê cũng tăng vọt sau khi Brazil, nhà sản xuất cà phê lớn nhất thế giới, có vụ thu hoạch kém sau đợt hạn hán nghiêm trọng nhất trong gần một thế kỷ qua.


    Nguồn hình ảnh, Getty Images

    Chụp lại hình ảnh,

    Thời tiết lạnh giá ở Texas gây ra vấn đề nghiêm trọng về năng lượng

    6. Rào cản thương mại

    Chi phí cho nhập khẩu tăng cũng góp phần làm tăng giá cả. Các quy tắc thương mại mới hậu Brexit (Anh ra khỏi EU) được ước tính đã làm giảm khoảng 1/4 lượng nhập khẩu từ EU vào Anh trong nửa đầu năm 2021.

    Phí chuyển vùng đang được áp dụng trở lại đối với nhiều du khách Anh đi thăm châu Âu trong năm nay.

    Năm ngoái, gã khổng lồ viễn thông Trung Quốc Huawei cho biết các lệnh trừng phạt mà Mỹ áp đặt lên công ty này vào năm 2019, đang tác động đến các nhà cung cấp Mỹ và khách hàng trên toàn cầu.

    7. Chấm dứt hỗ trợ trong đại dịch


    Nguồn hình ảnh, Getty Images

    Các chính phủ trên toàn thế giới đang hỗ trợ các doanh nghiệp tháo gỡ khó khăn để giúp đối phó với tác động của virus corona.

    Chi tiêu công và vay nợ gia tăng trên toàn thế giới trong suốt thời kỳ đại dịch. Điều này dẫn đến việc tăng thuế mà góp phần vào việc hạn chế chi phí sinh hoạt, trong khi mức lương của hầu hết mọi người không thay đổi.

    Nhiều nền kinh tế phát triển đã có các chính sách được được đưa ra để bảo vệ người lao động, chẳng hạn như chương trình 'furlough' - trợ cấp tiền trong đại dịch ở Anh, và các chính sách phúc lợi để bảo vệ những người được trả lương thấp nhất.

    Một số nhà kinh tế cho rằng những chính sách này cũng có thể đẩy lạm phát tăng cao hơn khi các biện pháp hỗ trợ kết thúc.

    Không có nhận xét nào