Header Ads

  • Breaking News

    Keith William Nolan – Huế, Trận đánh Mậu Thân

    Bút ký về trận đánh kéo dài 26 ngày Tết Mậu Thân năm 1968 ở Huế

    Keith William Nolan

    hoànglonghải dịch


    Vài lời của người dịch:

    Có hai lý do chính thúc đẩy tôi dịch tác phẩm nầy. Thứ nhất là vì chúng ta biết ít về việc người Mỹ đã chiến đấu ở Việt Nam như thế nào. Tôi là nạn nhân trận đánh Tết Mậu Thân ở Huế, tuy có theo dõi và quan sát tình hình xảy ra tại chỗ và qua báo chí, đài phát thanh, cũng như trong thời gian phục vụ trong quân đội Việt Nam Cộng Hòa, làm phóng sự phát thanh, phục vụ trong ngành Cảnh Sát Quốc Gia, tại những vùng quê xa xôi hẻo lánh; tôi cũng không rõ lắm về những người lính Mỹ đã chiến đấu, chịu nguy hiểm, thương vong như thế nào.
    Có lẽ điều đó không riêng gì tôi mà thôi. Do đó, tôi dịch cuốn sách nầy để người Việt chúng ta thấy người lính Mỹ đã chiến đấu và hy sinh ra sao, đã giải phóng những vùng ở Huế bị Việt Cộng chiếm đóng và giết chóc đồng bào như thế nào.
    Ngày 9 tháng Giêng âm lịch Tết Mậu Thân, khi Thủy Quân Lục Chiến Mỹ đẩy quân Việt Cộng ra khỏi Bến Ngự, đồng bào khu vực nầy lánh nạn về trường Kiểu Mẫu Huế. Họ vui mừng biết bao nhiêu. Chính tôi cũng như bạn bè gặp lại nhau, mừng mừng tủi tủi, vì vừa thoát khỏi vùng tử địa. Chính gia đình của nhạc sĩ phản chiến Trịnh Công Sơn cũng từ khu nhà cho thuê của Giám Mục Ngô Đình Thục bên cạnh cầu Phú Cam cũng chạy về đây lánh nạn.
    Thứ hai là vì gần đây, trong cuộc tranh cử Tổng Thống Hoa Kỳ năm 2004, báo chí và truyền hình Mỹ nhắc lại quá trình hoạt động của ông John Kerry, Thượng Nghị Sĩ. Sau khi tham chiến ở Việt Nam về, ông John Kerry tham gia phong trào phản chiến ở Tiểu Bang Massachusetts, tố cáo rằng lính Mỹ ở Việt Nam đã bắn giết bừa bãi cả trẻ con, đàn bà, hãm hiếp phụ nữ và cướp bóc. Tất cả những gì mà quân đội viễn chinh Pháp (trong đó có người Ma-Rốc, Senegal, v.v…) đã làm trong cuộc chiến tranh Việt Pháp 1945-54, nay ông John Kerry đổ hết lên đầu những chú lính GI của Quân Đội Hoa Kỳ. Đó là một sự vu cáo trắng trợn, bôi đen Quân Đội Mỹ.

    Đọc lời dẫn nhập trong phần sau đây, độc giả sẽ thấy những người lính Mỹ sau khi tham chiến ở Việt Nam, họ phải gánh chịu một tình cảnh hẩm hiu và đáng thương như thế nào. Điều đó, một phần nào đó là do lỗi chính ở ông John Kerry và những người trong phong trào phản chiến của ông ta vậy.

    Massachusetts
    tháng 9/04
    tuệchương
    http://i57.tinypic.com/15cofgz.jpg


    Dẫn nhập
    So với cuộc chiến tranh nổi tiếng như Thế Giới Chiến Tranh thứ Hai mà Mỹ đã tham gia thì ngày nay, trận đánh ở Huế vẫn là một tên tuổi gần gũi. Hơn thế nữa, những người sống sót trở về, thay vì được hoan hô như những anh hùng, và những ai đã ngã xuống phải được tưởng nhớ, thì những điều ấy đã không thành hiện thực. Những người Mỹ từng chiến đấu ở Huế là một phần của một thế hệ kém may mắn, những người chính đất nước họ không thể tách rời chiến tranh ra khỏi chiến binh, và họ là những người bị xa lánh vì đã không từ chối khi trách nhiệm đến với họ. Tuy nhiên, đối với chiến tranh Việt Nam, một cuộc chiến không được dân chúng mong muốn, người dân Mỹ tuồng như quên rằng binh lính của họ đã từng chịu đựng nhiều nỗi gian khổ và thiếu thốn như những người đi trước họ, những người từng được tán dương mạnh mẽ trong Thế giới Chiến tranh thứ Hai.
    Cuốn sách nầy (The Battle for Hué) tập trung nói lên những nỗi gian khổ ấy, – một cuộc chiến tàn bạo, kéo dài suốt một tháng, đánh nhau từ nhà nầy qua nhà khác, chính yếu bằng ba đại đội thiếu quân số và thiếu trang bị, thuộc các tiểu đoàn bộ binh Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ (TQLC/ HK).
    Khi các người lính TQLC/ HK đang đánh nhau với kẻ địch ở Huế hồi ấy, tôi mới có ba tuổi. Khi lớn lên thì cuộc chiến đó càng lúc càng mờ nhạt, xa xôi mà người ta coi đó như là những gì xấu xa. Trong niềm im lặng ấy, – pha hợp phức tạp bằng vẻ khiếm nhã của các thầy giáo có trí óc cởi mở của tôi, khi nói về vụ Mỹ Lai, và với những cựu chiến binh nghiện ma túy và thần kinh rối loạn, – đã làm nảy sinh trong tôi sự yêu thích đề tài chiến tranh nầy. Điều làm tôi băn khoăn là nhiều đồng bào tôi chẳng thể chịu đựng được nhiều như thế, hoặc rất ít người quan tâm tới. Điều làm tôi băn khoăn nữa cũng là việc những người bỏ trốn qua Canada hay ở nơi nào đó, để khỏi tham gia chiến tranh Việt Nam, tán dương lòng nhân đạo của họ, trong khi những người không trốn chạy thì phải đối đầu với gian khổ và hiểm nguy một năm trong chiến tranh địa ngục Việt Nam, những người đó bị coi là đã bắn giết đàn bà trẻ em, nghiện hút và non nớt, dễ bịp.
    Tôi bắt đầu tìm kiếm tài liệu cho đề tài tôi ưa thích và tôi tìm được một nguồn tài liệu độc nhứt nhưng thực sự quan trọng: Những người từng có mặt tại trận chiến đó.
    Dĩ nhiên cuốn sách nầy được viết bằng cách phỏng vấn những người đó, là một câu chuyện lịch sử nói về thời điểm, chiến thuật, đơn vị, tiếp liệu và những gì đã tạo ra cuộc chiến ở Huế.
    Nhưng những tài liệu hữu ích của các cựu chiến binh nầy, còn có thể nói lên thêm vài điều nữa. Nó mô tả sự hiện hữu hằng ngày của các chiến binh TQLC trong trận chiến dài một tháng đó, những nỗi sợ hãi, chiến thắng, bạn bè mất mát, tình chiến hữu, chán nản và mệt mỏi. Tôi được may mắn nói chuyện với các vị chỉ huy trong trận đánh Huế, lại càng may mắn hơn được nói chuyện với những người lính bộ binh. Cuốn sách nầy hầu hết nói về họ, về trận chiến được nhìn bằng chính mắt họ vậy.
    Tôi vẫn thường nhớ ơn một cách sâu xa những cựu chiến binh đã giúp tôi hoàn tất tác phẩm nầy. Tôi cũng từng nói chuyện với những người không ở Huế, và tinh thần những cuộc nói chuyện đó được ghi lại trong sách nầy. Tôi có cơ may chuyện vãn với khoảng 3/4 cựu chiến binh tham dự trận đánh Huế. Một số những người đó, ngày nay là các tướng lãnh, mặc dù rất bận bịu, cũng dành thì giờ xem lại bản thảo của tôi, cũng như rà soát lại tin tức tôi có được. Những người khác, những người lúc ấy còn trẻ, đã giúp tôi công việc nầy, ngay từ khi bắt đầu và kéo dài suốt nhiều năm. Tôi xin cám ơn tất cả mọi người. Tôi xin bày tỏ lòng cám ơn sự giúp đỡ của họ cũng như niềm tin đã đưa tới một kết luận vững chắc.
    Các cựu chiến binh đặc biệt giúp đỡ hoàn thành cuốn sách nầy gồm có:
    -Tướng William C. Westmoreland (hồi hưu),
    -Tướng Foster C. LaHue (hồi hưu), tướng John J. Tolson (hồi hưu).
    -Đại tá Frank Breth, đại tá James Coolican, đại tá Marcus J. Gravel, đại tá Robert H. Hamilton (hồi hưu), đại tá Myron C. Harrington, đại tá Edward J. LaMontagne (hồi hưu), đại tá Wayne R. Swenson, đại tá Robert H. Thompson (hồi hưu).
    -Trung tá Gordon D. Batcheller, trung tá Terry Charbonneau, trung tá William Harvey, trung tá Ralph J. Salvati (hồi hưu)
    -Thiếu tá James V. DiBernardo (hồi hưu), thiếu tá Harold Pyle (hồi hưu).
    -Đại úy Dale A. Dye, William Dickman,
    -Trung sĩ Frank Thomas, trung sĩ Joseph L. McLaughlin (hồi hưu), trung sĩ Paul Thompson (hồi hưu), trung sĩ Josef Burghardt (hồi hưu), trung sĩ Richard W. Carter, trung sĩ Edward F. Neas, trung sĩ Steve Berntson (hồi hưu).
    -Thiếu úy Richard Lyons (hồi hưu), thiếu úy Patrick Polk (hồi hưu).
    -Hạ sĩ Dan Allbritton (hồi hưu), Peter Braestrup, hạ sĩ Bill Jackson (hồi hưu), hạ sĩ Edward Landry (hồi hưu), hạ sĩ Lewis C. Lawhorn (hồi hưu), hạ sĩ Brian Mayer (hồi hưu), George Schamberger (hồi hưu), và Don Webster.
    -Đặc biệt chân thành cám ơn Tướng O.K. Steele (ra trường cùng lớp và cùng năm 1956 với thân phụ tôi, William F. Nolan). Khi là đại tá, làm chỉ huy trưởng một đơn vị Hải Quân đóng tại Washington D.C. Năm 1981, Steele mời tôi đến sống hai tuần với gia đình ông ngay trong doanh trại quân đội. Đó là một cuộc thăm viếng kỳ lạ. Tướng Steele không những kể cho tôi nghe những hồi ức của ông về Huế, chỉ cho tôi thấy hướng thành công do TQLC đạt được, và sắp đặt cho tôi phỏng vấn Bill Harvey và Harold Pyle.
    -Cũng xin bày tỏ lòng cám ơn với Trung Tâm Tư Liệu Lịch Sử Binh Chủng TQLC tại Washington D.C., đã cung cấp cho tôi vô số tin tức cũng như tài liệu liên quan đến TQLC tại Việt Nam. Hai vị trong cơ quan nầy, tướng hồi hưu Edwin H. Simmons và Robert Skidmore đã tận tình giúp đỡ và khuyến khích tôi trong suốt mấy năm tôi tìm kiếm tư liệu ở đây./
    Keith W. Nolan
    Tháng Tám 1983



    http://i61.tinypic.com/2mmdafa.jpg

    Lời Nói Đầu

    Huế, cũng như Saigon, tới đêm thứ hai mới bị tấn công. Và cũng như Saigon, Huế chẳng chuẩn bị gì để đối phó với địch mặc dù được báo động trước một ngày. Dù vậy, những người bảo vệ Huế không đủ khả năng chống lại những người tấn công họ. Cộng Sản đã đạt được những điểm tựa vững chắc và hoàn thành mục tiêu của họ.
    Thực ra, Huế có hai thành phố: Khu Nội Thành, thường được gọi là Thành Nội Huế, là một pháo đài có tường thành bao bọc, theo kiểu hoàng thành Bắc Kinh. Một khu vực tường cao và vuông vức, mỗi cạnh dài khoảng hai dặm Anh, nằm bên bờ sông Hương, một thời là nơi sinh hoạt của các vị “hoàng đế An-Nam”. Ở đây có nhiều kiến trúc cổ và tôn kính, gồm cả kỳ đài Ngọ Môn và điện Thái Hòa. Một trong những ít ỏi đền đài văn hóa của người Việt Nam, bao bọc che chở bằng một tường thành cao mười sáu bộ và bề dày tường thành thay đổi từ sáu mươi đến trên hai trăm bộ.
    Tướng Ngô Quang Trưởng (năm 1968 là đại tá – ngd), Tư Lệnh Sư Đoàn 1, làm lễ thượng kỳ tại thành Mang Cá, (bộ Tư Lệnh Sư Đoàn) vào sáng ngày 30 tháng Giêng dương lịch, để kỹ niệm ngày đầu năm âm lịch. Ngay sau đó, ông ta nhận được nhiều tin dữ, báo cho biết quân Cộng Sản tấn công nhiều nơi trong nước. Một cách thận trọng, nhưng không biểu lộ lo lắng quá đáng, ông ra lệnh báo động toàn sư đoàn và chỉ thị cho quân nhân phục vụ tại Bộ Tư Lệnh cấm trại đêm hôm đó. Hành động cẩn mật nầy làm cho Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn không bị thiệt hại gì và toàn bộ sư đoàn không rơi vào tình trạng đột ngột. Mặc dù tướng Trưởng không biết, nhưng đặc công Cộng Sản đã xâm nhập vào thành phố từ hai ngày trước và đang chờ hai trung đoàn Cộng Sản từ bên ngoài tấn công vào.
    Những trung đoàn nầy, trung đoàn 5 do trung tá Nguyễn Vân chỉ huy, và trung đoàn 6 do trung tá Nguyễn Trọng Dần chỉ huy, bí mật tiến về Huế trong lúc tướng Trưởng làm lễ chào cờ đầu năm. Nhìn chung, tám tiểu đoàn của hai trung đoàn nầy, gồm bảy ngàn rưởi binh lính, kể chung cả quân Việt Cộng Miền Nam và Cộng Sản Bắc Việt (CSBV) đảm nhận việc đánh chiếm thành phố Huế.
    Vào khoảng hai giờ sáng, binh lính của Dần, nhờ sương mù dày đặc và hướng dẫn viên đưa vào thành phố đã bí mật tới được vùng ngoại ô Huế, rồi tiến thẳng vào mục tiêu: Thành Nội Huế.
    Vào lúc 3giờ 40 phút sáng họ tiến tới một khu vực, làm cho lính canh hoảng hốt, ngạc nhiên, và tức khắc quân Cộng Sản thiết lập được một đầu cầu. Trong khi đó, binh lính trung đoàn 5 của trung tá Vân, bị trì hoãn vì lọt vào một cuộc phục kích của Quân Đội VNCH. Họ phải vội vàng chống trả một toán quân nổi tiếng thiện chiến. Vì vậy, tới sáng, hai trung đoàn chỉ chiếm được có một phần Thành Nội. Họ không thể chiếm toàn bộ khu nội thành mà phải chia phần trong với những người lính chiến đấu một cách dũng cảm của tướng Trưởng. Khoảng hai tiểu đoàn quân số và trang bị đầy đủ chiếm đóng phần trọng yếu trong Thành Nội. Trong khi hai tiểu đoàn nầy lo củng cố vị trí mới chiếm được thì các tiểu đoàn khác củng cố vị trí của họ bên ngoài thành phố, đặc biệt ở khu hữu ngạn (phía nam) sông Hương. Tới 8 giờ sáng, các sĩ quan Đồng Minh cảm thấy buồn phiền khi một lá cờ to của Cộng Sản ngạo nghễ bay trên cột cờ Ngọ Môn.
    Ngay lập tức, lực lượng Đồng Minh phản công.
    Hải Quân Mỹ, quân Nhảy Dù, Thiết Giáp Việt Nam Cọng Hòa cố gắng đánh bật quân Cộng Sản ra khỏi thành phố. Họ thất bại. Cố gắng đầu tiên của họ trở thành một mô hình. Ngày hôm sau, các đơn vị Đồng Minh nổ lực đẩy quân Cộng Sản ngoan cố ra khỏi Thành Nội và nới lỏng việc nắm giữ chặt chẽ vùng phụ cận. Tuy nhiên, họ thấy tình hình khó khăn đến nỗi không thể không gánh chịu thương vong nặng nề. Họ cũng hết sức miễn cưỡng phải xử dụng các loại vũ khí có sức tàn phá lớn tại đây, trung tâm văn hóa mà địch quân đã đào hào đắp hố để chống cự. Kết quả là một cuộc chiến đấu căng thẳng, đánh cận chiến qua từng nhà một, vô cùng đẫm máu và kéo dài.

    Rút từ “Summons of the Trumpet”
    Dave Richard Palmer, Presidio Press, 1978 trang 192-93



    http://i60.tinypic.com/33ww9bs.png

    Chương 1

    Ra Trận: từ Phú Bài đến Huế

    Người lính Thủy Quân Lục Chiến (TQLC) đã chết, đầu lắc lư, lọt ra khỏi chiếc xe Jeep đang chạy ngang toán lính đi trên con đường bụi mù, tên gọi là Quốc Lộ (QL) 1.
    Rich Carter đứng bên đường nhìn theo chiếc xe Jeep biến mất trong bóng đêm ở cuối đường. Quân địch phục kích toán tiền phong của đại đội, giết tiền sát viên, làm bị thương ba người khác. Bây giờ địch quân biến mất, lẫn vô rừng và đêm đen. Bao giờ cũng vậy, kể từ khi Carter về đại đội nầy ba tháng trước, bọn họ không mấy khi thấy địch. Họ chỉ thấy có mìn, bẫy, bắn sẻ, và phục kích; họ thất vọng. Chiến tranh kiểu đó không phải là điều Carter muốn. Carter vào TQLC một tuần sau khi rời trường cấp ba ở Carteret, New Jersey vì bố anh ta là một TQLC, chú anh ta cũng vậy. Mười tám tuổi, anh ta tin chiến tranh, – và anh ta cũng muốn giống như những người đi trước.
    Carter đến Việt Nam với đầy nỗi lo ngại, kích động và niềm chua chát của một người lính mới bộ binh. Nhưng rồi mọi sự cũng tới. Những lần tuần tiểu đẫm mồ hôi trên những đám ruộng lúa nắng cháy và những hàng cây xanh bên bờ sông An-Hòa, những cuộc hành quân bình định, đưa dân lên các toa xe, – đàn bà thì khóc, trẻ con thì la hét – rồi đốt cháy các xóm nhà lá. Việt Cộng thì ở khắp nơi nhưng ít khi thấy họ. Carter đã trải qua một đêm tuần tiểu, ngồi trong rừng đêm ẩm ướt, trong khi vài con ma vô hình nào đó tới hét vào mặt anh: Tên độc ác, tối nay mày chết. Có một đêm, toán phục kích của anh bắn chết một Việt Cọng vô tình di chuyển trên đường mòn; tới sáng, cái xác biến mất. Một lần khác, bọn họ lục soát một căn nhà và thấy chiếc nhẫn của một TQLC đã chết. Anh thấy có ba cái bẫy. Trời, những cái bẫy nầy! Lựu đạn buộc vào giây thép giăng ngang, che bằng lon thiếc đựng đồ ăn phần C, buộc với bom hay đạn đại bác không nổ hoặc mìn 30 pound. Tuồng như ở đâu cũng có mìn bẫy. Một hôm, ở trong rừng, Carter nghe một tiếng nổ thiếu đường điếc tai; rồi có tiếng la khiếp đảm: “Y tá lên trước.” Một trái đạn đại bác 155ly ngụy trang phát nổ. Chín TQLC chết. Ngày hôm sau, một TQLC đi dưới hàng cây, dọc theo một con đường nhỏ. Đất dưới chân như nổi sóng, có cái gì đập vào đầu Carter, và khi anh ta lắc đầu cho tỉnh thì anh ta thấy chiếc giày của một người lính văng tới bên cạnh. Chiếc giày đang cháy và bốc khói mà cái chân thì vẫn còn ở trong giày. Anh lính còn ở trên đường mòn, kinh hãi la lên vì thấy chân mình còn mắc trong đất như đóng cọc. Từ đầu gối trở xuống, hai chân anh ta bay mất.
    Chiếc xe Jeep chở xác đi rồi. Toán lính xuống đường và bắt đầu bố trí. Họ đào hố cá nhân, đặt mìn claymore chung quanh và chia nhau canh gác. Hạ sĩ Richard Walter Carter thuộc toán súng máy Trung Đội 3, Đại Đội Fox, Tiểu Đoàn 2, Trung Đoàn 5, Sư Đoàn 1 TQLC; ai nấy ở trong hố cá nhân, cố ngủ một chút giữa đám muỗi vo ve và những âm thanh rền rĩ của đêm đen.
    Đó là đêm 30 rạng ngày 31 tháng Giêng/ 1968.
    Còn mấy tiếng đồng hồ nữa thì trận đánh Huế năm Mậu Thân bắt đầu.
    Hôm đó, phòng theo dõi truyền tin ở căn cứ Phú Bài trên Quốc lộ 1, phía nam Huế, bắt được làn sóng truyền tin của địch cho biết địch sẽ tấn công vào thành phố Huế. Theo thủ tục, tin điện bắt được nầy không gởi thẳng cho Huế mà báo cáo cho bộ Chỉ Huy Cao Cấp ở Đà-Nẵng để ghi nhận và phân tích. Cùng lúc, tin nầy cũng gởi cho Huế bằng teletype.
    Đại úy James J. Coolican, một sĩ quan TQLC tài ba, làm cố vấn cho đại đội Hắc Báo Sư Đoàn 1 Bộ Binh (BB) Việt Nam Cọng Hòa (VNCH), lo ngại vì tình hình có vẽ khác thường. Hôm qua, 29 tháng Giêng, Đại Đội Hắc Báo của ông được xe GMC đưa từ vùng Phi Quân Sự về hậu cứ sau mấy cuộc hành quân ở đó. Tết, năm mới âm lịch – năm 1968 là năm con khỉ – một người Mỹ như ông muốn được hưởng những ngày nghỉ – như người ta thường nói – ngày sinh nhựt, lễ Giáng Sinh, lễ Độc Lập, cứ tiếp nối như vậy… Theo thông lệ, hai bên cùng tuyên bố tạm thời ngưng bắn. Tuy nhiên, trên đường rút quân về chỗ tạm nghỉ, Coolican thấy đường đi rất ít người, chẳng có ai chen lấn, hối hả lo về nghỉ Tết. Có vẻ gì bất thường. Đại úy Coolican biết như thế có nghĩa là địch sắp tấn công.
    Nhưng họ sẽ tấn công vào lúc nào và ở đâu?
    Bên trong thành phố Huế, tại Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 1, Tướng Trưởng (thật ra lúc đó ông Ngô Quang Trưởng còn mang cấp bậc đại tá – ngd) Tư Lệnh Sư Đoàn cũng thấy có điều không ổn. Bộ Tư Lệnh Cao Cấp của Tướng Westmoreland ở Saigon ra lệnh đình chỉ lệnh ngưng bắn theo truyền thống sau khi địch tấn công vào 8 thành phố. Tướng Trưởng là sĩ quan giỏi nhất Quân Lực VNCH. Để đề phòng, ông tập trung tất cả các sĩ quan tham mưu lại trong Bộ Tư Lệnh, ra lệnh báo động trăm phần trăm, và cũng ra lệnh báo động cho các đơn vị đóng bên ngoài thành phố. Dù vậy, một nửa quân nhân của sư đoàn đã được nghỉ phép Tết, hầu hết họ có gia đình ở Huế. Tin tình báo cho biết lực lượng địch khoảng 2 trung đoàn đang tập trung ở phía tây, cách Huế 40 cây số. Ở phía nam Huế, địch quấy rối quận Phú Lộc, vì vậy Tướng Trưởng nghi rằng địch sẽ tấn công Phú Lộc, cố gắng cắt đứt Quốc lộ 1. Ông cho một tiểu đoàn triển khai tác chiến ở vùng nầy.
    Tướng Trưởng tiên liệu một cuộc tấn công có thể xảy ra ở xa, và chẳng có dấu hiệu gì Huế sẽ là mục tiêu địch tấn công cả. Đối với người Việt, Bắc cũng như Nam, Huế là thành phố thiêng liêng, vì Huế một thời là kinh đô của Đế Quốc Việt Nam. Trong lịch sử hàng trăm năm đẫm máu của xứ nầy, hai lần Huế là nạn nhân. Lần đầu tiên là vào năm 1883, (1) khi quân Pháp tấn công, trước khi chiếm kinh đô; lần thứ hai là vào năm 1945, khi du kích Cộng Sản cố đè bẹp quân Pháp mà không thành. Thực ra, Huế rất hiền hòa, yên tĩnh. Người ta biết sĩ quan QĐ/ VNCH phải chịu hối lộ mới được đổi về làm việc ở Huế.
    Huế là thành phố lớn thứ ba ở Nam VN, dân số 140 ngàn người, nằm cách bờ biển khoảng mười cây số, và cách Khu Phi Quân Sự, nơi có nhiều trận đánh dữ dội một trăm cây số. Huế là thủ phủ của tỉnh Thừa Thiên. Huế có hai phố, cách nhau bằng sông Hương, sông nầy chảy ra biển.
    Trên bờ Bắc là khu thành cổ, rộng ba cây số vuông, có các bờ thành bao bọc chung quanh. Thành nầy do một nhà quân sự Pháp và Hoàng Đế Việt Nam vẽ kiểu xây vào khoảng đầu những năm 1800. Chung quanh thành có hào sâu, nước xanh, trồng sen và hết khu nầy đến khu khác là những hàng cây xanh. Trong nhiều thế kỷ trước, chính trong những bức trường thành nầy, hoàng đế cai trị đất nước.
    Bên kia hoàng thành, phía bờ nam là khu trú dân, mới hơn. Khu nầy lớn bằng nửa khu hoàng thành và hơi giống hình tam giác, sông Hương ở cạnh bắc; sông đào An Cựu (2) từ sông Hương chảy vào, vòng xuống phía Nam làm thành hình chữ V.
    Về mặt quân sự, Huế là thành phố quan trọng. Đường xe lửa và Quốc Lộ 1 chạy ngang qua thành phố nầy, vượt qua sông Hương, mang đồ tiếp liệu từ Đà Nẵng tới khu Phi Quân Sự, và cũng có một điểm tiếp liệu Hải Quân vận chuyển bằng tàu nhỏ từ Huế ra biển. Tuy vậy, thành phố lại khó giữ an ninh. Trong thành nội, góc thành phía bắc là Bộ Tư Lệnh của Tướng Trưởng có thành bao bọc chung quanh. Tại đây, không có đơn vị tác chiến, chỉ có bộ tham mưu và lính phòng vệ. Bên kia sông, phía nam là bến tàu Hải Quân Mỹ, nơi chuyển vận hàng tiếp liệu. Cách khoảng mấy trăm mét là cơ quan Phân Bộ Cố Vấn Quân Sự Mỹ, (MACV) do đại tá George O. Adkisson là cố vấn cao cấp của Sư Đoàn 1 BB/ VNCH chỉ huy. Khu MACV gồm vài tòa nhà, gồm cả một khách sạn (Khách sạn Thuận Hóa,- ngd) được sửa chữa lại, có tường bao chung quanh. Toán Cố Vấn Quân Sự số 3 sống thoải mái ở đây.
    Về lịch sử, Huế chưa bao giờ là một trung tâm quân sự nhưng lại là một thành phố nổi tiếng. Đó là trung tâm văn hóa Việt Nam, một nơi để học, để hồi tưởng truyền thống và giá trị của thời quá khứ. Huế được người ta biết tới vì có thành cổ, hoàng thành và lâu đài cung điện, với những cái tên như là Đại Nội, Tử Cấm Thành, điện Thái Hòa. Huế nổi tiếng với những khu vườn sum suê hoa trái, các hào thành chung quanh, cung điện sơn son thếp vàng, những công trình bằng đá đẻo phức tạp, mỹ thuật. Ở bờ nam có viện Đại Học, tòa Hành Chánh xây theo kiểu Pháp, Câu Lạc Bộ Thể thao có nhiều bãi cỏ rộng chạy dài tới bờ sông, và hàng hiên xây theo kiểu 1930. Huế có những con đường hai bên là hai hàng cây xanh, có tiếng chuông chùa, những kiến trúc thanh nhã kiểu Pháp Việt, và các nữ sinh mặc áo dài trắng bay theo gió, có mái tóc đen như lụa. Theo huyền thoại Phật Giáo, Huế là đóa sen mọc trong bùn, Huế là thành phố đẹp, thanh bình trong một đất nước đang có chiến tranh.
    &
    Đại úy Coolican cao 6 fít rưởi, là một người to con, quê ở vùng than đá Carbondale, Pennsylvania và khi ở mặt trận, ông ta như cái tháp che khuất các người lính Việt Nam nhỏ con. Có một điều đáng để ý giữa họ với nhau là trong thời gian 9 tháng làm cố vấn cho Sư Đoàn 1 BB/ VNCH, ông ta trở thành người của họ. Ông ta nói tiếng Việt, mặc đồng phục của họ, ăn cơm Việt, và khi bệnh hay bị thương thì được y sĩ Việt Nam điều trị. Ông ta biết văn hóa của người Việt và nể tài chiến đấu của họ. Coolican yêu người miền Nam Việt Nam.
    Ông ta buồn bã nhận ra rằng ông là người thiểu số trong đám chiến hữu quanh ông. Nhìn chung, quân nhân Mỹ thường có cái nhìn chiếu cố đến người Việt, đặc biệt ở trong Quân Đội VNCH. Về phần Coolican, như tất cả các người Mỹ khác, cố gắng nhận xét mọi việc, mọi người, theo quan điểm của người Mỹ, chẳng biết gì về lịch sử và truyền thống người Việt Nam cả. Chẳng hạn như một anh lính Mỹ trẻ thường thấy người Việt Nam đưa tay lên thì cho rằng anh ta đang chiến đấu cho một đất nước đồi trụy, anh ta đâu có biết rằng lối đưa tay như thế là tỏ dấu bắt tay với người Mỹ. Hoặc như một lần Coolican chứng kiến, một đoàn xe Mỹ chạy ngang qua một làng quê, và thấy Nghĩa Quân rỗi rãi ngồi quanh với nhau tán chuyện gẫu, có người chẳng có súng ống gì cả, thì kết luận rằng người lính Việt Nam vô tích sự – và chưa bao giờ thấy Quân Đội VNCH đang hành quân. Cách nhìn như vậy hạn chế vì chưa từng trải kinh nghiệm, làm phiền Coolican không ít. Ông ta thấy người lính miền Nam hết sức can đảm, chiến đấu khéo léo, và luôn luôn sẵn sàng chống địch.
    Đầu tiên là một cú sốc văn hóa có tác động đến ông ta. Trong một trận đánh từ nửa đêm tới sáng xảy ra phía nam Quảng Trị, khi ông ta còn ở Tiểu Đoàn 2, Trung Đoàn 3; ông tiểu đoàn trưởng là một người can đảm và nổi tiếng giỏi, bị tử trận. Tới sáng, Coolican cho xếp thi hài những người tử trận bên đường chờ trực thăng tới bốc đi, thì ông ta bị kích động vì thấy lính tráng ngồi bên cạnh các xác chết một cách tỉnh bơ, ăn cơm, uống trà và nói đùa với nhau. Ông ta nói với một trong các sĩ quan trong tiểu đoàn rằng ông ta lấy làm lạ chẳng ai lưu tâm tới cái chết của cấp chỉ huy họ cả. Một người trả lời ông ta: “Dễ hiểu thôi, tại sao chúng tôi lại phải buồn. Ông ta là một người tốt, một người can đảm. Ông ta sống một đời tốt đẹp, chết một cách anh dũng thì gia đình ông ta phải tự hào chớ. Chết là số phận, ông ta thấy hạnh phúc cho số phận mình. Vì vậy, thay vì than khóc cho ông thìchúng tôi hân hạnh vì ông ấy.” Coolican cũng biết thêm rằng người Việt thường làm đám ma lớn để vinh danh cho người chết. Khi đánh nhau, người ta thường chuyển người chết đi sau khi cho tải thương những người bị thương nặng. Hoa Kỳ thì khác, người chết được chuyển đi sau cùng. Phải nhiều tháng ông ta mới quen cảnh sống như người Việt Nam. Họ có thể làm những điều khác ông, Coolican nghĩ vậy, nhưng cuối cùng thì cũng giống nhau cả vậy thôi.
    Bởi vì hiểu được văn hóa Việt nên ông ta biết những ngày nghỉ Tết quan trọng đối với binh lính của ông như thế nào. Coolican, một người ngoại quốc, cảm thấy phải tham gia cùng với lính khi ngày lễ tết bắt đầu. Thấy có vài sĩ quan tham mưu, cố vấn và người lính truyền tin của toán Cố Vấn số 3 đang làm việc tại cơ quan MACV của đại tá Adkisson nên Coolican dự định vui tết với lính. Ông ta chào từ biệt các người trong nhóm rồi lên xe Jeep tới bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 1/ BB.
    Ông ta tính lái xe vô Thành Nội, đèn xe cắt một vệt sáng qua bóng đêm đen. Và Coolican dừng lại trước khi cho xe vượt qua chiếc cầu bắc ngang sông Hương (Cầu Trường Tiền – ngd). Coolican xuống xe, đứng yên lặng và nhìn quanh. Đêm thật đẹp và êm đềm, (trăng cao và sáng) (3). Cây bên bờ sông hiện thành bóng đen dài. Tuồng như chẳng có ai chung quanh.
    Bên dưới cầu nước đen và lóng lánh, dưới ánh vàng của bóng trăng, sóng vỗ vào mạn thuyền bập bềnh dưới chân cầu. (4)
    &
    Phía hạ lưu, cách phía tây nam thành phố khoảng 4 cây số, trung úy Tân, một cấp chỉ huy Đại Đội Thám Báo của Sư Đoàn 1 đang ngồi với cố vấn của anh ta, một người thuộc Quân Đội Úc, WO2 Terry Egan và 36 binh lính. Họ đang ở gần bờ sông và theo dõi tình hình. Họ núp trong bóng đêm, chờ đợi và quan sát một cách lặng lẽ. Bất thần lúc 10 giờ đêm, súng nổ ở phía đông. Một đơn vị quân Cộng Sản Bắc Việt (CSBV) tấn công một đại đội địa phương quân. Họ nghe hai bên bắn qua lại rồi thấy bóng người di chuyển trong hàng cây. Trung úy Tân và Egan gọi điện báo cáo vị trí, quân số và trang bị của địch cho bộ tham mưu của tướng Trưởng. Họ ngồi trong bóng đêm im lặng quan sát địch quân thấm nhập qua phòng tuyến của họ. Ít ra có khoảng hai đại đội địch đang hướng về Huế.
    Một giờ bốn mươi phút sau khi trung úy Tân báo cáo tin tức địch về bộ Tư Lệnh Sư Đoàn, vào lúc 3giờ 40 sáng ngày thứ Tư 31 tháng Giêng/1968, quân CSBV và Việt Cộng tấn công thành phố Huế. Hỏa tiển và súng cối từ những ngọn đồi ở phía tây bắn xuống thành phố. Hỏa châu bừng sáng chiếu lên các mái nhà. Bộ binh CSBV tiến theo sau, vượt qua các cây cầu và tiến vào thành phố. Bên trong, một số Cộng quân thâm nhập vào trước bằng các phương tiện vận chuyển dân sự, nay thay quần áo binh lính, lấy súng cũng như tiếp liệu đạn dược, được bí mật chuyển vào thành phố từ trước.
    Tại MACV ở bờ nam sông Hương, quân địch chỉ mới tấn công cửa chính. Một phi công vừa mới thực hiện chuyến bay quan sát về, đáp xuống phi trường trong Thành Nội (người Huế gọi là phi trường Tây Lộc hay phi trường Thành Nội – ngd) lái xe về tới cổng thì bị quân CSBV bắn. Khoảng một chục hỏa tiễn 122 ly từ trong bóng tối rít lên, bay vào, đào thành những cái hố sâu khoảng 8 bộ, một trái đạn phá một lỗ trên mái tòa nhà Trung Tâm Hành Quân (TOC), giết và làm bị thương mấy người bên trong, trong khi một trái khác thì phá hỏng một chiếc xe Jeep. Nhiều trái khác thì may mắn vì hỏa tiển bay quá hay không tới mục tiêu. Ngay những trái nổ đầu tiên, binh lính trong doanh trại đã ra ngay tuyến phòng thủ.
    Hỏa tiễn ngưng rót vào. Vì một vài lý do nào đó, có một khoảng thời gian chừng 5 phút yên lặng trước khi quân CSBV tấn công. Năm phút nầy đủ cho binh sĩ chụp lấy súng đạn và chiếm vị trí của họ dọc theo bờ tường. Khoảng bốn chục lính CSBV từ những tòa nhà chung quanh MACV nổ súng dữ dội. Họ ôm theo chất nổ chạy tới các bức tường bao quanh MACV. Một anh binh nhì trẻ người Mỹ đứng trên tháp canh cao làm bằng gỗ nã súng máy vào chỗ các bức tường bị sập. Anh ta hạ khoảng năm sáu lính CSBV và làm cho cuộc tấn công chậm lại khoảng 5 phút. Rồi B-40 và lựu đạn bắn vào tháp canh. Bị thương nặng ở chân, anh ta la cầu cứu. Coolican bò tới chỗ tháp, dưới hỏa lực của địch, đem anh binh nhì xuống được.
    Một trung đội CSBV tiếp tục tấn công, chiếm được cổng chính. Các TQLC (thuộc đơn vị an ninh ở Đà-Nẵng) tăng cường cho toán công sự giữ cổng chính, chận đứng được sức tấn công của địch mấy phút trước khi họ bị bắn bằng một quả B-40. Súng ở phía bờ tường bắn vào dữ dội. Coolican cùng binh lính núp sau chướng ngại bắn trả bằng cả súng M-79.
    Việc anh binh nhì trên tháp canh và toán công sự phía cổng chính chặn được địch mấy phút đã giúp thiếu tá TQLC Frank Breth và người ở cùng phòng thuộc quân đội Úc lên được trên tầng lầu chót. Họ mang theo súng và lựu đạn. Breth bị thương – trái hỏa tiển bắn trúng xe Jeep, làm sập mái nhà, rơi trúng đầu ông ta khi đang ngủ, thủng một chỗ trên trán, nhưng ông ta kịp thời băng bó và bây giờ đã sẵn sàng đánh trả. Phía dưới đường, cách khoảng 40 bộ, ông ta thấy mấy lính CSBV còn sống – Họ có khoảng 16 người – cố gắng vượt qua cổng chính. Bọn họ mang chất nổ. Breth đảm trách chức vụ sĩ quan liên lạc tại MACV giữa Sư Đoàn TQLC Mỹ và Sư Đoàn 1 BB/VNCH, nhưng trước đó, ông ta phục vụ tại Cồn Tiên và bị thương khi làm đại đội trưởng nên có nhiều kinh nghiệm chiến đấu. Trong ánh sáng mờ mờ ông ta dùng M-16 quét sạch người lính CSBV nào vượt qua khỏi cổng chính, trong khi đồng đội của ông thì quăng hết trái lựu đạn nầy đến trái lựu đạn khác. Bên dưới xác địch trải dài ra từ cổng chính vào tới bên trong.
    Địch chấm dứt cuộc tấn công bộ.
    Quân CSBV chiếm các ngôi nhà chung quanh MACV, đặt súng máy tại các cửa sổ, bắn vào dữ dội. Hỏa tiển B-40 và súng cối cũng được xử dụng mạnh mẽ.
    MACV không phải là một doanh trại, không trang bị vũ khí. Bên cạnh người Mỹ có một nhóm sĩ quan Úc chiến đấu giỏi. Họ có trữ vũ khí và đạn dược cho các cuộc hành quân dã ngoại. Nhờ vậy, mọi người được trang bị đầy đủ và sẵn sàng. Họ nghe súng nổ mọi phía nhưng quân CSBV không mở cuộc tấn công trực tiếp vào MACV nữa. Đại úy Coolican chẳng có cách nào trở về ngay tức khắc bên bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 1 BB/ VNCH ở trong Thành Nội. Ông ta chứng tỏ là một người chủ biết tổ chức an ninh cho doanh trại. Ông ta thu gom binh lính rải rác lại, và với sự trợ giúp của trung úy Steve Lampo, TQLC/ Hoa Kỳ, và trung úy Fred Drew, quân đội Mỹ, họ chia ra canh gác, tuần phòng và chuyển thương binh vào trạm xá.
    Đại úy bác sĩ Stephen Bernie đóng ngay trong MACV, đang làm việc hết sức căng thẳng. Cần phải chuyển những người bị thương nặng tới một nơi có trang bị đầy đủ dụng cụ y khoa hơn. Có một trung tâm truyền tin dưới đường phố, cách MACV một lô nhà, không hiểu sao địch không chiếm nơi nầy. Do đó, việc liên lạc với bên ngoài vẫn còn tiếp tục. Yêu cầu cho trực thăng di tản thương binh được gởi ngay cho Bộ Chỉ Huy Cố Vấn Quân Đoàn 1 ở Đà-Nẵng, qua lực lượng đổ bộ TQLC III và Sư Đoàn 1 TQLC. Kết quả lời yêu cầu phải gởi quanh co như thế là: Chẳng có kết quả nào. Binh lính trong MACV cũng yêu cầu tiếp viện ngay tức khắc. Họ đang bị cô lập và khả năng liên lạc với Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 1 BB/ VNCH cũng bị cắt nên họ không rõ những gì đang xảy ra trong Thành Nội. Kết quả lời yêu cầu của họ là chỉ có một ít tin tức tình báo. Họ không biết địch tấn công toàn quốc vào dịp Tết, ngay họ cũng không biết toàn bộ thành phố Huế bị địch chiếm hoặc họ biết cuộc tấn công nầy dữ dội nhưng hạn chế. Họ không biết như thế thật, nhưng hầu hết mọi nơi trong thành phố, quân CSBV và Việt Cọng muốn đi đâu thì đi, vượt qua các xác chết của binh lính VNCH, và bắt đầu đào hầm hố, thiết trí súng máy và súng cối trong nhà dân. Tất cả mọi người dân Huế đều ở trong nhà, đóng kín cửa, bối rối và lo lắng. Trên bức trường thành trong Đại Nội, bên bờ sông Hương, một lá cờ xanh đỏ vàng của Việt Cọng treo trên cột cờ Ngọ Môn.
    Chỉ trong mấy tiếng đồng hồ, địch chiếm được thành phố.
    &
    Hạ sĩ Carter đang ở trong hố cá nhân thì bị đánh thức dậy. Một người nói: “Tụi mình có lệnh báo động trăm phần trăm.” Carter ngồi dậy, cằn nhằn: “Mày chẳng nể gì tao. Tao mới ngủ một chút.”
    Người tiểu đội trưởng cho biết bọn “Cùi” tấn công mọi chỗ. Có tin đồn Huế đã mất. Từ vị trí đại đội trên đỉnh đồi, Carter nhìn chăm chăm xuống thung lũng. Anh ta thấy nhiều vệt xanh đỏ nổ lốp bốp tới lui nơi đơn vị hỗn hợp Việt Mỹ đang trấn giữ một ngôi làng. Xa hơn nữa, anh ta có thấy các đốm lửa lòe sáng lên: Căn Cứ Phú Bài đang bị pháo kích bằng hỏa tiển.
    Anh ta nghĩ: Ngày Tết thiêng liêng cái xái bò gì.
    &
    Bộ Chỉ Huy chính ở căn cứ Phú Bài là Lực Lượng Đặc Nhiệm (LLĐN) X-Ray, được gọi một cách chính thức hơn là Bộ Chỉ Huy Tiền Phương Sư Đoàn 1/ TQLC. Bộ Chỉ huy nầy được thành lập hôm 13 tháng Giêng vì trách nhiệm khu chiến thuật của Sư Đoàn được mở rộng, từ nam Đà-Nẵng tới gần bắc Huế. X-Ray chịu trách nhiệm khu vực từ đèo Hải Vân tới biên giới phía bắc của TAOR (Tactical Area Of Responsibility), có nhiệm vụ bảo vệ căn cứ Phú Bài, kiểm soát khu phía tây Huế và bảo vệ Quốc Lộ 1 từ đèo Hải Vân cho tới Huế. Đơn vị của các sư đoàn đã di chuyển vào khu vực, giải nhiệm cho các đơn vị của Sư Đoàn 3/ TQLC để các đơn vị nầy chuyển ra khu chiến thuật nằm phía nam Khu Phi Quân sự. Trên thực tế, Bộ Chỉ Huy Lực Lượng Đặc nhiệm X-Ray đảm nhiệm khoảng trống do Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 3/ TQLC di chuyển để lại.
    Tư lệnh Lực lượng Đặc nhiệm là tướng Foster C. LaHue, phụ tá Tư lệnh Sư đoàn 1/ TQLC. Ông ta là một cựu chiến binh Thế Chiến Thứ Hai được thưởng huy chương Anh Dũng Bội Tinh Ngôi Sao Bạc và Chiến Thương Bội Tinh. Tại Phú Bài, ông ta là cấp chỉ huy của hai trung đoàn 1 và 5/ TQLC, bốn tiểu đoàn bộ binh, toàn bộ các đơn vị yểm trợ gồm thiết giáp, pháo binh, quân vận, công binh và quân y. Tướng LaHue được đặt dưới quyền chỉ huy của Sư Đoàn (tướng Donn J. Robertson), Lực Lượng Đổ Bộ TQLC III (tướng Robert E. Cushman), toàn bộ khu vực hành quân, Quân đoàn I, dưới quyền kiểm soát của Nam Việt Nam đặt ở Đà-Nẵng: Trung tướng Hoàng Xuân Lãm. Tại Phú Bài, sáng ngày 31 tháng Giêng, tin điện báo cáo được tới tấp đưa vào trình ở Bộ Chỉ Huy của tướng LaHue. Hoạt động của địch được Khu Chiến Thuật báo cáo: Các làng mạc đều bị tấn công, địch đánh phá các cầu trên Quốc Lộ 1, các vị trí của TQLC bị pháo bằng súng cối, các đơn vị hỗn hợp Việt-Mỹ bị địch quấy rối, tin tình báo cho biết địch sẽ tấn công thêm vài nơi và các đơn vị TQLC dưới quyền chỉ huy của tướng LaHue đang gặp đe dọa, nhưng không ai nắm chắc mục tiêu và cường độ tấn công của Cộng Sản. Chỉ là mới bắt đầu cuộc tấn công toàn diện vào dịp Tết, cùng một lúc, địch xuất hiện khắp nơi. Và người ta cũng đồn thành phố Huế bị bỏ ngõ. Lời kêu cứu xin tiếp viện của MACV đi lòng vòng tới Quân đoàn I, sau khi qua các đơn vị hữu trách, cuối cùng tới X-Ray. Khi bức điện kêu cứu đó tới tay tướng LaHue thì hình hình đã khác đi nhiều và cũng không biết chắc tình hình ở Huế lúc đó như thế nào nữa.
    Lệnh từ Lực Lượng Đổ Bộ III yêu cầu gởi binh sĩ tăng cường Huế, nhưng tướng LaHue chỉ gởi một đại đội có thể sẵn sàng tiếp viện cho Huế mà thôi.
    Chẳng ai biết hành động bằng cách nào. Nhưng phía địch ở Huế thì đã tập trung các tiểu đoàn 804, K4B, và K4C của trung đoàn 4 CSBV, các Tiểu đoàn 800 và 802, 806 của Trung Đoàn 6/ CSBV, Tiểu đoàn 810 độc lập của CSBV, Tiểu đoàn 12 và Tiểu đoàn đặc công Cổ-Bi. Đó là một lực lượng cở sư đoàn, kiểm soát mọi nơi trong thành phố, ngoại trừ MACV và Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 1/ BB.
    Lực lượng chống Cộng Sản gồm có Đại Đội A của Tiểu Đoàn 1, Trung Đoàn 1, Sư Đoàn 1/ TQLC. Họ tiến thẳng trên Quốc Lộ 1, con đường được đặt tên là “dãy phố buồn thiu” (5) vì nhiều người Pháp đã bỏ mình ở đây trong nhiều năm trước.
    Alpha 1/ 1 là đơn vị được trang bị đầy đủ mà phần lớn là nhờ ông đại đội trưởng, đại úy Gordon D. Batcheller, một người to cao, khiêm tốn, thông minh và nghiêm nghị, mà vì khí hậu Việt Nam khó chịu vì ẩm ướt, nên ông ta cạo đầu trọc lóc.
    Hai mươi tám tuổi, đại úy Batcheller sinh ở Boston, con thứ hai trong một gia đình có ba người con trai của một đô đốc hải quân. Khi còn trẻ, anh ta chẳng ưa đời lính vì hay di chuyển, phân ly, chẳng bao giờ quan tâm một cách nghiêm trang về việc thi hành quân dịch. Nhưng khi học tại trường đại học Princeton, anh ta được tiếng là người chơi banh bầu dục giỏi, và người ta bảo anh ta phải làm gì cho quê hương. Do đó, anh theo học trường đào tạo sĩ quan TQLC. Anh ta chỉ muốn phục vụ trong binh chủng nầy mà thôi, nhưng vì bị thương ở đầu gối nên không được nhận. Anh ta vội vàng bỏ ý định đăng lính. Nhưng khi học năm thứ nhất ở đại học, lương tâm anh ta lại thúc hối. Năm 1960, anh qua được việc khám sức khỏe, rồi tốt nghiệp sĩ quan. Sau hai năm mang lon trung úy, anh ta muốn mở rộng binh nghiệp.
    Lần đầu tiên khi TQLC đổ bộ ở Đà Nẵng, Batcheller muốn trao nhiệm vụ ngay. Phải chờ hai năm, tới tháng Tám/ 1967, anh ta nhận lệnh lên đường đi Việt Nam, chào giã từ vợ con ra chiến trường. Anh ta rời nhiệm vụ tham mưu, sĩ quan tình báo đơn vị 1/ 1, một công việc bực bội, tìm chức vụ đại đội trưởng đại đội vũ khí nhẹ. Cuối cùng, vào dịp lễ Giáng sinh/ 1967, anh ta làm đại đội trưởng Đại Đội Alpha. Anh ta gọi đùa đó là món quà lớn lễ Giáng sinh.
    Batcheller đang ngủ trong cái bạt vải tại căn cứ Phú Bài thì bị đánh thức dậy, có lệnh tập trung đại đội. Anh ta chẳng nhận được tin tức gì rõ ràng, chỉ bị đánh thức dậy mà thôi và nhiệm vụ là phối hợp với một đơn vị Quân Đội/ VNCH đóng ở bên ngoài căn cứ.
    Anh ta gặp trở ngại là thiếu tin tình báo, đại đội thiếu quân số trầm trọng. Sĩ quan thì được luân phiên nghỉ ba ngày, trung đội trưởng trung đội 3 thì đang thụ huấn ở Đà-Nẵng. Trước đó mấy giờ, đại đội được trực thăng bốc từ Quảng Trị về (Một phần tiểu đoàn đặt dưới quyền kiểm soát của X-Ray), một chiếc trực thăng bốc lộn phần còn lại của trung đội 1 và hai ông thiếu úy và trung úy trung đội bị kẹt lại Quảng-Trị. Sáng hôm 31 tháng Giêng đó, Batcheller chỉ còn lại có trung sĩ J.L. Canley, pháo thủ đại đội, giọng nói rề rề, da đen, to con và nổi tiếng gan cùng mình; hiệu thính viên, hạ sĩ Larry Williams, trẻ, tóc vàng trông như thằng bé con, gốc California; còn lại đây nữa là trung đội 1 do trung sĩ C.D. Godfrey chỉ huy; trung đội 2 do hạ sĩ Bill Jackson quyền chỉ huy, anh nầy quê ở thành phố Nữu Ước, gan lì, 19 tuổi, phục vụ ở trung đội 6 tháng, có Chiến Thương Bội Tinh trong trận Cồn Tiên. Chỉ huy trung đội 3 là là trung sĩ Alfredo Gonzalez vì sĩ quan vắng mặt. Anh nầy ít nói, 21 tuổi, gốc Mexicô, quê ở thành phố biên giới Edinburg, tiểu bang Texas.
    Batcheller tin tưởng những người nầy, họ là những TQLC đánh giặc giỏi.
    Batcheller và các trung đội thiếu quân số nói trên lên mấy chiếc xe GMC ở Đại Đội C, Tiểu Đoàn Quân Vận 1 do trung úy Jerome Nadolski chỉ huy. Một xe GMC trí súng đại liên 50 đi đầu, một chiếc khác đi sau, giữ an ninh mặt hậu. Sau khi có hiệu lệnh, đoàn xe hướng về phía nam, bên ngoài thành phố Huế, tới điểm hẹn với đơn vị Quân đội VNCH. Trời sáng sớm, xám xịt và lạnh. Ai cũng khó chịu vì không biết điều gì sẽ xảy ra. Sau gần hai giờ đồng hồ, họ tới điểm hẹn. Đoàn xe dừng lại, chờ đơn vị Quân đội VNCH tới tăng cường, nhưng toán quân nầy chẳng bao giờ xuất hiện.
    Đại úy Batcheller báo cáo về Phú Bài. Lệnh được thay đổi. Cho đoàn xe chạy vòng quanh, theo Quốc Lộ 1, gặp một đơn vị VNCH khác ở phía bắc Huế. Batcheller xem lại bản đồ. Đơn vị anh ta đã đi được một nửa đường. Đồng thời, khi họ đang di chuyển sát phía nam thành phố thì gặp một toán khác đang trên đường đi: 4 Chiến xa M-48 của Chi Đoàn 3 Chiến Xa, thuộc Sư Đoàn 3/ TQLC, một xe Jeep, và một xe cần trục do trung tá Edward J. LaMontagne, sĩ quan Sư Đoàn 3/ TQLC chỉ huy. Ông nầy đang thực hiện chuyến đi thường lệ trên Quốc Lộ 1, hộ tống cho đơn vị Hải Quân ở mặt Nam đặc trách vận chuyển tiếp liệu cho sư đoàn của ông ta ở Khu Phi Quân Sự. Tuy nhiên, tới gần sông đào Phú Cam (sông An Cựu), họ thấy một khung cảnh ngạc nhiên. Vài chiến xa của QĐ/ VNCH bị cháy, xác binh lính nằm bên cạnh. LaMontagne là một người thô kệch, có 3 năm kinh nghiệm đảm trách nhiệm vụ quân y cho Hải Quân và cố vấn cho TQLC/ VNCH. Ông ta vội tổ chức lại lực lượng để ứng phó với tình hình. Gặp Đại Đội Alpha là một ngẫu nhiên, cả hai kết hợp với nhau và tiếp tục lộ trình.
    Batcheller lại nhận được lệnh mới: Tới giải cứu cho MACV đóng ở trong thành phố Huế. LaMontagne ra lệnh cho đoàn xe tiến nhanh hơn. Đoàn xe chạy bọc theo một làng ở phía nam, bất thần bị bắn sẻ. Ngay lần chạm súng đầu tiên nầy, vài TQLC Mỹ bị thương. Quân Mỹ bắn trả dữ dội vào các ngôi nhà và bụi cây hai bên đường trong khi chiến xa và xe GMC tiếp tục di chuyển. Một lúc sau đoàn xe vượt qua cầu An Cựu trên sông đào Phú Cam (sông An Cựu). Mặt cầu bị mấy lỗ hủng lớn do địch cố phá sập cầu nhưng không thành công. Nếu cầu sập, Cọng Sản sẽ cầm chân được lực lượng Mỹ ở Phú Cam vì phải chờ mới qua sông được thì MACV có thể bị đánh chiếm. Quân CSBV đã thất bại. TQLC Mỹ vượt sông An Cựu không có gì khó khăn. Batcheller ra lệnh dừng quân bên bờ sông. Trước mặt là con đường chạy giữa hai dãy phố (An Cựu), làm cho Batcheller nhớ tới một thành phố kiểu Châu Âu cổ: Những căn nhà gỗ hai tầng, nhà sát cạnh nhau, thiếu cả hè phố.
    Đường sá lặng im.
    Batcheller ra lệnh cho binh lính rời xe GMC leo lên xe tăng. Còn anh ta và hiệu thính viên, hạ sĩ Williams thì rời xe jeep leo lên pháo tháp chiếc chiến xa đi đầu. Anh ta ra lệnh: Đi. Chiếc xe tăng cuốn bụi lên mù mịt, tiếng máy xe gầm rú dữ dội. Để đề phòng, mọi người nã đạn vào các ngôi nhà hai bên đường.
    Bất thần họ bị bắn trả.
    Không biết hỏa tiển B-40 từ đâu bắn ra. Chiếc xe tăng của Batcheller bị giật mấy lần. Có tiếng nổ khác và súng AK-47 từ trong các ngôi nhà hai bên đường bắn ra. Tài xế xe tăng cố cho xe vượt nhanh tối đa. Cuối cùng chiếc xe thoát ra khỏi hai dãy nhà cay nghiệt và dừng lại tại bùng binh ở ngã tư đường, bên trái là cây xăng. TQLC đưa mấy người bị thương xuống núp dưới đường mương bên cạnh. Batcheller sợ anh ta bị thủng màng nhĩ vì tiếng nổ B-40 và bị mấy mảnh đạn nhỏ. Bấy giờ, anh ta bất thần nhận ra hạ sĩ Williams đâu mất tiêu. Có lẽ trái hỏa tiễn đẩy anh ta văng khỏi chiếc xe tăng. Anh ta thấy y tá, một người quê ở New-York, có biệt danh là Bác sĩ Brooklyn nằm bất động bên pháo tháp. Chân anh ta từ đầu gối trở xuống bay mất. Chỉ có một chút máu, Batcheller nhìn chằm chằm hai chân anh ta, bị cắt gọn như một miếng dồi. Brooklyn đã chết.
    Sau lưng anh ta, trên đường phố súng vẫn nổ dữ dội. Mấy chiếc xe tăng vừa cố bắn trả vừa cố vượt qua hai dãy phố, tiếp tục bảo vệ thương binh.
    Hạ sĩ Jackson nhảy xuống đường, gục đầu xuống đường mương. Chúa ơi! Chúa ơi! Thiệt là tệ. Anh ta thấy lính CSBV núp trên mái nhà, trong các cửa sổ, phóng như tên bắn trong các đường hẽm, nổ súng lia lịa. Các TQLC cũng bắn lại một cách điên cuồng. Người dân kẹt giữa hai lằn đạn.
    Bất thần, Jackson thấy trung sĩ Gonzalez xông tới phía anh ta, máu chảy vì bị thương nhưng vẫn còn kéo theo che cho một TQLC khác. Jackson nhìn người lính đó. Té ra Williams, hiệu thính viên. Hai chân anh ta đầy máu. Y tá vội băng cho anh ta. Súng vẫn nổ, cỡ vài phút. Rồi xe tăng lại di chuyển về phía trước, lính núp phía sau xe, vừa đi vừa bắn, kéo các thương binh theo. Quân Bắc Việt bắn lộp độp chung quanh.
    Cuối cùng họ tới được chỗ bùng binh An Cựu, có Batcheller ở đó.
    Trước mặt họ là các đám ruộng lúa kéo dài ra, tới chỗ có hàng cây và mấy ngôi nhà. Con đường trước mặt cao hơn và cắt ngang đám ruộng. Có hai căn nhà lớn ở hai bên đường. Từ hai căn nhà nầy, súng máy bắn ra tạch tạch. Vài trái súng cối nổ quanh đám TQLC. Đại úy Batcheller và trung tá LaMontagne ra lệnh bắn trả. Đại bác 90 ly trên xe tăng và đại liên 50 bắn xối xả, vỏ đạn rơi leng keng xuống mặt đường. Súng của quân CSBV cứ tiếp tục nổ. TQLC tiếp tục bắn M-16 vào vị trí địch.
    Con đường đi tới MACV còn xa, xe tăng tiếp tục tiến tới, bộ binh theo sau. Cây cối và cột điện thoại đổ ngang xuống đường, bị lá cây che khuất. Batcheller lom khom chạy theo sau chiếc xe tăng dẫn đầu. Anh ta chẳng liên lạc được với ai cả. Máy truyền tin bị nhiễu vì nhiều tiếng nói Việt Nam. Anh ta cũng chẳng biết đó là tiếng của quân Bắc hay Nam VN hoặc cả hai. Chung quanh anh ta, TQLC đang nã đạn vào các tòa nhà hai bên đường, vữa và bụi tung lên.
    Họ giết hết mấy người lính CSBV trong hai tòa nhà, nhưng khi họ vượt qua hai ngôi nhà nầy thì súng máy lại nổ. Một lính Hải Quân và mấy người lính bị thương nằm dài trên đường. Batcheller trụ lại đằng sau xe tăng và cố kéo họ lui. Súng máy lại nổ. Người lính bị thương vuột khỏi tay Batcheller, chết vì một tiếng nổ. Bỗng Batcheller vướng cái ấm nấu nước, té mạnh xuống phía trái, vướng vào cuộn kẽm gai concertina.
    Anh ta nhìn quanh, có mấy cái lỗ ở cánh tay phải trước, đùi phải và đầu gối trái. Máu thấm qua chiếc áo giáp. Anh ta nghĩ chắc là xuất huyết cho tới chết. Anh ta nghe tiếng súng nổ mau, tiếng la to gọi TQLC trở lui. Anh ta nằm đó, kẹt trong đám kẽm gai, nhìn qua các cành cây trên đầu. Anh ta thấy buổi sáng sớm trở nên u ám và mây che mất bầu trời xanh trong.
    Batcheller bắt đầu cầu nguyện.
    Khoảng trưa hôm đó, tin Đại Đội Alpha bị tấn công thiệt hại nặng về tới Phú Bài. Trung tá Marcus J. Gravel, tiểu đoàn trưởng 1/1 vội vàng tổ chức lực lượng phản công gồm có: Ông ta, thiếu tá Walter M. Murphy, sĩ quan hành quân, một vài người khác thuộc Đại Đội Chỉ Huy và Đại Đội 2/ 5.
    Trung úy Richard Lyons, thuộc Hải Quân, sĩ quan tuyên úy 1/ 1 mới đi thăm thương binh của đại đội hiện điều trị tại Đà-Nẵng về, vừa bước ra khỏi sân bay trực thăng thì chiếc xe Jeep trờ tới. Ngồi trên xe là mấy TQLC, gồm cả Gravel và Murphy. Trung tá Gravel gọi anh ông ta: “Có muốn đi Huế đánh nhau trên đường phố không?” Lyons, ở Việt Nam đã gần một năm nay, nổi tiếng là một sĩ quan tuyên úy dã chiến tốt bụng, – Ngay cả khi ông ta cầm súng bắn che để di tản thương binh – leo lên xe Jeep. Xe lái tới khu Đại Đội 2/ 5 đang được lệnh tập trung. Gravel thiếu cả thì giờ để lập kế hoạch cho lực lượng phản công của ông. Chỉ vừa la to: “Lên xe”. Xong, đoàn xe hướng ra Quốc Lộ 1.
    Qua cầu An-Cựu đã bị hỏng, họ chạy vào chỗ các chiến xa, xe GMC đang dồn lại và Đại Đội Alpha đang bị cầm chân. Do lệnh của Gravel, binh lính nhảy xuống xe và tiến tới. Lyons nhìn qua bên phải thấy xác mấy người dân thường nằm bên đường. Trong số có xác một người đàn bà chết đã cứng, hai tay đưa lên trời. Lyons nghĩ: Thật kinh hoàng. Rồi ông ta quên hết cả nóng và khát nước.
    Xa hơn một chút, ở phía trước, mấy TQLC đang phòng thủ trên đường phố. Tuyên úy Lyons tiếp tục bò tới phía trước cùng mấy TQLC, tụm với nhau, nằm sát lề đường. Phía bên trái, ông ta thấy bóng một người bạn đang nằm cứng đơ: đại úy Batcheller. Giữa Batcheller và Lyons là 2 xác chết. Ông ta bò sát mặt đường đầy bụi và lá khô, làm dấu thánh giá lần chót cho hai người chết nầy. Bò tới gần hơn chút nữa, ông ta thấy Batcheller rõ hơn: bị thương nặng, trông gần chết. Điên tiết lên, Lyons cầm cây M-16 ria một tràng vào hàng cây bên phía ruộng lúa.
    Lyons nghe Batcheller bảo ngưng bắn, làm thế chỉ tổ cho địch bắn lại như mưa mà thôi. Batcheller la to bảo Lyons bò lui.
    Phía sau họ, chiếc xe Jeep của đại đội đang chồm lên. Người lái xe là đại úy Don Schultz, cho xe dừng lại để chuyển người bị thương đi. – Chiếc xe trở thành một mục tiêu ngon lành cho địch. Trung tá Gravel cố giải quyết tình hình thật nhanh: Trung sĩ của Trung Đội 1 bị thương ở chân. Gunny Canley trong ban chỉ huy đại đội, anh nầy vẫn còn tự đi được. Phía trước địch còn bắn liên tục. Điều nầy cũng không lạ. Canley là một trung sĩ nổi tiếng trong đại đội. Các TQLC cố kéo người bị thương về phía lực lượng cứu viện. Batcheller được mang tới bên kia đường, sau chiếc xe jeep. Hạ sĩ Jackson và mấy người khác cố bó cái chân gãy của cấp chỉ huy họ bằng cái cán xuổng và băng.
    Đại úy Batcheller, trung sĩ Godfrey, hạ sĩ Williams và một số người khác cần di tản gấp. Gravel cúi xuống xem những người bị thương và quyết định chuyển họ lên xe GMC nhưng không cho ai hộ tống. Điều đó hết sức nguy hiểm nhưng chẳng còn cách nào khác. Ông ta không thể chia người để lo công việc nầy. TQLC vội chuyển người bị thương lên xe. Một anh lính nhảy lên ca-bin để lái nhưng bị bắn té xuống, bị thương ở mắt cá. Anh ta được chăm sóc qua loa rồi đưa vào nằm chung với mấy người bị thương trong thùng xe. Có người hỏi to: “Có ai lái xe không?” Một TQLC nhảy lên cầm tay lái. Trong cảnh đạn bay vèo vèo, chiếc xe dọt đi. Gravel, Jakson và những người còn lại chăm chú nhìn theo chiếc xe. Chẳng mấy chốc chiếc xe biến mất.
    Khoảng gần tối thì chiếc xe chở đầy thương binh về tới Tiểu Đoàn Quân Y ở Phú Bài. Sau khi giải phẩu, đại úy Batcheller được chuyển vào phòng dưỡng bệnh, hạ sĩ hiệu thính viên nằm giường kế, mê man. Dưới tấm ra, chỗ cái chân hỏm sâu một khoảng. Batcheller khâm phục anh chàng trẻ nầy, anh ta cao to, đẹp trai và chơi thể thao giỏi. Hơn thế nữa, anh ta là một người trẻ, vào quân đội không phải vì bị động viên, hay muốn làm người hùng. Chẳng qua anh ta thấy mình có trách nhiệm với đất nước, không thể sống an nhàn nơi quê nhà trong khi bao nhiêu người trẻ khác đang chiến đấu và hy sinh bên kia nửa vòng địa cầu. Batcheller nghĩ: Larry đúng là một thanh niên hoàn hảo.
    Ngay tối hôm đó, hạ sĩ Larry Williams qua đời ngay trên cái giường ấy trong bệnh viện dã chiến. Batcheller nhìn người ta kéo tấm ra lên phủ mặt Larry.
    &
    Từ phía hai bên hông, quân CSBC bắn như mưa. Hạ sĩ Jackson và hai TQLC khác đứng dậy chạy ra khỏi con đường lộ. Họ chạy lom khom dọc theo các bụi cây và xóm nhà lá rồi ẩn núp. Từ một căn nhà đúc, một tràng AK-47 bắn ra. Ba người lính TQLC bắn trả bằng M-16 rồi xông về hướng địch. Họ vụt lựu đạn, cánh của lớn bung ra. Họ phóng qua cửa trước khi địch chưa có phản ứng kịp thời. Hai lính CSBC đang núp bên trong chưa kịp kinh hoàng vì tiếng nổ thì chết ngay tức khắc.
    Trước toán lính TQLC, trung tá LaMontagne nhận lãnh nhiệm vụ. Ông ta mới vượt qua một chiếc xe tăng của quân đội VNCH, họ thấy những người lính sống sót của đơn vị mới bị đánh tan nầy ở Phú Cam và bây giờ sát nhập với toán TQLC. Súng vẫn tiếp tục nổ, cày nát khu vực đang chiến đấu. TQLC núp sát vào lề đường. LaMontagne kéo theo mấy TQLC và hai chiếc xe tăng chạy băng qua cánh đồng về hướng MACV.
    Bên trong MACV, người ta nghe súng nổ dữ dội phía còn đang đánh nhau. Rồi có tiếng xe tăng. Mấy người lính la lên mừng rỡ: Tuyệt diệu! Quân cứu viện tới.
    Thiếu tá Breth thấy bóng người đi vào cổng chính và nhận ra đó là LaMontagne: thấp, lùn, và chưa bao giờ trông có vẽ xấu xí như vậy, miệng ngậm điếu xì-gà bự, hai chiếc xe tăng hai bên. Breth la to trong khi binh lính hoan hô: “Nhìn kìa. TQLC”.
    LaMontagne vào cổng chính và cho biết ông ta cần giúp đỡ. Trước hết, Breth chỉ vào vị trí quân CSBV, ngay bên kia đường. Xe tăng nã đạn vào đó. Xong, họ tổ chức lại binh lính để giải cứu đơn vị 1/ 1 đang kẹt trên đường. Thiếu tá Breth và thiếu tá Wayne R. Swenson, sĩ quan liên lạc Lực Lượng Đặc Nhiệm (LLDN) X-Ray với Sư Đoàn 1BB/ VNCH tổ chức một nhóm gồm các binh sĩ tình nguyện, leo lên một chiếc xe tải dân sự. Đại úy Coolican và trung úy Lampo gom một toán khác leo lên đầy một chiếc GMC chuẩn bị tiến ra. Đại tá Adkisson yêu cầu họ ở lại doanh trại nhưng họ không nghe và hai chiếc xe tải dọt ra đường. Một chiến xa theo sau. Nhưng họ lại phải ngừng vì xe không vượt qua đám ruộng được nên phải nổ súng bắn chặn để phòng thủ.
    Họ tiếp xúc với binh sĩ Đại Đội Alpha. LaMontagne ra lệnh di tản thương binh. Ông ta cùng Breth và Sewnson đang chỉ chỏ ra lệnh thì bất thần một loạt đạn bay tới làm ông ta hạ tay xuống tức khắc.
    Cuối cùng những người bị thương được đưa lên xe tải, xe chạy về hướng MACV.
    Trên đường, ở phía cuối toán lính 1/ 1, trung tá Gravel và thiếu tá Murphy đang tìm cách tiến tới. Gravel bỏ lại xe Jeep trên đường và ra lệnh cho Lyons ở lại với Ban Chỉ huy. Viên sĩ quan tuyên úy miễn cưỡng ở lại với họ. Lyons cho rằng Gravel là một cấp chỉ huy giỏi, đang gặp tình trạng hết sức nguy hiểm. Ông ta không ích kỷ, hoàn toàn quan tâm tới binh sĩ của mình. Ông ta đang ở với mấy người lính TQLC, hiệu thính viên bên cạnh, cần ăng-ten lắc lư phía trên; cảnh ấy không khác chi phất ngọn cờ đỏ trước con bò mộng. Lyons cố bò xa ra.
    Đại đội Golf do đại úy Charle Meadows chỉ huy tiến lên trước, Đại Đội Alpha bị tổn thất nặng tiến theo sau. Họ dàn ra hai bên đường, cố nhìn cho rõ, canh chừng địch, thỉnh thoảng nổ súng đề phòng. Bất thần, một toán lính CSBV nổ súng từ phía trước, bên trái, rồi chúng bắt đầu chạy lui, từ nhà nầy qua nhà khác mà có lẽ chỗ đó là một ngôi trường.
    Gravel lấy làm lạ. Sáu tháng ở Việt Nam và đây là lần đầu tiên ông ta thấy địch đang hoạt động.
    Bồn chồn muốn tới MACV và không biết có gì trong những căn nhà ấy, ông ta ra lệnh cho binh sĩ tiếp tục đi mà không cần tấn công quân CSBV quanh ngôi trường. Khoảng vài trăm mét phía trước là một ngã tư. Quân CSBV đang trí một cây súng máy ở bên mặt và đang bắn vào TQLC đang núp sau xe tăng. Gravel thấy trung sĩ Gonzalez, trung đội trưởng Trung đội 1, đang bị thương, từ phía sau xe tăng phóng ra lề đường, bò dọc theo đường mương lên phía trước, vụt mấy trái lựu đạn, nổ ngay trên đầu ổ súng máy.
    Khẩu súng máy im tiếng. Binh lính tiếp tục tiến tới.
    Gravel nhìn lui con đường mới đi qua, thấy chiếc xe Jeep vẫn còn đó và sực nhớ ra rằng quân CSBV có thể lấy máy truyền tin trên xe. Ông ra lệnh cho một trong những người chỉ huy xe tăng nã vào chiếc xe Jeep một phát đạn. Chiếc xe Jeep bật tung lên. TQLC tiếp tục đi chuyển, tiếp xúc với binh lính của LaMontagne đang ở gần khu MACV. Lúc đó khoảng 3 giờ chiều. Họ lên tinh thần, có thêm chỗ dựa, bây giờ lại có cả chiến xa. Hay nhứt lại là có thêm hai đại đội TQLC. Thiếu tá Swenson sau nầy kể lại: “Tôi hơi ngại. Tất cả chúng tôi chẳng ai sống sót nếu mấy người lính TQLC nầy không đến kịp lúc”.
    Chung quanh MACV, địch vẫn còn nổ súng lác đác. Xe tăng bắn trả. TQLC của hai Đại Đội Alpha và Golf bố trí quanh khu MACV và con đường dẫn xuống bến tàu. Họ cũng giữ an ninh cầu Nguyễn Hoàng (Cầu Trường Tiền – ngd), trên Quốc Lộ 1, bắc ngang sông Hương và dẫn vào Thành Nội, bên phía đó có một bến tàu phụ thuận tiện cho Hải Quân.
    Trong MAC.V, Breth giới thiệu Gravel với Adkisson. Breth ngạc nhiên khi Adkisson trả lời cộc lốc với Gravel là ông ta không cần lưu tâm lệnh lạc như thế nào cả. Binh sĩ ông ta ở lại đây và bảo vệ MAC.V. Adkisson là một người to cao, đẹp trai, mới nhận nhiệm vụ chỉ khoảng một tuần trước. Breth cho rằng ông ta phản ứng theo cách một sĩ quan tham mưu không tác chiến. Tuồng như ông ta không phải là người biết điều, hay lo lắng những điều nhỏ nhặt và chậm phản ứng vì chẳng biết việc gì đang xảy ra cả. Việc giới thiệu đẩy Gravel vào vị thế đối đầu với một người mà ông ta mới giải cứu xong.
    Có khoảng vài chục người bị thương được gom lại trong MAC.V, đại úy Bernie, y sĩ, cố gắng chăm sóc thương binh hết mình trong khi ông đòi tản thương. Lời yêu cầu được điện đi. Thiếu tá Murphy và Canley tổ chức đưa thương binh ra bãi đáp trực thăng ngoài bến tàu. Breth và Sewnson biết rằng phải nhờ TQLC giúp đỡ. Coolican cũng giúp Murphy liên lạc với trực thăng. TQLC và chiến xa của QL/ VNCH bảo vệ an ninh cho bãi đáp. Một chiếc trực thăng loại lớn CH-46 Sea Knight từ Phú Bài bay tới, bỏ đạn xuống và chở người bị thương đi. Tới đợt thứ hai thì phần lớn thương binh đã được di chuyển.
    Có một lúc tình hình tạm lắng dịu. Trong khi TQLC giữ vị trí chung quanh bãi đáp trực thăng, thiếu tá Breth, Murphy và Swenson; đại úy Coolican, trung úy Drew và Lampo đứng vòng tròn nói chuyện đằng sau mấy chiếc xe tăng, bỗng có tiếng đại bác không giật nổ. Breth nghiêng đầu đúng lúc thấy một đám bụi đen đang bung ra trên mặt sông. Viên đạn bay tới chỗ họ như mũi tên đen. Một cách kỳ lạ, viên đạn bay ngang ngực họ, vượt qua khỏi chỗ họ đứng và mấy chiếc xe tăng, chạm và nổ vào vách tòa nhà ở đằng sau, làm tòa nhà bay mất một góc. Họ cúi xuống. Quân Cộng Sản từ phía bên kia đầu cầu Trường Tiền bắn vào chỗ TQLC và bãi đáp trực thăng.
    Thiếu tá Breth và người tài xế, hạ sĩ Robert Hull của Sư đoàn 3/ TQLC nhảy vào phía sau chiếc xe tăng của QĐ/ VNCH đang bảo vệ mặt hông. Họ leo lên chỗ trí khẩu súng đại liên 50 trên xe tăng. Breth bắn trả qua bên sông và Hull tiếp đạn. Những người khác chạy dạt ra và leo lên các xe tăng khác. Các người lính VNCH trên xe tăng sợ không dám mở nắp pháo tháp ra.
    Hai chiếc tàu Hải quân xuất hiện trên sông, dùng đại liên 50 nòng đôi bắn dữ dội vào bờ sông bên kia. Chiếc máy bay tải thương thứ ba đáp xuống bãi đáp được rồi lại bay lên với đầy thương binh bên trong máy bay. Mọi việc yên lặng trở lại.
    Trước đó cũng lâu, Bộ Tham mưu LLĐN X-Ray ở Phú Bài tiếp xúc với Gravel bằng truyền tin. Lệnh của tướng LaHue – từ Đà Nẵng nói thẳng với ông ta là phải đưa Đại đội 1/ 1 Alpha và 2/ 5 Golf vượt qua sông Hương vào trong thành Mang Cá với Sư đoàn 1/ BB, chỗ Bộ Tư lệnh của Tướng Trưởng. Nơi nầy cũng giống như MAC.V, đang bị tấn công nặng.
    Gravel nghi ngờ việc ấy. Khó lòng giữ được MAC.V trước lực lượng Cộng Sản đông đảo trong thành phố. Tập trung qua sông tấn công là làm cho vị trí MAC.V hiện giờ thêm bị đe dọa. Ông ta thấy hoàn toàn chẳng có lý do gì phải hy sinh những gì đã gặt hái được bằng cách vượt qua sông trong tình hình lực lượng đang yếu kém. Không có tin tình báo nắm rõ tình hình địch như thế nào, không ai chắc được điều gì sẽ xảy ra. Gravel muốn củng cố vị trí MAC.V. Ông ta trả lời điện cho tướng LaHue như vậy. Lực lượng đặc nhiệm X-Ray phúc đáp: “Thi hành”.
    Gravel chỉ có thể lắc đầu. LaHue không nắm rõ tình hình ở Huế. Gravel nghĩ rằng LaHue cho Huế là một xóm nhà lá chứ không phải là một thành phố có nhiều nhà cửa xây cất chắc chắn hiện đại hay sao? Có thể nào đưa ra một vài ví dụ báo cho bộ tham mưu ở xa biết sự thực về trận địa họ đang đối diện.
    Gravel bỏ lại xe tăng của TQLC tại bãi đáp trực thăng vì ông ta cho rằng cầu Trường Tiền (Nguyễn Hoàng) yếu, không chịu nỗi sức nặng. Khi họ yêu cầu các chiến xa VNCH tháp tùng với họ thì toán xe tăng nầy từ chối.
    Gravel bỏ lại Đại đội Alpha thiếu quân số và nhiều thương vong tại MAC.V, ra lệnh cho Đại đội Golf của đại úy Meadow tiến lên cầu, trong khi đó thì xe tăng VNCH và TQLC thì yểm trợ mặt hông, bắn dọc theo bờ sông. Trung đội đi đầu qua được nửa cầu thì súng nổ.
    Mười người đi tiên phong chết và bị thương. Súng địch đặt ở xa. TQLC bắn trả vào đó. Hạ sĩ Lesler A. Tully, đi trước, nhảy vào một hầm súng của địch, giết 5 lính CSBV núp trong đó. Với hành động nầy, anh được thưởng Anh Dũng Bội Tinh Ngôi Sao bạc. Cây cầu được an toàn, Gravel cùng ban tham mưu và phần còn lại của Đại đội Golf vượt qua cầu. Gravel nhìn vào hầm địch thấy năm người lính CSBV nằm gục trong đó, giống như mấy con sâu nằm trong cái hộp thiếc. Một người lính Bắc VN còn thở. Thông dịch viên của Gravel, một hạ sĩ TQLC quì xuống bên cạnh nói với anh ta, bằng tiếng Việt để hỏi tin tức. Người lính nầy chưa nói được gì thì tắt thở.
    Những người bị thương được đưa lên xe, sĩ quan tuyên úy Lyons đi theo, quay trở lại MAC.V. Lúc ấy trời đã chiều, mặt trời còn chiếu trong mắt những người đang ở bên phía Thành Nội. Lính TQLC quẹo phía trái (theo đường Trần Hưng Đạo – ngd), đi qua từng căn nhà và hàng cây bên ngoài Thành Nội rồi ngoặt vào một con đường dẫn vào bức trường thành hùng vĩ (của Thượng Tứ, – ngd). Con đường nầy đi vào bộ Tư lệnh Sư đoàn 1/ BB VNCH. Tiểu đội đi đầu vừa tới hàng cây thì bị phục kích. Từ những căn nhà phía trước, hỏa tiển B-40 và AK-47, súng máy và đại bác không giật nổ dữ dội. Đạn bắn xuống đường. Mảnh xi măng gạch vỡ bay tung tóe. Lính TQLC nằm sát vào ngưỡng cửa nhà dân hay núp trong các đường hẽm. Họ bắn trả. Người bị thương và chết còn nằm ngay tại chỗ, chưa kéo đi được. Y tá của Đại đội Golf, Donald, v.v… Kierkham chạy tới trước cố kéo những người bị thương. Anh ta cũng bị thương nhưng chẳng lưu tâm, tiếp tục giúp đỡ thương binh, băng bó qua loa cho họ. Anh ta chạy qua một vị trí bên kia đường. Một tràng đạn AK bắn anh chết ngay tại chỗ.
    Đại đội của đại úy Meadow tới lui đều không được. Súng nổ liền hai giờ đồng hồ không dứt.
    Đại đội Golf có 150 binh lính, có 5 chục vừa bị thương vừa chết. Gravel biết không thể tiếp tục được. Không thể chấp nhận thương vong như thế. Không cần chờ lệnh của LLĐN X-Ray, ông ta cho lệnh rút lui về bên kia sông. TQLC tung một loạt trái khói vàng. Quân CSBV bắn bừa vào đám khói trong khi TQLC Mỹ rút lui từng tấc một, kéo theo những người chết và bị thương.
    Gravel gọi điện cho cho đại tá Adkisson, yêu cầu gởi người và trang bị tới giúp di tản thương binh. Vì MACV đang bị tấn công và có thể bị địch tràn ngập, Adkisson không đáp ứng lời yêu cầu. Vã ông ta cũng chẳng có lực lượng nào để giúp đỡ.
    Phía bên kia cầu, Gravel vẫn chờ. Chẳng thấy dấu hiệu gì, ông ta tức điên lên. Cái ông đại tá chó má kia làm như MACV là tài sản riêng của ông ta, chẳng muốn giúp đỡ hay chia xẻ gì cùng với ai cả.
    Gravel cùng với hiệu thính viên và người thông dịch TQLC chạy ngược về phía bên kia cầu, vào khu MAC.V và hỏi Adkisson giúp đỡ cái gì đâu? Adkisson đứng yên, chẳng nói gì cả. Gravel nổi đóa. Cuối cùng mấy sĩ quan trẻ cùng mấy binh nhì quân dịch tự động leo lên xe, lái chạy qua cầu, chở Gravel đi với họ. Mấy anh lính TQLC khôn khéo cột mấy chiếc xe của người Việt Nam đang đậu bên đường lại với nhau. Người bị thương và người chết được chất lên xe.
    Quân CSBV vẫn còn bắn dữ dội. Một chiếc xe GMC của Mỹ từ phía bên kia cầu chạy qua dừng lại một bên cầu, bắt đầu bắn vào vị trí địch bằng đại liên 50. Breth từ bãi đáp trực thăng nhìn qua, thầm phục toán xạ thủ can đảm. Ông ta thấy có hai lính BV từ trong một căn nhà phóng ra. Cách khoảng mấy chục thước, hai người nầy quăng lui một bọc chất nổ. Chiếc xe GMC và người bị nổ tung lên.
    Cuộc di tản vẫn tiếp tục.
    Thiếu tá Murphy đi tới mấy chiếc xe để đích thân lo việc chuyển thương binh đi. Tuyên úy Lyons lúc nảy đi theo thương binh nay vừa theo xe GMC quay trở lại, chạy tới chỗ Murphy, giúp một anh TQLC mang một người bị thương lên xe. Bỗng một trái B-40 nổ dữ dội, đẩy Lyons văng ra một quảng cách đó mấy bước. Ông ta nằm trên đất, rồi bò băng qua đường tìm chỗ núp. Lyons thấy máu chảy ướt cả chân vì mảnh đạn đâm vào đùi và tay. Một y tá chạy tới băng cho Lyons. Ông ta lại đứng dậy, khập khiểng giúp người ta chuyển số thương binh còn lại. Lyons chợt thấy Murphy nằm cách đó không xa, bị thương nặng vì quả đạn B-40 lúc nãy. Murphy vẫn còn tỉnh. Lyons giúp chuyển người bị thương lên xe trong khi đó thì chân ông ta sưng to lên, cuối cùng không đi được nữa. Các TQLC khác lo lắng cho tình trạng đau đớn của vị tuyên úy của họ, bèn đẩy ông lên xe GMC. Lyons cùng Murphy được chở về MACV.
    Cần có thêm hỏa lực bắn qua cầu để chặn địch. Việc nầy là nhờ binh nhì Nolan J. Lala, một trong những tài xế GMC của Đại đội Quân vận 1. Lala tóc đen, 19 tuổi, bỏ học năm lớp 8, quê ở Denver, Colorado. Tính khí ngang tàng, hay gây chuyện rắc rối, trông sáng sủa, can đảm, nhưng chẳng bao giờ muốn tuân lệnh các ông trung sĩ hay sĩ quan chỉ huy, đặc biệt sau khi anh ta kiếm được một huy chương Anh Dũng Bội Tinh Ngôi Sao bạc trong trận đánh nhau với Cộng Sản ở Huế. Lala đang ở bãi đáp trực thăng, quan sát bên kia sông, bỗng tự ý kêu thêm mấy tay tình nguyện nữa, nhảy lên xe, lái qua bên kia cầu. Khi anh ta vừa ngừng xe thì đám của anh trên xe nhảy xuống giúp tải thương binh. Lala thì tụt khỏi ghế tài xế leo lên vị trí xạ thủ đại liên trên xe. Anh ta bắn liên hồi, quét qua quét lại các vị trí địch. Mọi người cố làm cho xong việc để rút khỏi nơi đây. Lúc ấy, có một quân nhân mặc quân phục QĐ/ VNCH từ trong một cửa hàng bên đường chui ra. Qua thông dịch viên, người nầy cho biết ông ta là một trung úy y sĩ Nhảy Dù VNCH về quê ăn Tết. Chẳng có cách nào để xác minh lời ông ta cả. Tuy nhiên, đang có nhiều người bị thương, Gravel nghĩ rằng Chúa biết họ đang cần một y sĩ. Hãy nắm lấy dịp may. Gravel nói với thông dịch viên giữ ông bác sĩ nầy lại và đưa lên xe GMC về MAC.V. Mấy chiếc GMC và TQLC quay trở lại bên kia cầu, binh nhất Lala bắn yểm trợ. Anh ta là người lính cuối cùng trở về bờ phía nam.
    Tại bãi đáp trực thăng, thiếu tá Breth gần như choáng váng khi thấy binh lính quay về. Súng trên cầu bắn rát đến nỗi ông ta có cảm tưởng như đốt pháo đêm lễ Độc lập Hoa Kỳ vậy.
    Trong căn cứ MACV, Gravel lại đấu khẩu với Adkisson một lần nữa. Adkisson không thích ông bác sĩ Việt Nam. Ông ta nghĩ rằng đó có thể là một cán binh Việt Cộng giả dạng xâm nhập.
    - “Ông ta là ai?”
    - “Ông ta là bác sĩ.
    - “Làm sao anh biết?”
    - “Vì ông ta nói ông ta là bác sĩ.
    Gravel thấy mệt, không phí thì giờ cho những chuyện lặt vặt như vậy. Ông ta cảm thấy bệnh vì một ông đại tá như vậy. TQLC chẳng ưa gì ông. Khi Gravel cố gom ban Chỉ huy trong MAC.V lại, nhưng Adkisson chẳng dành một ngôi nhà nào cho TQLC cả, để họ ở ngoài sân. Cuối cùng, Gravel mắng ông đại tá là thứ cứt bò và đòi đưa binh lính của mình ra khỏi MAC.V.
    Cách MAC.V vài khu nhà, có mấy nhân viên dân sự Mỹ đang mắc kẹt trong trụ sở của cơ quan CORDS. Adkisson nói với Gravel cần di tản những người mắc kẹt nầy về MAC.V tức khắc. Một tiểu đội TQLC được lệnh đi giải cứu. Một chiến xa hộ tống. Bất thần cỡ mấy chục quả B-40 bắn vào xe tăng dữ dội. Chắn bùn, ống khói, xăng bung lên trời, cháy và bốc khói. Ở MAC.V nhìn ra ai cũng thấy khiếp. Người ta nghĩ rằng người trên xe chẳng ai còn sống. Vậy mà chiếc xe tăng chạy quay trở lui MACV. Xe mở nắp ra và thiếu tá Breth thấy người ngồi trong xe nhe răng cười. Thật là một khung cảnh kỳ lạ.
    Chiếc chiến xa ấy cùng một chiếc khác vòng trở lại chỗ phục kích để cứu tiểu đội TQLC đang kẹt ở đó.
    Để giúp di tản thương binh, thiếu tá Breth và Swenson tổ chức một toán khoảng hai chục người tình nguyện, gồm TQLC, bộ binh và quân nhân Úc vừa tiến vừa bắn cặp bên hông xe tăng. Một chiếc xe tăng khác bắn thủng một lỗ vách tường, nhờ đó, họ chui qua tường được và thấy một ngôi nhà thờ nhỏ bên trong đó. Tại đây có khoảng hai chục bà xơ cùng bốn chục em bé gái. Binh lính vẫn còn nổ súng nên những người dân thường nầy hết sức sợ hãi. Breth ra lệnh cho hai binh sĩ hộ tống những người dân nầy di tản đến MAC.V.
    Nhóm binh sĩ tiếp tục di chuyển song song với các xe tăng và TQLC. Breth đi vào hành lang của một tòa nhà. Cùng đi với Breth là một tài xế xe GMC của Sư đoàn 1 Không Kỵ bất thần một đêm đi ngang Huế phải dừng xe ngủ lại. Hai người đi vào một căn phòng, thình lình nhìn qua của sổ thấy một người lính CSBV đứng trên đầu một bức tường bên ngoài. Breth chỉa súng và bóp cò. Chẳng kết quả gì. Tài xế GMC cũng chỉa súng về hướng đó bắn một tràng. Người lính CSBV vụt một trái lựu đạn về phía họ rồi phóng đi mất. Trái lựu đạn lăn trên mái nhà nhưng lại rơi vào chỗ núp của người lính CSBV nổ bùm, hất anh ta vào tường. Breth bắn một tràng M-16 và chạy ra phía cửa sổ. Bốn người lính CSBV từ đằng sau bức tường bỏ chạy. Breth và người tài xế đuổi theo, bắn mấy tràng đạn ngang hông họ. Cả bốn gục xuống.
    Vì hết đạn, toán lính Mỹ quay lại MAC.V. Lúc nầy các xe tăng cũng như TQLC đem được mấy người bị thương thuộc toán đi tiên phong lúc nãy về. Trụ sở CORDS, nơi họ được lệnh tới giải cứu rơi vào tay CSBV.
    Những người bị thương được đưa vào phòng quân y, bác sĩ Bernie chăm sóc cho họ. Lyons nằm trên một cái băng-ca gần Murphy. Một người lính TQLC trẻ bị thương đang nằm bên cạnh. Anh ta vừa đau vừa sợ, và khóc. Murphy gọi những người đã cáng anh lính tới, nói với họ là bảo anh ta im đi, mọi việc sẽ tốt đẹp cả thôi. Lyons lo lắng – Murphy bị thương nặng, nhưng anh ta vẫn còn tỉnh, còn khuyến khích được những người bị thương khác. Lyons thấy Murphy cũng như Gravel vậy, bao giờ cũng nghĩ tới người khác trước khi nghĩ tới bản thân mình.
    Cách đó không xa, đại úy Coolican đang gọi xin máy bay tải thương. Nếu không chuyển đi gấp, nhiều người chắc phải chết, trong số có cả hiệu thính viên của ông ta là Frank Dozerman, một người bạn cũ: Walt Murphy, đang bị xuất huyết nội. Cuối cùng, người ta biết là đã quá trễ. Breth và Swenson đỡ tuyên úy Lyons dậy khỏi cáng, đưa tới chỗ Murphy. Lyons chỉ kịp làm phép thánh trước khi Murphy qua đời. Người ta lấy poncho đắp lên người ông và đặt xác ông vào chỗ an toàn. Breth, Coolican và Awenson từng phục vụ dưới quyền chỉ huy của Murphy một thời gian dài trước khi qua Việt Nam. Mọi người cảm thấy buồn và đau đớn. Khi Gravel được báo tin buồn nầy; ông có cảm tưởng như không còn nghị lực nữa. Ông ta và Murphy từng làm việc với nhau rất gần gủi, vui đùa với nhau, trải qua một mùa Lễ Tạ ơn ở Cồn Tiên, mùa Giáng Sinh ở Quảng Trị và mong muốn được làm việc ở Washington D.C. sau khi ở Việt Nam về.
    Một lát sau, có tin máy bay tải thương đang trên đường bay tới.
    Những người bị thương được đưa lên xe GMC và chuyển ra bãi đáp bên bờ sông Hương. Họ vừa đi vừa tác xạ mở đường, do đó số thương binh nặng của họ từ 16 tăng lên 2 chục. Trời tối đen như mực và sương mù, chiếc trực thăng đang bay trên đầu. Hạ sĩ Chisler, một người to cao và lanh lợi, da đen, thuộc đơn vị 1/ 1 TQLC liên lạc với phi công bằng máy truyền tin. Anh ta hướng dẫn cho phi công đáp máy bay xuống đúng ngay vị trí.
    Phi công hỏi:
    – “Anh ở đâu? Tôi không thấy.”
    Hạ sĩ Chisler đưa tay đập nhẹ nhẹ vào mũi chiếc trực thăng. Phi công lại hỏi có bao nhiêu thương binh.
    – “Hai chục, thưa ông.”
    – “Anh gọi có 16 người.”
    Chisler nói: “Vâng. Đúng vậy, Nhưng có điều buồn cười khi đến đây, chúng tôi nghĩ là ông có thể chở thêm.”
    Họ đưa người bị thương lên máy bay, một chiếc Sea-Knight. Phi công rồ máy bay khỏi bãi đáp. Một trong những người có mặt trên máy bay là Frank Dozerman, anh ta chết trên không, trên đường tới bệnh viện.
    Các TQLC ở bãi đáp lại mở đường về lại căn cứ MAC.V.
    Đêm hôm đó, tất cả bọn họ canh giữ MAC.V, bãi đáp trực thăng và bến tàu. Họ tổ chức lại đơn vị để phòng thủ đêm, phản ứng khi CSBV tấn công. Họ phát hiện địch, la hét, nguyền rủa, bắn trả ầm ầm. Quân CSBV ngưng bắn, các TQLC lo lắng bồn chồn, mệt mỏi, và nổ súng suốt đêm.
    Trung tá Mark Gravel ngồi bên cạnh máy truyền tin. Chưa bao giờ ông ta thấy trống rỗng và tuyệt vọng đến như vậy. Bạn của ông, Gordon bị thương nhiều nơi trên mình bây giờ đang nằm một nơi nào đó trong bệnh viện. Chỉ có phép lạ mới cứu Batcheller khỏi chết. Anh chàng TQLC trẻ đáng nể, Larry Williams cũng đã chuyển đi rồi, không biết chết sống ra làm sao! Năm chục TQLC bị thương và chết khi vượt qua cầu Trường Tiền. Ông ta muốn chưởi thề một tiếng: Thật là phí phạm. Tại sao? Chỉ là vô nghĩa. Mạo hiểm vô ích qua cái cầu chết bằm ấy. Để làm gì? Để đi uống càphê với Tướng Trưởng, coi thử ông ta làm sao, bày tỏ lòng tôn kính. Với chỉ có hai đại đội thiếu quân số, Gravel tính thử Tướng Trưởng và sư đoàn của ông ta sao lại không đến tiếp xúc với Gravel?
    Điều ông ta chỉ có thể cám ơn là quân CSBV nổ súng quá sớm vào Đại đội Golf khi đại đội nầy tìm đường vào Thành Nội. Nếu họ cứ bắn thật dữ và đẩy TQLC vào những con đường phố chằng chịt bên đó thì có lẽ chẳng ai còn sống hoặc bị bắt hết, và giữa họ và MAC.V chẳng còn gì nữa cả. Ông ta trầm ngâm suy nghĩ, việc ấy làm cho trận đánh cuối cùng của tướng Custer (6) trông giống như đi vào khu rừng gỗ. Gravel nghĩ rằng những chú lính CSBV nổ súng sớm là vì họ còn quá trẻ, thiếu kinh nghiệm. Hoặc có thể cấp chỉ huy của họ ra lệnh như thế. Dù bằng cách nào thì bên phía địch cũng đã cố xiết chặt hỏa lực của họ.
    Đó là một ngày quá dài, Gravel không còn cảm thấy kiệt sức nhưng rõ ràng ông ta cũng thể tài nào ngủ được.
    hoànglonghải

    Người dịch chú thích:
    Đúng ra là năm Ất Dậu, 1885, Nguyễn văn Tường và Tôn Thất Thuyết đánh úp quân Pháp ở Huế, thua trận. Triều đình và vua Hàm Nghi chạy ra Quảng Trị.
    Con sông đào nối với sông Hương tại ngã ba trường Bình Linh thường gọi là sông An-Cựu. Ca dao Huế có câu:

    Núi Ngự Bình trước tròn sau méo
    Sông An-Cựu nắng đục mưa trong
    Đôi ta như chỉ lộn vòng
    Thương thì thương vậy nhưng chuyện vợ chồng khó nên.
    Ngay chính người Huế cũng vậy, ai ai cũng gọi nó là sông An Cựu. Vì những lý do nào đó (?!), trên bản đồ quân sự xuất bản của Nha Địa Dư, trụ sở ở Đà-Lạt thời chế độ Ngô Đình Diệm, tự ý đổi tên sông đào An-Cựu thành sông đào Phú Cam. Tác giả cuốn sách nầy, viết lại theo tên trên bản đồ quân sự, nên gọi nó là sông Phú Cam. Phú Cam chỉ là một xóm, thuộc làng Phước Quả, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên. Gia Đình ông Ngô Đình Diệm, kể từ đời thân phụ ông là Ngô Đình Khả, định cư ở xóm nầy. Ông Ngô Đình Khả gốc ở làng Đại Phong, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình. Theo một số người Huế đã lớn tuổi nói cho tôi biết thì thật ra, quê quán ông Ngô Đình Khả cũng khộng thuộc làng Đại Phong mà thuộc một vạn chài, tức là làng “thủy cư”, thường neo thuyền kế làng Đại Phong. Để tránh cái gốc thuyền chài như Mặc Đăng Dung trong lịch sử, ông Ngô Đình Khả khai quê quán ở Đại Phong thay vì tên của vạn thuyền chài của ông.
    (3) Đoạn nầy tác giả hư cấu nhưng không đúng thực tế vì đêm mồng một tết trời chỉ có một chút trăng lúc đầu hôm mà thôi. (Mồng một lưỡi trai, mồng hai lá lúa, v.v…)
    (4) Đoạn nầy cũng hư cấu không đúng. Vì tình hình an ninh, nhà cầm quyền Huế cấm neo thuyền thuyền dưới chân cầu.
    (5) Street without joy (Con đường buồn thiu) của Bernard B. Fall. Bernard B. Fall chết vì mìn tại Phò Trạch, Thừa Thiên lúc 4giờ30 chiều ngày 21 tháng Hai năm 1967, thọ 40 tuổi, khi ông đi theo một toán TQLC Hoa Kỳ trong một cuộc hành quân. Lời cuối cùng của ông ghi trong máy ghi âm ông đeo trước ngực là Last reflections On A War (Những phản ảnh cuối cùng về một cuộc chiến –
    (Xem “Con Đường Buồn Thiu” trong Viết Về Huế -tập 1)
    (6)- Custer, George Armstrong (1839-76): Một sĩ quan kỵ binh nổi tiếng của Hoa Kỳ, ông tự chứng tỏ là một nhân vật lãnh đạo giỏi của lực lượng kỵ binh Liên Bang trong cuộc nội chiến Mỹ. Năm 1866 được chỉ định làm trung tá, tham gia lực lượng của tướng Hancock trong cuộc tiểu trừ bộ lạc Cheyenne. Trong một trận đánh nổi tiếng ở Little Bighorn (bắc Wyoming và nam Montana), ông bị giết chết.

    Chương 2 

    Ngày thứ hai tại Cố Đô (1 tháng 2 năm 1968)

    http://i58.tinypic.com/2dgqp0l.jpg

    Vào ngày thứ nhì của trận đánh, thứ Năm, ngày 1 tháng 2 năm 1968, Bộ Chỉ Huy LLĐN X-Ray, cách Huế 8 dặm, bên QL1, trong không khí phức tạp vừa lạc quan, vừa hoài nghi và tin tức sai lạc. Cọng thêm vào đó là vấn đề cố hữu của các chỉ huy trưởng ở Việt Nam – do áp lực từ Hoa Thạnh Đốn, muốn nói những gì họ muốn nghe mà thôi. – Người ta có thể hiểu tại sao Tướng LaHue, khi được phái viên UPI phỏng vấn nói là vào ngày thứ hai của cuộc chiến: “Hoàn toàn chắc chắn là chúng tôi kiểm soát phía nam thành phố. Chúng tôi nghĩ là họ (CSBV) không thể nào chịu đựng nỗi. Tôi biết họ không thể chống đỡ được. Tôi không nghĩ là họ có đủ tiếp tế, và khi xử dụng hết những thứ họ đem lẻn vào được thì họ không còn gì nữa cả.”
    Không phải một mình Tướng LaHue tin lầm như vậy. Tin tức báo chí đưa ra ở Saigon dựa trên tin tức của các phân bộ MACV nói rằng địch đang bị càn quét. Toán cố vấn Quân Đoàn 1 ở Đà-Nẵng cho biết quân Đồng Minh sáng nay đã đẩy quân Việt Cộng ra khỏi Huế và Tư lệnh Quân đoàn 1, Tướng Lãm nói rằng địch đã bị đánh bại ngoại trừ một trung đội đang cố thủ trong thành nội.
    Huế, Cọng Sản đang nắm quyền kiểm soát thành phố.
    Trong Thành Nội, Tướng (bấy giờ là đại tá) Trưởng và binh lính của ông vẫn còn giữ được Bộ Tư Lệnh trong thành Mang-Cá. Ở phía nam thành phố, lực lượng của Trung Tá Gravel giữ được Alamo (1). Trong thành phố thì các nhóm Mỹ và binh lính Nam Việt Nam bị cô lập, đang cố giữ cơ quan của họ mà Cộng sản bỏ qua hay đang bao vây. Vào lúc nầy chẳng ai có đủ sức mạnh quân sự để giúp đỡ các nhóm nầy hay phản công địch.
    Quân CSBV và Việt Cộng (VC) thực hiện một công tác tuyệt hảo khi xâm nhập và chiếm giữ thành phố. Họ di chuyển nhanh và lén lút. Điều quan trọng nhất là có thể hỗ trợ cho nhau trong thành phố. Một cách lý tưởng, quân Mỹ và quân Nam VN đã triển khai các đơn vị trong toàn thành phố, cắt đứt đường tiếp tế của địch trong khi TQLC càn quét các toán quân địch đang thiếu tiếp liệu, lương thực, quân số mà thương vong càng lúc càng cao vì bị kẹt lại trong thành phố. Nhưng tình hình thì không phải hoàn toàn lý tưởng. Đây là cuộc tấn công vào dịp Tết. Cuộc tấn công vào tòa đại sứ Mỹ coi như thất bại, nhưng trận đánh ở Saigon thì chỉ mới bắt đầu. Khe Sanh còn tiếp tục bị bao vây, nhiều thị xã ở lưu vục sông Cửu Long bị địch chiếm. Mặc dù Huế là mặt trận tấn công vào dịp Tết lâu nhứt và đẫm máu nhứt, sự lưu tâm của phe Đồng Minh vẫn đồng nhứt. Căng thẳng quá độ vào dịp Tết, cọng thêm với sự kiện Bộ Chỉ huy X-Ray điều động một cách mập mờ khó hiểu các đơn vị thuộc Sư Đoàn 1 TQLC chỉ cho phép một vài đơn vị liên hệ hành quân ở Huế. Việc bao vây thành phố Huế là điều cần thiết, theo tính toán, phải cần tới 16 tiểu đoàn bộ binh. Rõ ràng không có sẵn một số lượng binh lính như vậy.
    Trong cố gắng đánh bại quân địch trong và ngoài Huế, tướng John J. Tolson, một cấp chỉ huy có trách nhiệm cao và được tưởng thưởng nhiều huy chương của Sư Đoàn Không Kỵ Hoa Kỳ được lệnh gởi lực lượng trực tiếp đến bên ngoài thành phố Huế. Sư Đoàn 1 Không Kỵ được ủy nhiệm tham gia những mặt trận nặng như Quảng Trị và bất cứ nơi nào khác. Vì vậy, ngày 2 tháng Hai chỉ có tiểu đoàn 2 của trung đoàn 12 Kỵ Binh triển khai ở căn cứ Evans, phía bắc Huế. Họ được trực thăng vận đến một bãi đáp kế bên Quốc Lộ 1, cách Huế 10 cây số về phía tây-nam và tiến nhanh về phía thành phố. Sông Hương ở phía bên hông phải của cánh quân nầy. Trước khi trận đánh kết thúc, thêm ba tiểu đoàn kỵ binh được trực thăng vận tới một nơi gọi là “Hành Quân Jeb Stuart”. Thời tiết rất xấu, mây thấp, vấn đề tái tiếp tế gặp nhiều khó khăn, khó thực hiện các cuộc thả dù tiếp tế mà trong nhiều trường hợp, đó là phương cách duy nhứt, ngay tại căn cứ chính Evans cũng vậy. Việc chiến đấu trong rừng rậm hết sức căng thẳng, ít nhứt có một trung đoàn CSBV đang hoạt động trong vùng. Công việc tiến hành hết sức chậm chạp.
    Kết quả là địch quân ở Huế, – dưới sự kiểm soát của trung đoàn 6 CSBV – có thể duy trì lực lượng của họ. Ngoài việc lấy được một số lớn vũ khí đủ loại do Mỹ chế tạo cho Thiết Giáp QĐ/ VNCH, quân CSBV tiếp tục nhận được tiếp liệu từ phía tây Huế chuyển tới. Ngoài ra, họ còn có nhiều đường tiếp tế khác chuyển vận tới như lương thực, đạn dược, trang bị y tế; họ cũng được tăng cường lực lượng. Để tăng cường cho 9 tiểu đoàn chiếm đóng Huế trong ngày đầu tiên, có thể thêm 5 tiểu đoàn nữa đã vào Huế; tiểu đoàn 146, trung đoàn 5 CSBV, tiểu đoàn 4 và tiểu đoàn 6 của trung đoàn 24/ CSBV, tiểu đoàn 7 và tiểu đoàn 8 trung đoàn 90/ CSBV. Tính chung, khoảng 6 ngàn quân CSBV đối đầu với TQLC và Quân Đội VNCH. (Lực lượng tăng cường nầy cho thấy rõ là không đủ để thắng Cộng Sản. Sau trận đánh có cuộc thảo luận, cho rằng CS đã khôn khéo kéo một trong những sư đoàn 10 ngàn người của họ ẩn náu trong vùng núi non bao vây căn cứ TQLC Hoa Kỳ ở Khe Sanh gởi cho mặt trận Huế – một khả năng thúc đẩy tướng Creighton Abrams nói với một phóng viên nhà báo hồi tháng Giêng/ 1969 rằng: “Chúng tôi vẫn còn chiến đấu ở đây.”
    Thời tiết xấu cũng có lợi cho địch. Trời lạnh, một cái lạnh bất thường 50 độ, gió bấc mưa phùn của cơn “Gió Mùa Đông Bắc” đôi khi biến thành những cơn mưa ẩm ướt và lạnh. Cùng với mưa là mây che phủ bầu trời và sương ngang mặt đất cản trở máy bay trực thăng và phi cơ oanh tạc hỗ trợ cho TQLC. Quân Đồng Minh lại ở vào vị thế bất lợi vìtướng Lãm, tư lệnh Quân Đoàn 1 yêu cầu tránh tối đa thiệt hại cho dân chúng và giảm thiểu việc làm hư hại thành phố lịch sử. Pháo binh, bom và bom lửa bị cấm xử dụng.
    Với những bất lợi đó, các nhà chỉ huy quân sự CSBV có vài sai lầm nghiêm trọng và tính toán trật. Tin vào đường lối tuyên truyền của mình, Cộng Sản tin rằng dân chúng sẽ nổi dậy, hoan hô người đến giải phóng họ và chiến đấu cùng với quân Cọng Sản. Điều đó chẳng bao giờ có. Mặc dù có một số nhỏ cảm tình viên theo Cọng Sản, – hầu hết bọn họ là các sinh viên học sinh trẻ làm điểm chỉ viên cho Cộng Sản – toàn bộ dân chúng tìm cách tránh xa nơi có đánh nhau.
    Địch quân cũng không có khả năng bảo vệ thành phố sau khi chiếm được nơi nầy. Họ không phá được cầu An Cựu trên sông An Cựu và cắt đứt đường giao thông giữa Phú Bài và khu Nam thành phố Huế, rồi lại thất bại trong việc chống lại quân Mỹ phản công khi vượt qua cầu nầy. Họ cũng thất bại nhiều lần khi cố đánh phá các cây cầu trên Quốc Lộ 1, nối liền Phú Bài với Huế. Họ hy vọng chiếm Huế trong 1 đêm rồi dùng Huế để tấn công, lập các phòng tuyến kháng cự nằm bên ngoài Huế. Tuy nhiên, MACV và Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 1 tự biến thành các điểm kháng cự từ bên trong – họ phải chấp nhận TQLC phản công từ bên trong đánh ra – Quân địch chỉ sở trường khi tác chiến ở vùng quê, rừng rậm, và thất bại khi tấn công Huế, không chiếm được hai vị trí quan trọng (MACV và BTL/SD 1/BB) sau khi TQLC Mỹ tăng cường. Họ bị đánh bật lui, trụ lại và tiếp tục cầm cự.
    Hành động như thế là họ tự giết họ. Từ bên trong MACV, các binh sĩ của trung tá Gravel có thể vượt qua bên kia đường, khu trường Đại Học, bảo vệ khu bờ sông, bảo vệ vùng trời để trực thăng hoạt động được, mang theo tiếp liệu và lực lượng tới tăng cường.
    Hạ sĩ Carter và số binh sĩ còn lại của đại đội Fox 2/5 trải qua một đêm căng thẳng ở trên đồi, theo dõi tiếng nổ và các vệt lửa nổ lốp đốp ở thung lũng bên dưới. Tới sáng, một đoàn xe GMC chạy tới. Họ lên xe và tài xế mở tốc lực 60 dặm một giờ. Mọi người ai cũng sợ bị phục kích. May sao chẳng có tiếng súng nào.
    Họ đi qua một ngôi làng bên đường và thấy cảnh tượng xảy ra đêm trước. Người ta đang khóc than rên xiết bên cạnh xác chồng, mẹ hay con cái. Tất cả họ, ai cũng mặc đồ tang. Xe chạy qua một làng và thấy một đơn vị hỗn hợp Việt Mỹ phía sau hàng kẽm gai. Xác Việt Cộng nằm vắt trên hàng rào kẽm gai và ruồi bu đen. Một Việt Cộng nằm chết gần đường đi, xác bị bắn, mất đầu. Carter không tin ở mắt mình khi chợt thấy chiếc xe chạy trước không lạng qua một bên được. Bánh xe cán lên đầu anh ta kêu bụp một tiếng như tiếng bí đỏ bị cán vậy. Carter la lên: Trời ơi! ghê quá!
    Họ về tới căn cứ Phú Bài, được tiếp tế thêm, nhận thư, thức ăn nóng, và đi mua hàng PX. Họ trải qua một đêm trong lều vải và tới sáng hôm sau, ngày 1 tháng Hai, tập trung ở bãi trực thăng. Lệnh đi Huế. Đại đội trưởng, đại úy Michaels P. Downs đã có mặt sẵn ở đó. Carter chẳng biết nghĩ thế nào về ông đại úy nầy. Ông ta là một sĩ quan giỏi, một người lạnh lùng, rất chuyên nghiệp. Cái vẻ lạnh lùng ấy làm Carter không ưa. Tuy nhiên, Carter nghĩ có thể cấp chỉ huy gạt bỏ tình cảm riêng tư qua một bên và bày tỏ một thái độ lạnh lùng để công việc được thực hành. Tuy vậy, cũng có khi tuồng như anh ta chẳng quan tâm đến những điều đó nữa. Carter tin tưởng đại úy Downs, con người biết phải làm gì khi đánh nhau với địch.
    Chỉ trong mấy phút, mấy chiếc CH-46 Sea Knight bay đến, trông giống như những con châu chấu khổng lồ. Đại đội Fox trên đường bay đến Huế. Rock Christmas là đại uý, 27 tuổi, quê ở Yeadon, Pennsylvania, cưới con gái của đại tá Davids Lownds, người hùng Khe Sanh. Đại úy Christmas chỉ huy đại đội Hotel 2/5 khi trận đánh Tết xảy ra hôm 31 tháng Giêng. Quân CSBV tấn công cây cầu trên QL 1 do binh lính anh ta canh giữ. Cuộc tấn công kéo dài mấy tiếng đồng hồ. Tới sáng, địch quân bị đẩy ra phía bờ sông.
    Đại úy Chritmas sẵn sàng phản công thì có tin điện. Anh ta la to trong máy:
    – “Cái gì? Đừng có giỡn.”
    – “Không có. Bộ chỉ huy muốn chúng ta rút ra QL-1 chờ lệnh mới.”
    Binh lính kéo ra tới đường. Christmas điện đàm với tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 5/ TQLC. Trung tá Ernest Cheatham giải thích tình hình các đơn vị: Huế bị địch tấn công. Đại đội Golf của Chuck Meadow đang hành quân với 1/1, Đại đội Fox của Mike Downs, đang trên đường tới Phú Bài để được vận chuyển đi Huế.
    “Sau đó có thể là anh” – Cheatham nói với Christmas – “Thực ra, tất cả chúng ta sẽ gặp nhau ở Huế.” Rồi ông đại tá càu nhàu: “Tại sao họ thường đưa từng phần chúng ta vào mặt trận?”
    Carter ngồi dựa lưng vào tấm vải bạt nịt đai của chiếc trực thăng cùng với số binh lính còn lại, thấy cấn một cục gì đó trong dạ dày. Những cái bồn chồn trước trận đánh nầy; cứt thiệt! mình lại đi.
    Khi gần tới Huế, máy bay bay thấp để tránh súng phòng không, là là vào bãi dáp. Carter nhìn qua của sổ tròn bên thân máy bay, thấy sông Hương, cầu Trường Tiền, mái nhà, từng hàng cây xanh và lửa tóe ra từ các họng súng. Một tràng đạn quạt vào máy bay. Hai TQLC bị thương nhẹ ở chân. Xạ thủ đại liên 50 ngồi ngay cửa quạt lại mấy tràng. Chiếc trực thăng hạ xuống bãi đáp bên bờ sông, kế bến tàu. Hai thủy quân lục chiến bị thương được ở lại trên tàu trong khi những người khác chạy nhanh ra khỏi máy bay, giống như các cầu thủ banh bầu dục mang nón sắt, áo giáp và balô. Súng nổ trên đầu. Carter chạy lom khom phía sau một bức tường cao cở 2 fít, chụm đầu với những người khác trong khi một tràng đạn bắn tới rào rào. Họ được gọi tập trung thành nhóm 3 người ở một bức tường dẫn tới bên trong khu đại học, rồi tiến xuống con đường ở bên phải để vào MACV. Các TQLC khác và ba người thuộc nhóm đầu tiên chạy đi. Carter với số còn lại chạy theo họ. Carter chú ý thấy một nhà báo đang quì bên kia đường máy quay phim nhỏ đặt trên vai đang quay phim họ. Anh ta quay mặt về hướng ống kính và cười, hy vọng ba má sẽ thấy anh ta đang cười. Bất thần anh ta té xuống một hố đạn, nằm dài ra, ba lô vuột khỏi vai, nón sắt và súng M-16 mỗi cái văng mỗi đường. Carter và hai người bạn thân vào được trong tòa nhà, trung đội anh ta đi khuất bãi đáp.
    Họ lại chạy xuống đường, cũng không biết mình đang ở đâu, lại sợ. Họ gặp một chiếc xe tăng bên đường, bèn núp dưới nòng súng, vừa lúc đó thì tiếng súng gầm lên. Carter té giật lui lề đường, tai vưng lên, đầu lạch cạch. Một anh TQLC ló đầu ra khỏi pháo tháp nhìn bọn họ, nói một cách xỏ lá: “Xin lỗi nghe. Có thể đi qua được rồi.”
    Cách mấy chục thước phía trước, họ thấy trung đội của họ đi vào MACV.
    &
    Ngày thứ nhì, từ lúc trời mới sáng, dân chúng bắt đầu ló dạng ra và rồi tuôn ra đường đông đảo ở phía đông nam của thành phố. Phần đông họ là đàn bà và trẻ em, một ít người già và binh sĩ VNCH. Trong một phút hy vọng, Gravel cho rằng chiến trận đã xong và đêm qua, quân địch đã rút lui, không còn cầm giữ dân chúng nữa. Chẳng bao lâu người ta biết không phải tình hình như vậy. Gravel chuyển người tỵ nạn cho các cố vấn quân sự, kiểm soát lại tình hình và củng cố vị trí.
    Như vậy, ông ta có được Đại đội Alpha 1/1, Golf 2/5 và Fox 2/5 mới đến. LLDN X-Ray giao cho ông ta nhiệm vụ mới: Gởi Đại đội Fox tới giữ nhà lao, không cho địch giải phóng tù nhân ở đây. Nhà lao cách khu chiếm đóng của CSBV có mấy lô đất, và theo cảm tưởng chung, cũng như theo tin đại cương thì Cộng Sản đã giải phóng tù nhân ở đây ngay ngày đầu tiên. Ông ta báo cáo lại cho cấp trên là tù nhân đã được thả hết rồi. Do dó, lệnh của LLĐN được thu hồi.
    Vì số thương binh càng lúc càng cao, chẳng bao lâu Gravel nhận ra rằng cần củng cố gấp con đường từ MACV ra bãi đáp trực thăng và bến tàu. Đánh chiếm từng nhà cách để mở đường đi như họ đã thực hiện đêm đầu tiên là điều khó chấp nhận được. Cuối cùng, Gravel ra lệnh dọn một con đường tới bãi đáp trực thăng, bằng cách đánh sập những chỗ tường cản trở đường di chuyển. Đại tá Adkisson giận tím người vì việc phá tường như thế nhưng chẳng làm sao hơn. Đó là con đường chuyển các người bị thương nặng ra bãi đáp trực thăng mà không gặp gì khó khăn. Tuy nhiên, Gravel lại phải đụng đầu với đại tá Adkisson vì một vấn đề nhỏ nhặt khác. Chỉ trong vòng mấy ngày TQLC không còn thuốc hút. Ở PX (Post Exchange) thì đầy thuốc lá nhưng TQLC lại chẳng ai có tiền mua, Adkisson lại chẳng muốn phát không cho lính rồi báo cáo là tổn thất khi đánh nhau. Cuối cùng, biết rằng có thể làm cho binh lính giận dữ, Adkisson ra lệnh mở cửa PX.
    Trên lưng áo giáp, hạ sĩ Jim Soukup vẽ mắt một con bò mộng thật to và viết câu: “Gắng gặp may, Charlie.” Đó là cách làm ra vẽ hiên ngang của một anh TQLC mới 20 tuổi. Nhưng điều Soukup quan tâm là anh ta không muốn thấy một người Việt Nam nào khác trong đời anh ta nữa. Anh ta đã đi đánh trận 10 tháng và mới đi nghỉ phép từ Úc về được 6 ngày thì trận đánh nầy bắt đầu. Sau một thời gian nghỉ ngơi với những người đàn bà mắt tròn, má hồng, bia lạnh, Soukup quyết định là anh ta không muốn chiến đấu cho cái lỗ đít đầy máu hôi hám ấy. Hai tháng còn lại, anh ta muốn đứng ngoài rìa mọi việc nhưng trận đánh Tết làm tan hoang kế hoạch của anh ta. Rồi ngày 1 tháng Hai, lệnh đưa ra là lên yên, nạp đủ đạn vào súng. Và anh ta được đưa tới Phú Bài giữ nhiệm vụ tiểu đội trưởng như cũ. Là một TQLC, xạ thủ súng đại bác không giật. Anh ta tiếp tục phàn nàn. Người trong tiểu đội đều là bạn thân của anh.
    Họ lên một chiếc Sea Knight, kéo lên theo khẩu đại bác không giật 106ly, nặng 350 pound rồi máy bay bay lên. Chiếc trực thăng chất đầy người và trang bị. Soukup chẳng biết là đi đâu cho tới khi đến Huế và được thả xuống bãi đáp gần viện đại học.
    Chung quanh, súng địch nổ lóc bóc. Một tràng đạn trúng sàn máy bay. Xăng và nước chảy quanh chân. Soukup căng thẳng, lo lắng. Anh ta nói như trẻ con: “Đừng rớt.” Chiếc trực thăng đổ nghiêng một bên trên bãi đáp. Cửa sau máy bay bị kẹt, mở có một nửa. TQLC vội vàng nhảy ra khỏi máy bay ở độ cao 10 fít, tìm chỗ núp. Từ bên kia sông, Quân CSBV bắn như mưa vào bãi đáp trực thăng.
    Có mấy TQLC khác xuống bãi đáp rồi, đang la hét và chỉ chỏ. Soukup thấy một tia chớp lóe lên ở cửa sổ một ngôi nhà bên kia sông. Anh ta bắn một tràng đạn M-16.
    Súng tiếp tục nổ. Một anh lính trong tiểu đội chạy tách ra, la hét và bắn loạn xạ chẳng nhắm vào đâu hết. TQLC cúi mình núp sau những cái cây và các hồ nước trên sân cỏ, mắng anh ta. Anh ta không nghe. Cuối cùng mấy TQLC nắm lấy anh và đè xuống đất. Họ quẳng anh ta lên chiếc máy bay sắp bay đi. Soukup không bao giờ thấy anh ta lần thứ hai nữa.
    Quân CSBV bắn thưa dần.
    Soukup và tiểu đội chạy lại chỗ chiếc trực thăng đang chờ, hạ cánh cửa xuống, phụ nhau đưa khẩu súng đại bác ra khỏi máy bay. Từ bãi đáp họ lom khom tiến về phía MACV. Vì họ phải dùng cả hai tay để ôm đại bác nên súng cá nhân lắc lư bên hông. Mọi người ai cũng sợ bị bắn sẻ. Họ vào bên trong và Soukup đi tìm chỉ huy. Anh ta không biết đường và cũng không biết tiểu đội anh phải làm gì. Anh ta không biết trí súng ở đâu và cũng không rõ đạn nằm ở đâu, cũng không biết tiểu đoàn cũng như đại đội ở đâu. Anh ta bèn quyết định nhập với trung đội đầu tiên gặp được và cứ theo thói quen mà chiến đấu.
    TQLC nói họ thuộc Đại đội Fox 2/5. Anh ta không chắc. Mọi sự đều lộn xộn ghê gớm và thật căng thẳng trước khi trận đánh kết thúc. Tiểu đội 10 người của Soukup có 2 người bị giết và 7 người bị thương. Nhưng lại được tăng cường, chỉ có vài đơn vị tăng cường quá trễ.
    &
    Trung úy James V. DiBernado 33 tuổi, xuất thân là một nhà báo TQLC, quê ở Fulton, Nữu Ước, hiện phục vụ tại Bộ phận 5, đài phát thanh và truyền hình Quân Đội Hoa Kỳ đặt tại phía nam thành phố Huế. Ông ta có cách sống hòa hợp giữa TQLC, Việt Nam và nhân viên dân sự trong một căn nhà cách MACV mấy lô.
    Trước hôm đánh nhau, thiếu tá Breth và Swenson đến thăm. DiBernardo cười vì cuộc sống rất tiện nghi hai ông nầy cũng như xếp của ông ta vậy. Hai ông thiếu tá đề nghị DiBernardo dọn vào ở trong MACV nhưng anh nầy từ chối. Chỗ anh ta ở tương đối an toàn. Vậy rồi Cộng Sản tấn công.
    DiBernardo và người của anh ta bị cô lập; chờ hai ngày, tiếp tế bị cắt đứt, lắng nghe chừng tiếng súng trên đường phố. Tới ngày thứ ba, anh ta ra phòng trước khi một ngươi lính canh chạy vào la to là đại đội TQLC đã tới. DiBernardo ra cửa sổ nhìn, thấy lính CSBV lom khom chạy theo bờ tường bên ngoài, sẵn sàng tấn công vào nhà. Anh ta chạy vào phòng khách, mọi người vào vị trí. Anh ta chụp lấy cây súng carbine và ra phục nơi cửa sổ. Người lính CSBV đi đầu bèn rút lui và chuẩn bị ném lại một bọc chất nổ. DiBernarso bắn một tràng đạn, người lính CSBV chết vì bọc chất nổ nổ tung.
    Thế là hai bên đánh nhau. Phía Mỹ nổ súng. Bắc Việt Nam cũng nổ súng, suốt mấy tiếng đồng hồ. DiBernardo bị thương mấy chỗ nơi cánh tay. Ai cũng có bị thương hết. Sau cùng, lính CSBV trèo lên cao, bắn vào mái nhà. Lửa cháy, khói đầy đặc nhà. Người trong nhà bèn chạy ra, vừa chạy vừa bắn. Quân địch bắn vào họ xối xả, người cố vấn kỹ thuật dân sự té xuống chết ngay trên mặt đường.
    DiBernardo và những người sống sót chạy tới cuối khu phố.
    Mấy chục thước trước mặt họ là một đám ruộng trống. Làm sao vượt qua được? Lính CSBV đuổi theo sau lưng. Phía nào cũng có súng nổ. Một tràng đạn trúng vào tay DiBernardo. Chẳng biết chạy vào chỗ nào. Nhìn quanh, họ thấy có khoảng 50 lính CSBV núp ở những ngôi nhà chung quanh. Họ chỉ còn lại có 4 người, ai cũng bị thương vì đánh nhau ban nãy. Họ đưa tay đầu hàng.
    Sau trận đánh, trung sĩ Steve Berntson và Dale Dye, hai phóng viên báo chí của Sư đoàn 1 TQLC tới ngay căn nhà nầy. Họ biết những người trong ban tham mưu làm việc và ở đây. Họ tìm thấy trung sĩ Tom Young nằm chết ngoài bờ hào. Tay bị trói ra sau lưng, phần sau của sọ bị bắn nát. Berntson va Dye gở cánh cửa đặt người bạn của họ lên đó khiêng về MACV. Họ khóc vì họ thấy Tom không gặp may. Họ cũng nghĩ rằng trung úy DiBernado đã chết rồi, không biết rằng DiBernardo đang ở trên đường dẫn ra Hà Nội.
    Mặt trận Huế cũng là nơi bất an cho một người đàn bà Pháp. Đó là bà Cathy Leroy. Sinh trưởng ở Pháp, bà rời trường âm nhạc đi làm phóng viên chiến trường. Nhỏ con, nhanh nhẹn, tóc vàng, bà ta đến các khu đánh nhau ở Việt Nam trong bộ quần jean, giày ống, tóc đánh con rít, máy ảnh treo tòn ten nơi cổ. Để làm nhiệm vụ của mình, bà đi với lính nhảy dù Mỹ, chụp hình các trận đánh dữ dội ở vùng Phi Quân sự hồi mùa hè 1967, bị thương sau đó hai tuần lễ khi một đơn vị TQLC bị pháo kích. Thời kỳ đi theo TQLC Hoa Kỳ, bà viết bài đăng trên tạp chí “Life” (2) TQLC Mỹ luôn nhắc tôi nhớ những điều chúng ta gọi là lính Lê Dương… to mồm với những trái tim vàng.
    Khi Cathy nghe tin TQLC Mỹ đang đánh nhau ở Huế, nơi bà muốn tới, liền đi cùng Francois Mazure, một người bạn phóng viên khác. Nghe TQLC Mỹ đang canh giữ đường, họ tìm một chuyến xe nhà binh đi Huế nhưng không kiếm được, lại gặp một người Việt biết nói tiếng Pháp. Tốn ít đồng bạc, họ thuê một chiếc xe đạp. Đó là chiếc xe đạp đôi hai người ngồi. Họ đạp xe đi Huế trên con đường vắng hoe.
    Dân chúng đóng kín cửa, núp trong nhà. Việc nầy làm cho hai nhà báo bồn chồn. Khi nào thấy có người ló mặt ra nhìn, Mazure la to:
    – “Bonjour!” như để nói cho biết họ không phải là người Mỹ.
    Khi họ tới phía nam thành phố Huế, tiếng súng nổ lốp bốp chung quanh khiến họ nhận ra rằng họ đã đi vào vùng Cộng Sản kiểm soát. Họ lo lắng đứng chung với những người dân đang tụ họp thành cái chợ trời, lắng tai nghe tiếng súng và xem máy bay Quân Đội Nam Việt Nam đánh bom trong Thành Nội. Chẳng ai nói gì với họ, nhưng khi có ai tới gặp họ, họ nói nhanh bằng tiếng Việt rằng họ là các phóng viên báo chí người Pháp từ Paris tới. Những người Việt Nam nầy có vẻ thù địch nên làm cho Cathy và Francois sợ. Họ thấy toát mồ hôi suốt hai giờ đồng hồ. Cuối cùng có một người đàn ông đến gặp họ, chỉ cho thấy một nhà thờ công giáo và đề nghị họ nên vào ở chung với nhiều người tỵ nạn đang núp trong nhà thờ. (Dòng Chúa Cứu Thế – ngd)
    Có mấy ngàn người đang trốn trong nhà thờ. Đám người nầy chẳng giúp đỡ và cũng không nhường đường cho họ đi. Đám trẻ con thì chen lấn hoặc nhìn họ chăm chú.
    May mắn có một linh mục già thấy họ nên đến chào, nói chuyện bằng một thứ tiếng Pháp trôi chảy, chỉ cho họ nhìn chung quanh và nếu như muốn đi một vòng quan sát thì sẽ dẫn đi. Ông linh mục nói với họ rằng hai chục năm trước, vị hoàng đế cuối cùng của Việt Nam cũng được đưa vào trốn trong nhà thờ nầy, khi phong trào Việt Minh nổi lên. Dân chúng trong nhà thờ – phần đông là đàn bà, trẻ em và người già – nằm la liệt khắp nơi, giữa những hàng ghế dài trong nhà thờ, chung quanh bàn thờ. Một người đàn bà mới đẻ nằm nghỉ sát phòng xưng tội.
    Không khí hết sức ồn ào. Trẻ con thì khóc, người lớn nói chuyện, các tu sĩ cầu nguyện lớn tiếng. Bên ngoài súng nổ suốt đêm.
    Hai nhà báo nằm cố ngủ trong một cái phòng nhỏ của một linh mục. Tới sáng, họ được báo cho biết là người Việt ở đây không bằng lòng việc họ có mặt vì họ sợ mặt mũi trông giống như người Caucase, có thể khiến cho Cộng Sản tấn công vào nhà thờ. Một linh mục nói với họ nên tìm đến khu vực Mỹ và một em bé có thể dẫn đường tới MACV. Cathy và Mazure bỏ lại hết các thứ trang bị nhà binh trong nhà thờ, cả giày ống, thẻ nhận dạng, và làm một lá cờ trắng bằng vạt áo của một linh mục. Một linh mục viết một cái thư, giải thích họ là người trung lập, dân sự.
    Họ đi theo em bé dẫn đường ra tới một con đường đầy bụi bặm, chẳng bao lâu thì tới một cái cổng một biệt thự rất lớn (Cung An Định – ngd), bên trong là một vườn hoa xanh tươi. Họ dừng lại, nhận ra có mấy người mặc áo quần màu xanh lá cây, trong dáng bộ mệt mỏi, mang súng AK-47 và nhìn chăm chú vào họ. Em bé dẫn đường phất thật mạnh lá cờ trắng. Có ba người lính CSBV mặc đồng phục kaki đi về phía họ. Họ có vẻ thù địch nhưng không có gì giận dữ nên Cathy thấy đỡ lo một chút. Mazure đưa cho họ bức thư của linh mục nhưng họ không có vẻ gì muốn nhận thư ấy. Khi Mazure, do tự nhiên muốn che cái máy chụp hình thì những người lính CSSBV liền nắm lấy mấy cái máy ấy, rồi ra dấu gọi thêm ba người khác trong vườn hoa. Họ trói tay hai nhà báo lại rất kỷ bằng một sợi giây dù. Có khoảng 15 lính CSBV đang ngồi bên cạnh những cái hố trong vườn cây. Hai nhà báo bị giữ ở đó khoảng 45 phút. Mazure nói tiếng Pháp liên miên, cố chứng tỏ anh ta không có gì sợ hãi cả. Mấy người lính CSBV thì chỉ trố mắt ra nhìn.
    Cuối cùng, một người lính khác tới và dẫn họ ra phía sau biệt thự. Một người da trắng, có lẽ là người Pháp, ngồi sau một cái bàn.
    Mazure hỏi: Ông là người Pháp phải không?
    Ông ta là người Pháp, rất vui khi gặp các phóng viên. Ông ta đi vòng sau lưng và bắt tay họ trong khi tay họ còn bị trói. Ông ta và gia đình cũng là tù nhân ngay chính trong nhà họ nhưng không bị đối xử tàn tệ. Người Pháp giới thiệu một sĩ quan CSBV trẻ đến phỏng vấn. Người nầy khoảng 25 tuổi, có thể một thời là sinh viên du học ở Pháp, anh nầy nói với họ là họ có thể đi. Họ được cởi trói, dụng cụ được trả lại. Người sĩ quan cho biết Cộng Sản đã chiếm thành phố, và họ đang giải phóng toàn thể nước Việt Nam.
    Cathy và Francois lấy lại được bình tĩnh, xin phép cho chụp hình. Người sĩ quan tỏ vẻ thích, đưa họ lui đằng sau góc vườn. Các người lính khác cũng vui sướng đến chụp hình chung. Họ còn trẻ và tự tín.
    Tuy nhiên, đó không phải là bầu không khí thanh bình. Cathy và Mazure chú ý thấy họ chuẩn bị để có thể bắn qua mấy lỗ hỗng trên tường nếu TQLC bất thần đến tấn công. Họ như đang ở giữa cuộc chạm súng, trang bị vũ khí đầy đủ: AK-47, SKS, hỏa tiễn B-40, vũ khí chiếm được do Mỹ chế tạo, máy truyền tin và nhiều đạn dược.
    Sau khi chụp mấy tấm hình, Mazure trở lại biệt thự và tuyên bố một cách vô tình rằng sẽ viết lại câu chuyện nầy. Chẳng ai phản đối.
    Người Pháp mời mọi người hút xì-gà, bắt tay và chúc mọi người may mắn. Cathy và Francois cùng với em bé dẫn đường đi ra cổng. Họ quyết định trở lại nhà thờ, được an toàn hơn rồi sau đó tìm đường khác để tới MAC.V.
    Dân chúng ở nhà thờ biết ngay họ có tiếp xúc với CSBV.
    Thằng bé dẫn đường tỏ ra tự hào về việc nó đã làm. Hai nhà báo vui cười, lại cố làm cho có vẻ vui lên và thêm hứng khởi. Những người dân chạy giặc cũng cười, chia vui với họ. Họ biếu hai nhà báo thức ăn. Vị linh mục tiễn họ ra cửa và chào từ biệt.
    Chỉ có Cathy và Mazure đi trên đường. Họ cẩn thận đi ngang một khu không có một bóng người. Có lúc họ khom mình đi qua khu Quân đội VNCH để tránh xa chỗ đang có đánh nhau. Họ thoát ra được ngoài thì trời đã chiều.
    &
    Đại đội Fox 2/5 được sắp xếp lại sau khi rút lui về tới MAC.V.
    Đại úy Downs được lệnh cho lính qua bên kia đường, ngang chỗ bãi đáp trực thăng để dò thám vị trí địch. Trung đội 3 di chuyển trước và khi vòng tới cuối đường thì thấy TQLC Đại Đội Alpha 1/1 và Golf 2/5 trên các cửa sổ. Họ dồn đống ở ngã tư. Hạ sĩ Carter chạy lom khom dọc theo bờ tường cùng với toán súng máy M-60. Phía trên, hai TQLC và trung sĩ Mahoney đứng gần cuối bức tường. TQLC là những người chiến đấu trong rừng rậm rất giỏi, nhưng đánh nhau trên đường phố với họ là điều mới mẻ. Họ không biết rằng nếu cứ đi thẳng mình là coi như mời thần chết tới. Họ không biết trước khi di chuyển là phải dọn đường bằng lựu đạn và M-16. Họ thiếu kinh nghiệm về loại tác chiến nầy. Do đó, người ta hiểu tại sao hai người lính TQLC và anh trung sĩ đi qua đường bên kia trông như đi tản bộ.
    Trung sĩ Mahoney bất thần phóng vào chân tường và ra dấu cho hai người lính TQLC bắn yễm trợ cho anh ta. Ngay lúc đó, – Carter há họng ra mà nhìn – AK-47 nổ một tràng trên đầu anh trung sĩ. Anh nầy to con, rơi xuống bên cạnh Carter một cái bịch như một bao đá. Anh ta bị bắn nát mặt, chết tức khắc. Carter nắm tay anh ta kéo lui nhưng chẳng nhúc nhích được gì. Carter không nghĩ anh trung sĩ nặng đến như thế. Carter gọi to, kêu người đến giúp. Hai TQLC chạy tới. Một loạt súng bất thần từ căn nhà bên kia ngã tư nhắm tới. Đạn rớt chung quanh, dụng vào bức tường. Tất cả bọn họ trườn lui để tránh đạn. Carter ở đằng sau bức tường, thở khó nhọc, không ngờ mình còn sống.
    TQLC bắn trả. Trong khi đó mấy TQLC chạy lên lôi xác Mahoney lui. Rồi họ cùng nhau về lại MACV.
    Đêm đó, quân CSBV lại bắn vào các bức tường ở MACV, cố tấn công như những lần trước, nhưng bị TQLC phản công mãnh liệt nên chịu thất bại. Đêm đó, Đại đội Fox không đánh nhau. Họ được vào nghỉ trong một căn nhà lầu trong khi súng vẫn nổ ngoài cửa sổ. Ngày đầu tiên của họ ở Huế khá vất vả và một TQLC mới tới Việt Nam bỗng nổi cơn điên. Anh ta đứng lên, la to là anh ta không thể chịu đựng được, rồi khóc, rồi chạy lòng vòng quanh những người đang ngủ.
    Mấy TQLC nắm lấy anh ta, đè xuống và tống anh ta ra khỏi Huế. Tiếng súng bên ngoai mỗi lúc mỗi thưa và dứt hẵn, đám lính ngủ được một giấc ngon.
    Buổi sáng ngày thứ Sáu, 2 tháng Hai/1968, TQLC thấy cầu Trường Tiền trên sông Hương bị giựt sập. (TQLC gọi cầu Trường Tiền là cây cầu bạc vì nó sơn màu bạc). Có tiếng nổ lớn và khi khói, bụi tan hết, họ thấy hai vài giữa rơi xuống nước. Giao thông giữa bờ nam và Thành Nội bị cắt đứt. Chẳng có sẵn đơn vị công binh nào để sửa cầu. Có tin báo quân địch xuất hiện bên kia sông, gần đầu cầu. Họ là những người lớn con, lớn hơn khổ người Việt Nam trung bình và mặc một thứ quân phục khác với CSBV hay Việt Cọng. Đầu tiên, người ta cho đó là một trung đội quân Trung Cọng. Cũng có thể là không phải nhưng cũng chẳng ai phủ nhận.
    Về phần Carter, anh ta thấy buổi sáng đến nhanh quá, TQLC ăn sáng xong rồi lên đường, đi ra phía ngoài, tuần tiểu trên đường phố chính. Carter đi giữa với Trung đội 3, sau lưng là đại úy Downs và anh lính mang máy truyền tin. Họ đi dọc theo con đường có hai hàng cây hai bên. Phía trước mấy tay bắn sẻ núp trên các cây cọ dừa bắn vào trung đội đi đầu. TQLC bắn lại như mưa, hạ mấy tên bắn sẻ. Những tên bắn sẻ nầy từ trên cây nhảy xuống, tính bỏ chạy thì bị bắn hạ ngay. Họ đi xa hơn nữa, ngang qua một chiếc xe Jeep đã bị phá hư, có mấy xác quân CSBV nằm trong bùn và giây kẽm gai.
    Trung đội đi đầu tới ty Cảnh Sát nằm cách MACV mấy lô nhà. Các TQLC ai cũng ngạc nhiên khi mấy cảnh sát Nam Viêt Nam từ trên những phòng nhỏ trên nóc nhà ló mặt ra rồi chạy xuống . Họ vừa khóc vừa cầm lắc tay các TQLC rồi quì xuống cám ơn. Người thông dịch viên đến hỏi chuyện thì được biết họ trốn trên trần nhà mấy ngày trong khi Cộng Sản chiếm tầng dưới. Chỗ nầy bị đạn bắn lỗ chỗ. Carter nhìn vào trong, có vết máu dính vào tường. Mấy xác người nằm trong đống gạch vụn. Vài TQLC vào bên trong và kéo các xác người ấy ra ngoài sân. Carter không nhận rõ những xác nầy là ai: CSBV, VC hay QĐ/VNCH hay dân sự. Anh ta nghĩ chẳng có ai lưu tâm đến họ, dù là ai đi nữa thì họ cũng như nhau.
    Lại có tiếng súng bắn sẻ. Những người bắn sẻ nầy núp chung quanh nhà thờ. TQLC tập trung phía sau ty Cảnh Sát, chỗ đó có con đường đất dẫn qua nhà thờ. Một chiếc xe tăng loại nhỏ trang bị súng chống chiến xa 106 ly lách cách chạy tới. Carter nhắm vào ống nhắm đặt trên xe. Súng nổ ầm, lá cây và bụi bay mù mịt. Cái tháp chuông nhà thờ cao mấy chục thước vỡ tan, cửa kính bay mất, mặt sau nhà thờ bị sập. Bụi bay lên, một đám đông từ trong nhà thờ chạy ra như ong.
    Carter nhìn vào khẩu súng, rồi nhìn vào đám dân chúng đang kinh hoàng và bị thương. Chẳng ai muốn giết những người dân vô tội.
    Cathy Leroy, đang đứng chụp hình, liền chạy về hướng các TQLC. Thấy người sĩ quan đầu tiên, một bà xơ (Soeur) ta nắm tay la to: “Có bốn ngàn người chạy giặc núp trong đó. Họ không phải là quân Cọng sản. Họ là dân.” TQLC đã ngưng bắn nhưng trong khi đó thì Cọng Sản vẫn cứ tiếp tục nổ súng. Những người chạy giặc mang bao bị, bồng bế trẻ em, có người cột một miếng vải trắng vào đầu gậy. Họ lết thết chạy về phía MACV.
    Hạ sĩ Soukup đặt súng đại bác không giật 106 ly trên lề đường cách MACV hai lô nhà. Trước mặt là quân CSBV. Đám xạ thủ làm việc chiếu lệ, đẩy vào trong nòng một viên đạn dài, đóng cơ bẩm, bấm nút. Cứ bắn mỗi viên thì cát bụi lại bay lên. Viên đạn nổ phùm ở cuối đường. Soukup đứng ở ngưỡng cửa với một đám TQLC nhưng anh ta không biết họ, chờ lệnh để nhắm mục tiêu.
    Có tiếng kêu rắc trên không. Có cái gì như mảnh đạn trên đầu Soukup, bay vào đụng bức tường bên trong nhà. Khi rảo bước vào trong, anh ta thấy vết đạn xuyên thủng bức tranh treo trên tường. Bức tranh có thể dùng làm vật kỷ niệm. Anh ta nhét bức tranh vào balô và nhăn răng cười. Nhưng rồi anh ta lặng người đi khi nhận ra rằng một anh lính CSBV nhắm một đường đạn đi thẳng từ đầu anh vào tới bức tranh. Rõ ràng kẻ bắn lén muốn giết anh ta. Đó không phải là một tràng đạn bắn hoảng mà một mục tiêu được nhắm đàng hoàng. Chỉ cần viên đạn đi thấp một chút nữa thì anh ta trở thành một đống thịt. Anh ta té xuống rồi lết vào trong.

    Chú thích:
    Alamo: Phòng tuyến của Tây Ban Nha tại San Antonio, Texas. Đây là di tích lịch sử anh hùng. Năm 1836, chưa tới 200 người Texas cố thủ ở đây chống lại Mexico để bảo vệ độc lập. Trong số những người nầy có Davy Crockett và Jim Bowie hy sinh trong cuộc bao vây lâu dài của 4 ngàn lính Mexico do tướng Santa Anna chỉ huy. Câu nói Nhớ Alamo là nhắc tới cuộc bao vây nầy.
    (2) Life, xb ngày 16 tháng Hai/ 1968. Từ trang 22 đến 29.

    Chương 3: Bắt đầu đánh chiếm từng nhà Ty Ngân Khố và Bưu Điện

    http://i57.tinypic.com/2bdylc.jpg


    Vài lời trình bày:
    Trước khi vào Chương 3, tôi xin nói vài điều về trường hợp tôi.
    Các Thủy Quân Lục Chiến Mỹ đã núp ở phía trường Trung Học Đệ Nhị Cấp Bán Công Huế để tấn công vào Ty Ngân Khố (người Huế thường gọi nôm na là Kho Bạc). Một người lính TQLC Mỹ, 19 tuổi, đã tử trận ở sân cỏ của ngôi trường nầy.
    Đây là ngôi trường tôi đã dạy học ở đó 10 năm. Sau khi tình hình an ninh vãn hồi, tôi đi dạy lại, và được nghe ông cai trường thuật lại cái chết của người lính ấy, một cái chết rất đáng thương.
    Khung cảnh của trường sau trận đáng năm Mậu Thân, làm cho một nửa học trò của tôi, trai cũng như gái, đeo khăn tang khi đi học trở lại. Đó là lý do khiến tôi “tự ý bỏ viên phấn đi cầm súng”.
    Cũng vì câu chuyện đó, tôi đặt thêm cho Chương 3 nầy một đầu đề mới:

    “Người Lính Mỹ Chết ở Sân Cỏ Trường Bán Công Huế”.

    Kính cẩn.

    Phần 1:

    Của người dịch.
    Tôi học đại học năm đầu tiên vào niên khóa 1958-59, sau ba năm làm precepteur tại nhà một người bà con. Rời khỏi nơi sống tạm nhưng khá yên ổn ấy, nỗi lo cơm áo hằng ngày đè nặng lên vai tôi. Tôi ở lang thang nhiều nơi, tìm những nơi nấu cơm tháng rẻ nhứt, chỗ ở rẻ nhứt vì tôi không tìm ra một công việc gì khác có thể giúp tôi, ngoại trừ một ít tiền nhuận bút nhờ cộng tác với tờ Rạng Đông của giáo sư LHM. Những người đã có uy tín trong giới báo chí còn chưa sống nỗi với nghề cầm bút, huống gì tôi, mới chỉ là một “Mầm non văn nghệ”. Tôi mong cho chóng tới hè để về quê, thị xã Quảng Trị, sống với mẹ, bớt lo chuyện cơm áo.
    Nhưng niên học tới, gánh nặng đè trên vai tôi lại có phần gia tăng. Mẹ tôi đã già, muốn nghỉ việc. Các anh chị đều có gia đình riêng. Tôi có ba đứa em: Hai đứa em gái, một cô đã lấy chồng, tạm yên phần nó. Một đứa vừa thi hỏng trung học, nói: “Sang năm em ở nhà, tự lo học để thi lại”. Riêng “Hùng móm” mới vừa đậu trung học, hạng bình. Trước mặt anh chàng nầy, ngôi trường Quốc Học mở ra tươi sáng, đang chờ anh ta bước vào. Việc ăn ở học hành của Hùng là gánh nặng trên vai tôi, ngoài phần tôi tự lo cho bản thân mình.
    Gần hết hè, tôi vào Huế sớm để kiếm một chỗ dạy học. Lúc bấy giờ, tôi có thể xin bổ dụng làm giáo sư dạy giờ tại một vài trường trung học xa Huế. Nhưng ngay tại Huế thì không có nhu cầu. Tôi không thể xa Huế, một là vì việc học của Hùng cần có tôi bên cạnh, hai là tôi cũng không muốn gián đoạn việc học của tôi vì phải đi xa. Tôi không quen ai, thấy khó xin một ít giờ dạy tại các trường tư ở Huế. Tôi có nhờ giáo sư LHM xin dạy ít giờ ở trường Bình Minh gần cầu Thanh Long do cha Lập làm hiệu trưởng, nhưng khi tôi gặp ông ấy lần thứ hai thì ông lắc đầu, không hy vọng gì. Trước tình trạng bế tắc như thế, tôi làm một cái đơn, một bức thư thì đúng hơn, kể lể hoàn cảnh của tôi và xin dạy ở trường Trung Học Đệ Cấp Bán Công Huế. Đây là trường Đệ Nhị Cấp, chỉ có mấy lớp Đệ Nhứt Cấp, làm sao tôi có thể có giờ dạy ở đây được. Nhìn thành phần giáo sư ở đây, tôi thêm thất vọng. Toàn là những bậc “Lão Tiền Bối”: Cụ Đinh Thành Chương, cụ Lâm Toại, cụ Lê Trung Chi, các ông Cao Xuân Lữ, Trần Điền… là những bậc thầy của tôi.
    Chẳng qua, trước tình trạng không có lối thoát, tôi chỉ làm một công việc cầu âu.
    Tôi không có nhà ở Huế, mượn tạm địa chỉ người chị dâu tôi để tiện liên lạc. Một tuần lễ sau, khi tôi ghé lại nhà chị tôi, Mỹ Châu, cô em gái của chị, hỏi tôi:
    – “Trường Bán Công kêu anh đi dạy, anh biết chưa?”
    Tôi nói chưa. Cô ta bảo:
    – “Anh qua trường gấp đi kẻo người ta mời người khác mất”.
    Tôi đạp xe thật nhanh đến trường. Đoạn đường dài ba cây số bị nuốt đi thật nhanh. Khi tôi dựa chiếc xe vào vách tường, bác cai trường chưa kịp khóa cổng thì tôi đã nhảy ba bước đứng ngoài hành lang. Tôi vuốt lại tóc, sửa lại cái áo trắng hơi ngã màu “cháo lòng”, vuốt lại cái quần kaki màu xanh biển, lấy khăn tay chùi bụi bám vào đôi giày “xăng-đan” cũ, bước vào cửa chính. Trước mặt tôi là ông Nguyễn Văn Hai, một người đang mang trên vai một lô chức vụ: “Giám Đốc Nha Đại Diện Giáo Dục”, “Dân Biểu Quốc Hội” và Hiệu Trưởng ngôi trường nầy. Tuy nhiên, tôi cũng không ngại lắm vì mấy năm trước, ông ấy là hiệu trưởng trường Quốc Học (khi ấy còn mang tên Khải Định) và tôi đã gặp ông vài lần vì công việc báo chí của trường. Tôi đứng thẳng, chào: “Thưa thầy!”
    Bên cạnh bàn ông, ông Châu Trọng Ngô, giáo sư Toán của tôi mới chỉ cách đây hơn một năm. Hai người đang thảo luận công việc gì đó. Ông Hiệu Trưởng nhìn tôi hỏi:
    – “Cậu là Hoàng Long Hải?”
    Tôi trả lời: “Thưa thầy, vâng”.
    Ông ta nói: “Cậu chờ ta một chút”. Tôi thấy hơi vui. Biểu chờ tức là còn có hy vọng. Với những học trò ông có cảm tình, ông thường tự xưng ông bằng “ta”.
    Chưa đầy một phút, ông ta ngưng thảo luận với ông Châu Trọng Ngô, hỏi tôi:
    – “Cậu học gì bên đại học?”
    – “Thưa thầy, con học luật và văn khoa”. Tôi nói theo đúng lễ nghĩa hồi ấy: Gọi bằng thầy và xưng con, dù thầy còn trẻ.
    Ông ta nói ngay:
    – “Học làm chi cho nhiều. Bỏ văn khoa đi. Học luật thôi, sau dễ kiếm việc. Học luật dễ lắm, chỉ cần một tháng trước ngày thi, học riết vào mà thi, còn cả năm lo đi dạy”.
    Ngưng một chút, ông ta nói tiếp:
    – “Hiện có ba lớp Việt Văn Đệ Ngũ, hai lớp Việt Văn Đệ Tam, cậu dạy hết đi. Được không?”
    Tôi mừng khấp khởi. Chừng đó giờ dạy, đủ cho tôi và hai đứa em sống và học hành thoải mái. Tôi trả lời:
    “Thưa thầy, được”.
    Cụ Võ Mão, giám thị, ngồi phía bàn của cụ, nhìn ngang với bàn hiệu trưởng, nói:
    – “Chút nữa có hai giờ ở lớp Đệ Ngũ 2. Thầy coi có dạy ngay được không. Không thì tôi cho học trò về”. Ngưng một chút, ông cụ nói tiếp: “Học trò về giữa buổi là phiền lắm”.
    Tôi vội trả lời:
    – “Tôi dạy được!”
    Ông Châu Trọng Ngô, giáo sư, còn đứng bên cạnh bàn ông Hiệu Trưởng, e ngại hỏi:
    “Hải xem có dạy được không? Chưa chuẩn bị gì cả”.
    Tôi là học trò của ông, biết tính ông rất cẩn thận, bài dạy ông soạn rất kỹ nên ông ta mới nói thế. Tôi trấn an:
    – “Không can chi thầy. Vô lớp, giảng lại chương trình cho học trò, giới thiệu sơ qua những tác phẩm, tác giả sắp sửa học cũng đã cả tiếng đồng hồ rồi. Rồi còn chuẩn bị cho bài mới, có lẽ không dư giờ bao nhiêu”.
    Ông ta nói, vẫn giọng ôn tồn muôn thuở:
    -“Vậy thì Hải vào phía trong uống nước, chờ chuông reo thì theo cụ Mão vào lớp”.
    Sau nầy tôi nhận ra rằng tôi được giao nhiều giờ dạy chẳng phải tôi tài cán gì cả. Ông Nguyễn Văn Hai, Hiệu Trưởng là người quê ngoại ở Quảng Trị, họ Hồ làng Cổ Thành. Ông rất thương những người cùng quê mẹ của ông. Có lần ông nói với tôi: “Học trò Quảng Trị thuộc vùng giới tuyến, đất đai nghèo nàn lại bị chia cắt. Tâm lý chúng phức tạp, nghịch ngợm, ưa phản kháng nhưng học chăm”.
    Tôi vào phòng uống nước, vuốt tóc lại cho gọn, rồi lấy ly uống nước trà. Nhìn lên tấm gương soi, tôi thấy thích thú bởi một câu ai viết một cách nắn nót, cẩn thận dán lên phần trên cùng tấm gương soi: “Sĩ phu ba ngày không đọc sách, soi gương thấy mặt đáng ghét, nói chuyện lạt lẽo khó nghe”. – Hoàng Đình Công. Tôi cũng là người mê sách. Khi chuông reo đổi giờ, tôi bước ra cửa chính văn phòng. Cụ Mão đứng chờ tôi ở đó, tôi theo cụ lên lầu trên. Lớp Đệ Ngũ 2 ở ngay giữa lầu.
    Khi tôi đưa mắt nhìn quanh lớp thì học sinh ngưng không thì thào nói chuyện nữa. Tôi không “khớp” nhưng hơi ngại. Học trò Đệ Ngũ, khoảng từ 13 đến 15, 16 tuổi, kém tuổi thầy không bao nhiêu. Xem ra thì có mấy anh lớn con ngồi phía sau cùng còn hàng đầu có hai chị em CTTN. Minh Nghĩa và Bửu Trí nhỏ tuổi và nhỏ con nhứt, ngồi lọt thỏm trong cái ghế Macadi (Học trò ở đây ngồi ghế Macadi như ở đại học) trông như con gấu vải đặt vào cái ghế nhỏ trong phim ciné.
    Tôi nói sơ qua về bài giảng sắp tới và nói chuyện thơ về “Phong trào thi ca lãng mạn tiền chiến” cho học trò nghe. Ai nấy đều im lặng. (Xem “Một Chút Tình Thu”) Khi tôi bắt đầu nói tới “Cõi âm trong thơ”thì chuông reo hết giờ. Tôi phủi phấn bảng bằng cách xoa hai bàn tay vào nhau, chuẩn bị bước ra khỏi phòng. Không vở, không sách, không một mảnh giấy, suốt hai giờ nói chuyện thơ, tôi hơi mệt. Một học sinh ngồi ở đầu phòng nói vừa đủ nghe: “Đi dạy hai tay không, như một nghệ sĩ”. Câu nói đó ám ảnh tôi suốt mấy năm, nhứt là nhiều khi tôi vào lớp với hai tay không và khi xem bức hí họa trên báo Sổ Tay Sư Phạm do Đ.C. vẽ. Câu chú thích trong hình vẽ là: “Thầy giáo phải là một kịch sĩ”. Tôi nghĩ khác thế. Nếu là một thầy giáo dạy môn văn chương, thì thầy phải là một nghệ sĩ chứ không hẵn là kịch sĩ mà thôi. Kịch sĩ còn có đạo diễn. Nghệ sĩ là người tự mình làm đạo diễn cho mình, bằng tâm hồn của mình. Và cái tinh hoa của “người xưa” được diễn đạt lại cho “người đời sau” bằng tâm hồn nghệ sĩ ấy. Những người học với tôi giờ đầu tiên chiều hôm ấy, sau nầy, trong lĩnh vực văn học, báo chí có người rất thành công: Đó là nhà thơ Hoàng Xuân Sơn, nhà báo Ngô Vương Toại, nhà văn Hoàng Ngọc Tuấn, và một số người thành công trong lãnh vực khoa học kỹ thuật.
    Tôi tưởng tôi chỉ dạy ở ngôi trường nầy vài năm sau khi tôi học xong và “Hùng Móm”, em tôi vào đại học, có thể tự lo liệu cho Hùng được. Thế mà cuộc đời đưa đẩy, tôi dạy ở đây mười năm. Trong thời gian ấy, năm nào tôi cũng chuẩn bị một chuyến rời trường đi xa, nghe như có tiếng gọi giang hồ ở cuối thiên nhai mà không đi được, cho đến Tết Mậu Thân.
    Sau tết Mậu Thân, học trò lục tục đi học trở lại. Nhìn bọn chúng, tôi bỗng mất tinh thần. Lớp nào cũng vậy, hơn một nửa nam sinh mang băng tang đen trên áo còn nữ sinh thi bịt “khăn chế” ngang đầu. Đứa mất cha, đứa mất anh, đứa mất chị… Con gái tuổi 15, 17 quấn khăn tang ngang đầu là một hình ảnh đau đớn não nề. Câu thơ của Xuân Diệu “Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang” chỉ có thể là cái đẹp trong văn chương, còn trong đời thực đó là một hình ảnh đau thương xoáy vào tận đáy lòng nhân ái.
    Đi dạy lại chưa đầy một tuần, tôi bỏ lớp xuống văn phòng, nói với anh Ấu Đức Tài, hiệu trưởng, rằng tôi nghỉ dạy, chuẩn bị nhập ngũ. Ai cũng chưng hửng vì tôi đang được hoãn dịch. Mấy người bạn thân xúm lại hỏi tôi, tôi không nói thẳng ý tôi là “muốn chống Cộng bằng bóp cò súng chứ không bằng phấn bảng” (Câu tôi hay nói đùa với bạn bè) vì sợ mất lòng họ, cho họ là không “gan” như mình, nhưng ai cũng cho rằng tôi điên. Bỏ dạy trình diện nhập ngũ trước khi hết hạn kỳ hoãn dịch, mà còn có thể xin tái hoãn dịch được nữa, là một hành động điên rồ.
    Tôi gọi điện thoại cho người em rể đang làm việc ở Quân Y Viện Nguyễn Tri Phương, hẹn có rảnh lái xe qua đưa tôi vào trình diện phòng Tuyển Mộ Nhập Ngủ Thừa – Thiên / Huế.
    Trong khi chờ người em tới, tôi bước ra bãi cỏ trước sân văn phòng. Thợ hồ đang xây lại chỗ tường bị bắn thủng, phía ngó qua bên kia đường Hoàng Hoa Thám là Ty Ngân Khố.
    Bác Nguyễn Tốn, cũng quê ở Quảng Trị, cai trường, đang đứng đó, kể cho tôi nghe:
    – “Một thằng lính Mỹ rất trẻ chết ngay chỗ ni (nầy)”.
    Thấy tôi đưa mắt hỏi, bác nói tiếp:
    -“Từ chỗ ni, nó phóng qua cái lỗ ni, qua bên tê (kia) đường. Nó bị đạn bắn vô đầu. Một thằng khác cỏng nó về đây, rồi nó nằm chết ngay chỗ ni, trên cỏ”.
    – “Sao bác biết rõ vậy?” Tôi hỏi.
    Bác cai trường nói:
    – “Mấy bữa đó, tui với vợ con tui núp phía sau “ga-ra”. “Ga-ra” ni mái đúc, không sợ pháo kích. Một thằng lính Mỹ còn trẻ lắm, khoảng 18, 19 tuổi, buổi sáng hôm nớ (ấy) nó ngồi nghỉ ở con đường hẽm giữa “ga-ra” với lớp Đệ Nhị. Nó ngồi dựa lưng vô tường, tay cầm tấm hình, nó gọi chi đó, rồi khóc. Tôi hỏi thằng con trai tui. Thằng con tui nói: “Nó kêu mạ ơi! “Hi! Mom”. Tiếng Mỹ là “mạ ơi” đó. Có lẽ người trong hình là mạ nó”. Một lúc sau, thấy mấy đứa dỏ (nhỏ) con tui lấp ló, nó kêu lại cho mấy miếng “sô-cô-la”. Rồi lấy mấy hộp thịt hộp, mứt, cho mấy đứa dỏ. Thấy mấy đứa dỏ còn thèm, nó nói hết rồi, còn hẹn ngày mai đem cho nữa.
    “Nhưng khoảng xế trưa thì có lệnh tấn công Việt Cộng núp bên Ty Ngân Khố. Nghe lệnh, thằng lính leng teng chạy ra, mình mang balô nặng trịch. Nó theo mấy thằng tê, chui qua lỗ hàng rào, phóng qua bên tê, rồi bị đạn vô đầu. Thiệt tội nghiệp cho thằng lính Mỹ, chết còn quá trẻ!
    Người xưa nói: “Nhân chi tương tử, kỳ ngôn giả thiện”. Thằng lính Mỹ không biết văn chương, không nói một cách bóng bẩy như Lưu Bị. Nó vừa khóc gọi mẹ vừa chiến đấu. Nó gọi bằng một lời chân thật nhứt: “Mom”. Đó là tiếng gọi Mẹ. Mẹ là nơi người ta sinh ra mà cũng là nơi người ta trở về. Mẹ là chân nguyên. Ra đi từ nơi mẹ, là ra đi từ chân nguyên, và chết là trở về với chân nguyên, với mẹ. Số phận con người! Đáng thương thay!
    Thằng lính Mỹ bên kia Thái Bình Dương qua chết nơi nầy. Chết cho ai? Cho quyền lợi tư bản Mỹ, cho quyền lợi của nhân dân Mỹ, hay cho quyền lợi của nhân dân Miền Nam Việt Nam. Nhìn vào lăng kính nào chúng ta cũng thấy có lý và không có lý cả, nhưng nếu nhìn vào mặt nhân bản thì những cái chết của người lính Mỹ trên đất nước nầy, hay của chính người lính miền Nam chết ngay trên quê hương của họ, há không phải là để bảo vệ tự do, chống lại một chế độ độc tài tàn ác hay sao? Và không ít những người học trò của tôi, nghe theo lời thầy dạy trong câu thơ “Chinh Phụ Ngâm”: “Xếp bút nghiên theo việc đao cung” đã bỏ mình trên chiến trường đâu đó.
    Trong ý nghĩa bảo vệ tự do, chống lại một chế độ độc tài tàn bạo thì những cái chết đó là có lý tưởng, là những hy sinh cao cả thật sự, vinh quang thật sự cho cả nhân loại chứ không phải chỉ riêng cho ai, cho một dân tộc nào. Đó cũng là ý nghĩa của sự gần gũi giữa những người khác màu da, khác chủng tộc đứng chung một chiến tuyến vậy.
    Trong suy nghĩ đó, tôi bước lên ngồi trên xe để người em rể đưa đi trình diện nhập ngũ, nghe như có lời kêu gọi của một chuyến phiêu bạt phương xa, mà lòng không còn một chút đắn đo, suy nghĩ.
    người dịch


    Phần 2: Dịch từ sách của Keith William

    Các đồng sự nói rằng trung tá Ernest C. Cheatham, Jr. là sĩ quan khéo léo nhứt mà họ đã từng phục vụ. Đó là điều họ muốn nói tới ông ta.
    Ông ta người cao lớn, 6 fít, một cựu cầu thủ bóng bầu dục chuyên nghiệp, hăng hái, tài ba, can đảm của một cấp chỉ huy quân đội. Ông là người có trách nhiệm cao theo phương cách của tướng Patton (thường gắn cặp kính che mắt trên mũ sắt), ông ta quan tâm sâu sắc đến các TQLC trẻ dưới quyền chỉ huy của ông. Trong tiểu đoàn người ta gọi ông là Big Ernie.
    Ông ta bị vỡ mộng. Ba trong bốn đại đội của ông: Fox, Golf và Hotel đang chiến đấu ở Huế. Trong khi ông ta thì bị kẹt lại ở Phú Bài mà không biết việc gì đang xảy ra cho binh sĩ của ông. Ông ta quấy rầy Trung Đoàn Trưởng, đại tá Robert D. Bohn, và cuối cùng, ngày 3 tháng Hai, ông ta được lệnh nắm lại tiểu đoàn. Họ tổ chức một đoàn xe. Cheatham và trung sĩ tham mưu trên một chiếc xe Jeep, ban tham mưu tiểu đoàn thì chen nhau trên những chiếc xe Jeep có gắn máy truyền tin. Lính bổ sung, ban Chỉ Huy, Đại Đội Công Vụ, Văn Phòng thì lên xe GMC. Một chiếc có trí súng đại liên 50 đi đầu để giữ an ninh. Cũng trên GMC trong chuyến đi có đại tá Stanley Smith Hughes, vừa mới được chỉ định làm Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn TQLC số 1, chịu trách nhiệm chỉ huy và kiểm soát Lực Lượng Đặc Nhiệm thành phố Huế.
    Đoàn xe tiến ra QL. 1, lên hướng bắc vào lúc sáng sớm. Lại cũng là câu chuyện cũ: Bầu trời xám xịt, không có dấu hiệu gì về phía địch, không có bóng người. Họ vượt qua sông Phú Cam (An cựu), hướng về phía MACV và bị quân CSBV tấn công. Từ trong các tòa nhà, AK-47 bắn ra như mưa. TQLC 1/ 1 ở một bên, bắn trả. Đoàn xe tiếp tục di chuyển. Một chiếc xe Ontos trên đường bị giật mạnh vì trúng đạn B-40. Phía tay mặt súng bắn dữ hơn, phía sau là gần nhà thờ công giáo.
    Khoảng 1 giờ chiều, họ vào tới MACV.
    Đại tá Hughes gọi ngay Gravel và tức thời lập bộ chỉ huy trong câu lạc bộ sĩ quan trong MACV. Hughes là người được chọn đúng để chỉ huy cuộc hành quân. Quê ở tiểu bang Nữu Ước, người chắc nịch, da hơi đen – có mang huyết thống da đỏ – ít nói, thân mật. Năm 1944, khi còn là một trung đội trưởng trẻ, ông đã được thưởng huy chương Hải Quân do chỉ huy thêm hai trung đội sau khi các sĩ quan bị tử thương trong một cuộc tấn công dữ dội vượt qua một con suối ở mũi Gloucester. Khi làm trung đoàn trưởng, ông được mọi người kính trọng.
    Tại Bộ Chỉ Huy Hành Quân, Hughes và ban tham mưu trung đoàn đặt bản đồ xuống và cố xem xét coi thử ở Huế đang xảy ra chuyện gì và phải ứng phó như thế nào. Tướng LaHue và những người ở LLĐN X-Ray không có tin tình báo chắc chắn. Thực ra, chẳng ai nắm chắc tình hình địch. Có một điều Hughes hy vọng được là những gì ông hiện có trong tay để ứng phó ngay tại mặt trận. Buổi chiều ngày 3 tháng Hai hôm đó, trong tay ông ta có: Đại đội Fox, Đại đội Golf và Đại đội Hotel 2/ 5 do trung tá Cheatham chỉ huy.
    Hầu hết Đại đội A và Trung Đội Công vụ 1/ 1do trung tá Gravel chỉ huy.
    Toán súng cối và đại bác không giật lấy từ Đại Đội Công Vụ của tiểu đoàn; xe vận chuyển súng chống chiến xa của chi đội; Chi Đoàn Chiến Xa số 1; bốn chiến xa còn lại của Chi Đoàn 3 Chiến Xa thuộc Sư Đoàn 3/ TQLC, xe trang bị đại liên 50 của Pháo Đội D, Tiểu Đoàn 1, Trung Đoàn 44/ Pháo Binh và Trung Đội Pháo Dã Chiến của VNCH.
    Nhân viên Toán Cố Vấn số 3 tại MACV, thủy thủ tàu Hải Quân ngoài bến tàu sông Hương, một số nhân viên mới được gởi tới tăng cường, một số TQLC thuộc Tiểu Đoàn Quân Vận số 1 giữ nhiệm vụ chuyển vận giữa Huế và Phú Bài. Một số ít đơn vị thuộc QĐ/ VNCH.
    Lệnh của đại tá Hughes là quét sạch Cộng Quân tại khu nam thành phố Huế, nửa mặt trận bên kia sông, trong Thành Nội, do tướng Trưởng và QĐ/ VNCH chịu trách nhiệm, không có sự hỗ trợ của bộ binh Hoa Kỳ. Với ý đồ như thế, đại tá Hughes vội vàng vạch kế hoạch. Cheatham gánh một trách nhiệm nặng nề, đẩy lùi quân địch từ MACV dọc theo sông Hương tới ngã ba sông An Cựu, chỗ khúc sông nầy nối với sông Hương (khu trường Pellerin – ngd). Trục hành quân chính cho Đại đội 2/5 là dọc theo đường Lê Lợi, đường nầy chạy song song với sông Hương, (chỗ khúc đường nầy hơi cong là bộ Chỉ huy của quân Cộng Sản và hầu hết quân lính họ tập trung ở đây). Đơn vị 1/ 1 của Gravel hành quân cùng Đại đội 2/ 5 dọc theo sông An Cựu, giữ an ninh QL. 1 giao thông với MACV. Trong hai nhiệm vụ nầy, nhiệm vụ Gravel dễ hơn vì đơn vị của ông thiếu quân số trầm trọng. Vã lại, so ra thì Gravel tính tình cẩn thận hơn. Sự thật, trước khi được tăng cường, – trước khi Bộ Chỉ Huy biết chắc những gì xảy ra ở Huế, LLĐN đã thúc đẩy ông ta tiến nhanh và hoàn thành nhiệm vụ. Họ nghĩ ông ta đã làm hết sức mình.
    Đại tá Hughes ra lệnh Quân đội VNCH quét sạch địch ở hậu tuyến TQLC, tiêu diệt những tay bắn sẻ còn trốn lại, chịu trách nhiệm giúp dân tỵ nạn, thường dân bị thương tích xảy ra khi phải cận chiến từng nhà một.
    Cheatham và Gravel đứng trong phòng hành quân khi đại tá Hughes ra lệnh. Cheatham hơi chần chừ một chút, chờ thêm tin tức.
    Chờ gì nữa. Chẳng có thêm tin tình báo hay gì khác. Đại tá Hughes biết ý, nói: “Nếu muốn có gì thêm thì anh chẳng được gì hết”. Giống như mọi người đến Huế, Hughes chỉ có những tin tức đại khái. Ông ta nói thêm: “Anh phải tự lo liệu lấy, bằng cách nào đó thì cách. Còn như thượng cấp có gì thì tôi sẽ lo cho anh”.
    Nghe vậy, Cheatham đội nón sắt lên đầu, tay với cây súng M-16 rồi đi ra mặt trận. Mấy phút sau, Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 5 TQLC đụng giặc.
    Trung tá Cheatham đặt Ban Chỉ Huy bên kia đường, ngang với MACV, trong một ngôi nhà của viện Đại Học Huế. Các Đại đội Fox, Golf và Hotel đang đóng chung quanh ngôi nhà nầy. Khu vực của họ chỉ có chừng đó. Trước mặt là quân Cộng Sản BV, thỉnh thoảng nổ súng. Bên phải là đường Lê Lợi và sông Hương. Bên trái là đại đội 1/ 1. Phía trước, bên phải, địch đang nắm hết mấy con đường, có khoảng 11 khu nhà và chín cái nằm sâu bên trong. Cứ mỗi một đường đi, mỗi góc đường, cửa sổ, ngã tư là có thần chết ngự trị ở đó. Phải đánh chiếm từng khu một, từng nhà một, từng viên gạch một. Họ có thể xoáy được bản đồ ở cây xăng Shell, Ty Cảnh Sát và nhân viên quân sự tại MACV. Cheatham, ba đại đội trưởng, chín trung đội trưởng chia nhau ba cái bản đồ. Mục tiêu đầu tiên nằm ngay trước mặt: Ty Ngân Khố, sát ngay đó là Bưu Điện. Quân CSBV đào hầm núp ngay bên trong. Họ không có ý định phân tán hay rút lui như họ thường rút lui trong vùng quê hay trong rừng rậm.
    Hạ sĩ Dan Arkie Allbritton, 20 tuổi, 4 tháng làm tiểu đội trưởng, thuộc Trung đội 3, Đại đội Fox. Anh ta lùn, mang kiếng, quê ở Arkansas, nói giọng mũi, có Chiến Thương Bội Tinh với dấu tích ở mấy cái sẹo sau lưng vì bị mìn ba tháng trước tại An Hòa. Lần đầu tiên vào Huế, Allbritton nghe một anh trung sĩ nói họ đã quét được mấy tay bắn sẻ.
    Chỉ trong mấy ngày, câu trả lời của anh là: Chuyện nhảm nhí.
    Ngay trong những ngày đầu, Trung đội 3 kiểm soát được khu vực quanh MACV và khu Đại Học. Ở đây cũng có một chiến xa của QĐ/ VNCH, đậu sát tường. Allbritton quan sát, đùa giỡn với mấy người lính Việt Nam phía sau chiếc xe tăng, bắn vài tràng đạn trên pháo tháp trước khi các tên bắn sẻ làm được gì, rồi toác miệng cười với TQLC.
    Cuối cùng thì có lệnh. Tuy nhiên, hạ sĩ Allbritton, hạ sĩ Carter, và những người còn lại trong Trung đội 3 còn gặp may. Trung đội 2 được chọn đi đầu. Họ quan sát Trung đội 2 TQLC đi quanh các bức tường rồi biến mất ở đầu đường, phía bên trái, tiến về ty Ngân Khố và Bưu Điện. Chỉ trong mấy phút, cả con đường súng nổ dậy lên.
    &
    Trung úy Donald A. Hausrath, Jr. trung đội trưởng Trung đội 3, được lệnh tiến lên, giúp Trung đội 2 rút lui. Hai chiếc xe tăng của TQLC di chuyển thật chậm phía trước, trên con đường rộng có hai hàng cây bai bên. Từ trên mái những căn nhà phía trước quân CSBV bắn xuống. Đạn rớt và kêu lụp bụp chung quanh. TQLC lom khom núp sau hai chiếc xe tăng, đi từng bước một, quan sát rất cẩn thận, đầu cúi xuống tránh đạn. Carter thấy một anh TQLC da đen nằm bên lề đường. Chung quanh súng vẫn nổ. Carter nghĩ, Chúa ơi, Trung đội 2 chắc bị quét sạch cả rồi.
    Xe tăng bắn trả bằng đại liên 50 và đại bác 90ly. Vài TQLC núp sau xe tăng cũng bắn phụ vào. Thiếu úy Hausrath cùng với những người khác cố kéo những người bị thương hay chết vào phía sau xe tăng. Trong trung đội, những người còn sống núp vào trong các ngưỡng cửa hay các con hẽm, bắt đầu tháo lui. Có ai đó quăng một anh TQLC còn trẻ, đã bất tĩnh lên lưng chiếc xe tăng, ngay trên đầu Carter. Bất thần, một quả B-40 bắn vào pháo tháp, trượt qua trên mình anh lính bị thương, mảnh đạn văng ra. Anh lính TQLC bị rớt xuống khỏi chiếc xe tăng, tỉnh dậy và rên. Một chân anh ta bay mất.
    Họ bỏ hết cả người bị thương và chết lên xe tăng rồi vừa lùi vừa bắn dữ dội. Súng cối từ ban chỉ huy đại đội bắn tới yểm trợ. Đó chỉ mới là một sự thử thách ngắn ngủi và đẫm máu. Đại úy đại đội trưởng bị thương nhẹ vì mảnh đạn B-40.
    Những người bị thương được chuyển về trạm xá. TQLC lui về ẩn núp trong những ngôi nhà và các bờ tường, ngay nơi họ vừa xuất phát. Carter đang đứng nơi đó thì trung úy Hausrath nắm lấy anh ta:
    - “Carter, có phải anh là người bắn hỏa tiễn. Anh được xác nhận năng lực rồi phải không?”
    - “Vâng, đúng, thiếu úy.” Carter trả lời. “Tôi là chuyên viên về hỏa tiển. Đó là khả năng chuyên môn quân sự của tôi.” (MOS)
    - “Được rồi, anh là người bắn hỏa tiển của chúng tôi.”
    Một cây súng bắn hỏa tiễn 3.5 inch, na ná cây bazooka cũ, được mang tới. Carter được lệnh mang cây súng xuống đường, nơi họ vừa mới bị chận đánh tơi bời, đục một lỗ ngay trong sân, phía bên phải. Kế hoạch là đưa Đại đội Fox vào trong một cái sân trước, rồi đánh chiếm từng nhà cho tới khi vào ty Ngân Khố, như thế là mở được an ninh cho các con đường trong khu vực nầy. Một chiếc xe tăng bắt đầu tiến tới, Carter đi lom khom bên cạnh, giữa bức tường và chiến xa. Anh ta vác khẩu súng trên vai, súng nạp sẵn một viên đạn. Carter nhắm mục tiêu, bắn, cái cổng sắt ngang bức tường bay mất.
    Phần còn lại của đại đội tiến tới trước, núp bên những cái lỗ trên tường. Họ bắt đầu chiếm từng nhà. Carter thì mở cửa nhà bằng đại bác, TQLC thì quăng lựu đạn, rồi tiến vào nhà kiểm soát. Địch không bắn trả. Sự việc kéo dài khoảng 15 phút.
    Carter khom lưng xuống, lại nạp đạn khi anh thấy một vài TQLC của đại đội 2 tiến vào bờ tường một cái sân nhà khác (mỗi sân nhà cách nhau bằng một bức tường). Họ đẩy một anh lính qua cái sân nhà bên cạnh. Vừa khi đầu anh lính ló lên khỏi đầu tường là súng AK- 47 của những tên bắn lén không biết núp ở đâu bắn lốp bốp. Anh lính té ngược lui, đạn trúng mặt. Anh ta chỉ kịp kêu lên “Mẹ ơi”, rồi chết.
    Carter bắn toang cánh cửa ngôi nhà bên cạnh. Rồi anh ta cùng với một anh hạ sĩ khác chạy nhanh vào. Chẳng có ai hết. Họ phóng qua bức tường trước mặt. Carter từ từ mở cánh cửa sổ và nhìn ra bên ngoài, tim muốn ngừng đập. Tại “ban-công” căn lầu hai tòa nhà bên cạnh có 3 lính CSBV đứng đó. Họ đội nón cối có gắn sao đỏ phía trước, gần đến nỗi có thể thấy được mặt nhau. Anh ta hơi ngại. Nếu bắn, không chắc an toàn cho vị trí của trung đội gần đó. Carter gọi anh hạ sĩ: “Ê! Nhìn đây nầy. Tom, có mấy thằng cùi đây nầy.”
    - “Nói với tao làm quỷ gì? Bắn đi.”
    Cú bắn đó thật dễ. Carter tháo cây M-16 và để lên vai. Anh ta nhắm một tên mặc kaki và bóp cò. Anh nầy té ngược lui. Carter nhắm lẹ qua anh thứ hai, anh nầy té qua “ban-công” xuống đất. Người thứ ba biến mất.
    Carter nhăn răng cười với bạn, nhắm một chút nước bọt vào mấy đầu ngón tay và ngửi ngửi đầu nòng súng.
    Mặt trời lặn, suốt đêm súng ba hồi nổ, ba hồi ngưng.
    Đêm đó, Cheatham gọi tên các đại đội trưởng. Sáng ra, ông ta nói, toàn bộ tiểu đoàn sẽ tập trung tấn công Ty Ngân Khố và Bưu Điện. Đại đội Fox của đại úy Downs thì chiếm khu vực hai ty Ngân Khố, Bưu điện; Đại đội Hotel của đại úy Christmas chiếm ty Y Tế, nằm bên phải của Đại đội Fox; đại uý Meadows và Đại đội Golf của ông ta vì bị hao hụt hết 1/ 3 trong những ngày đầu nên được chọn làm trừ bị.
    Với cố gắng bảo tồn vẻ đẹp và tính lịch sử của thành phố Huế, tướng Lãm và chính phủ ở Saigon yêu cầu bộ Chỉ huy TQLC hạn chế xử dụng vũ khí nặng, có nghĩa là không dùng bom, hoặc đại bác của hải quân, không dùng vũ khí gây hỏa. TQLC đối đầu với một lực lượng địch cao hơn về quân số, công sự chuẩn bị kỹ, bảo vệ kín, trang bị vũ khí tự động, đại bác không giật, súng cối và hỏa tiển. Chỉ có xe tăng là khí cụ TQLC có mà quân CSBV thì không. Lại có báo cáo quân CSBV xử dụng một số đại bác được gắn trên thiết vận xa của QĐ/ VNCH do họ chiếm được.
    Tình hình rất tồi tệ cho phía TQLC đang tham chiến ở đây, từ người đại đội trưởng 30 tuổi cho tới anh binh nhì 18 tuổi có nhiệm vụ chiến đấu trên từng đường phố.
    Cheatham nói với các đội trưởng một cách vắn tắt: “Các anh phải đào chuột từ trong hang của nó.
    &
    Buổi sáng ngày Chủ nhật, 4 tháng Hai, trời buồn rầu u ám, và lạnh. Súng lại nổ trên đường phố.
    Đại úy Christmas cùng xạ thủ đại bác, trung sĩ Frank, A. Thomas, Jr. chỉ huy Đại đội Hotel tiến tới. Trung đội 1 tìm cách chiếm ngôi nhà sát ty Y Tế (Nhà thuốc Tây Lê Đình Phòng – ngd), trung đội ba chiếm ngôi nhà bên kia đường nhưng bị quân CSBV bắn dữ dội. Họ tháo lui, hai người bị thương. TQLC thảy lựu đạn khói xuống đường để che địch nhưng súng địch phía mặt hông bắn rất sát, xuyên qua màn khói. TQLC của Đại Đội Golf từ các cửa sổ của viện Đại Học (Morin cũ – ngd) bắn xuống. Đại úy Christmas và xạ thủ đại bác hội ý với trung đội trưởng, quyết định đưa cây đại bác 106 ly không giật lên để bảo vệ việc băng qua đường. Họ thả trái khói, quan sát tình hình, và toán xạ thủ 106 ly làm việc. Viên đạn bắn xuống đường, khói đen bốc lên, quân địch cúi đầu núp trong mấy phút. Thế là đại đội vượt qua bên kia đường.
    Họ chiếm ty Y Tế. Súng nổ trong giây lát, một TQLC và một chục CSBV chết.
    Lính TQLC leo lên mái nhà, chiếm các cửa sổ, và bắt đầu tác xạ vào phía hông ty Ngân Khố và Bưu Điện. Ở bên trái, Đại đội Fox đang đánh nhau với địch.
    &
    Thiếu úy Hausrath và trung đội đang ở phía trước. Carter đục một lỗ ở bức tường sân trước ngôi trường hai lầu của giáo hội Catholic (Thực ra đây là trường Trung Học Đệ Nhị cấp Bán Công Huế, đối diện ty Ngân Khố, bên kia đường Hoàng Hoa Thám – ngd) và các TQLC vội vàng chui qua đó tiến tới bức tường đối diện. Bên kia đường, ngay trước mặt là Ty Ngân Khố. Từ trên lầu ty Ngân Khố, quân CSBV bắn xuống đường như mưa, đạn vải lụp bụp trên tường và sân cỏ của ngôi trường. Ty Ngân Khố được xây vững chắc như một nhà kho gồm hai tầng, chung quanh là bức tường cao 8 bộ, sân có hàng cây.
    Quân CSBV cố thủ bên trong.
    Đại úy Downs và người mang máy truyền tin của anh ta vào được trong trường. Viên đại úy muốn một toán hỏa lực tấn chiếm kho bạc nên gọi Carter phá tường cho họ tiến vào. Carter ôm đại bác 3.5 nhưng phía nầy sân trường lại không có cửa. Anh ta phải bắn thủng một lỗ trên tường, cát gạch đổ xuống đường. Rồi anh ta phá một lỗ nhỏ ở bức tường trước của ty Ngân Khố, cẩn thận nhắm vào một điểm cách xa 15 bộ, chỗ quân CSBV từ trên lầu bắn xuống có thể bị cây và tấm bia đá cản tầm bắn của họ. Việc đó phí công.
    Vừa khi toán hỏa lực đổ xuống đường, quân CSBV bắn như điên khùng. Các TQLC núp vào bờ tường, đạn bay qua đầu và dội trên mặt đường ngay sau lưng họ. Một anh lính trẻ tên là Washburn ló đầu lên bờ lỗ tường và ngọ nguậy. Bỗng người anh ta giựt mạnh và chùng xuống – anh ta bị địch bắn vào đầu. Mấy người khác vội vàng kéo anh ta ra khỏi cái lỗ đó. Anh ta còn hơi thở yếu nhưng đồng đội không thể mang anh ta quay lại bên kia đường mà không lảnh đạn.
    Dọc theo bờ tường trường học, hạ sĩ Allbritton và tiểu đội của anh bắn như điên, cố gắng hỗ trợ cho toán hỏa lực. Phía quân CSBV cũng bắn dữ dội.
    Toán trưởng hỏa lực, hạ sĩ Thomas R. Burnham quê ở Pennsylvania, chạy lom khom dọc theo tường, gần Allbritton, trông có vẻ chán nản. Bernie Burnham là con người huyền thoại của tiểu đoàn. Trước hết, anh ta 31 tuổi, từng chiến đấu ở Triều Tiên nhưng khi chiến tranh chấm dứt thì anh ta còn ở trong trại huấn luyện. Rồi anh ta làm thợ điện. Khi chiến tranh Việt Nam hâm nóng trở lại thì anh đăng lính qua Việt Nam. Bốn tháng trước, trong khi Cộng Sản tấn công Nông Sơn, anh ta đè mình lên một trái lựu đạn. Lựu đạn không nổ, anh ta sống một cách gan lì – Anh có được Hải Quân Chiến Công Bội Tinh – và là thần tượng của những anh TQLC 18, 19 tuổi trong trung đội, là người mà người khác nhờ cậy được.
    Một lần nữa, hạ sĩ Burnham lại chứng tỏ thiên tài của anh.
    Anh ta ló đầu lên lỗ tường rồi phóng thẳng xuống đường. Ai ai cũng nổ súng bắn che cho anh ta. Đạn của quân CSBV rơi chung quanh. Anh nằm sát vào bờ tường ty Ngân Khố, rồi nhắc bỗng Washburn lên vai chạy ngược lui bên nầy đường. Toán hỏa lực đứng dậy chạy trối chết theo anh ta trong khi anh ta chạy trong đám lửa đạn, nhào vào phía trong bức tường trường học. Nếu có thì giờ thì đám lính đồng đội la to hoan hô anh. Washburn chết tại sân cỏ trường học trước khi kịp chuyển về MACV.
    Burnham thực hiện kỳ công đó khi Allbritton thấy một phóng viên và người mang máy quay phim dọn đồ quay về. Họ nói là họ trở về ban chỉ huy. Allbritton biết họ là dân sự và không nên có mặt ở đây làm anh ta thêm bực mình. Mấy TQLC hỏi anh nhà báo người Úc sao không quay trở lui giống như những người Mỹ, anh ta nói là sợ, không dám đi một mình.
    Carter lại ngồi xổm bên cạnh bức tường với cây súng đại bác 3.5inch. Anh ta biết là anh có cây súng quái quỉ nầy và phải làm gì đây. Anh ta nghĩ là nên quay lại ngôi trường, đặt súng trên lầu hai mà bắn nát họng mấy thằng cùi bên kia đường.
    Carter gọi to cho Hausrath và nói ý định của anh.
    Trung úy Hausrath đang ngồi nghỉ bên bờ tường, gọi lại:
    -“Làm thử đi, coi chừng bị bắn.”
    Carter giỡn trở lại: “Trung úy muốn vậy hả?”
    Carter và trợ viên khi thì bò, khi trườn, rồi chạy về phía ngôi trường. Bụi, đất, gạch đá văng tung tóe quanh hai người. Lính đang ngồi nghỉ, không ai bắn trả địch. Họ lại đứng lên, súng lại nổ. Phải hai chục phút họ mới băng qua được sân cỏ. Rồi họ xông vào một cái cửa lớn. Carter lấy làm lạ tại sao anh ta không bị thương. Họ đi ngang qua chỗ đại úy Downs và người mang máy truyền tin rồi theo cầu thang lên lầu hai. Tầng nầy dài, một phía là cửa lớn làm theo kiểu Pháp, phía kia có khoảng 15 cửa sổ ngó qua ty Ngân Khố. Carter đặt súng lên vai, hơi cúi mình xuống, anh trợ viên tra đạn vào nòng. Xong, Carter tiến ra cửa sổ, để mắt vào ống nhắm, bấm cò.
    Viên đạn nổ bên phía ty Ngân Khố (Kho bạc).
    Carter lại cúi mình xuống, trợ xạ thủ nạp đạn, rồi hai người lần ra hành lang, cho đạn bay qua cửa sổ. TQLC mang súng M-60 chạy lên cầu thang tiếp sức. Họ kê súng lên ngưỡng cửa sổ và bắn vào những chỗ họ thấy họng súng của địch ló ra bên phía ty Ngân Khố, xác định mục tiêu cho Carter. Thêm nhiều TQLC chạy lên lầu nữa, bắn liên tu, vỏ đạn đổ thành đống trên sàn nhà. Carter tiếp tục bắn. Anh ta không biết đã bắn bao nhiêu quả đạn nữa, có lẽ cả trăm. Địch cũng bắn lách cách bên ngoài làm cho Carter sợ, nhưng đồng thời anh ta cũng thấy vui. Lính TQLC vừa bắn vừa chưởi thề: “Đ. mẹ, trả lại cho chúng nó đi.”
    Allbritton ngồi xổm đằng sau mấy cây cột bằng gạch, dùng M-16 bắn như mưa qua bên kia đường. Bất thần đạn bắn trúng vào cột làm văng mảnh ximăng vào mặt anh ta. Anh ta nhảy qua chỗ mới, gở nón sắt xuống, nhổ ximăng trong miệng ra. Anh ta nhìn lên thấy một TQLC đang núp phía sau, nhìn anh ta nhăn răng ra cười, nói lè nhè: “Mày biết không, Arkie, có thể được thêm một chiến thương bội tinh nữa đó.”
    Cheatham chạy vòng quanh các tòa nhà trong trường chỉ huy cuộc đấu súng, cố làm thế nào để chiếm cho được ty Ngân Khố. Anh ta gọi máy, chỉ cho một chiến xa mục tiêu phía trước. Chiếc chiến xa ló đầu ra khỏi hai khu nhà hai bên, trước khi bắn được phát súng thì một quả B-40 nổ ngay trước mũi xe tăng. Tài xế dọt xe lui, càn lên đống kẽm gai. Cheatham chưởi thề, rồi gọi toán đại bác không giật 106 ly tới bắn mấy phát đạn làm vỡ bức tường.
    &
    Đại úy Harold Ernie Pyle hết sức bối rối. Trước khi đoàn xe đi Huế với ban chỉ huy của Đại đội 2/5, sĩ quan liên lạc không quân của Trung đoàn 1 TQLC có báo cho anh ta biết vài qui định khi vào Huế. Nếu gọi không yểm thì anh ta chỉ được hỗ trợ súng với loại đạn 7. 62ly và 20ly, hỏa tiễn 2.75 inch. Anh ta nghĩ, quỉ thiệt, bọn lính bộ có nhiều vũ khí hơn thế, điều họ cần là bom 500 cân Anh, bom lửa. Vào Huế, anh ta đã từng thấy máy bay oanh tạc Skyraider của Không Lực/ VNCH thả bom trong Thành Nội, vậy mà TQLC/ Mỹ thì bị cấm. Anh ta muốn – nếu thời tiết tốt – cho mấy chiếc Phantoms tấn công Kho Bạc (Ngân Khố), giúp cho TQLC chiếm mục tiêu được dễ hơn.
    Nhưng không được vậy. Đại úy Pyle thấy đại úy Tom Fine, sĩ quan kiểm soát không yểm đi theo với vai trò như một sĩ quan bộ binh. Họ leo lên tầng hai viện Đại Học (lầu Morin ngd) và tìm hướng cửa ngó ra ty Ngân Khố. Họ mở một cánh cửa làm theo kiểu Pháp, núp ở hành lang và bắn qua Kho Bạc.
    Họ thấy đại liên địch núp trong ty Ngân Khố bắn xuống đường. Đó là chỗ Đại Đội Hotel phải tiến tới. Và đó cũng là điểm gay go cho đại đội Fox. Đại úy Pyle đi tìm Cheatham.
    Cheatham và sĩ quan quản trị, thiếu tá Ralph J. Salvati xuất hiện. Cheatham nhìn một lúc rồi gọi toán xạ thủ đại bác 106 ly. Toán nầy cho xe chở súng lên. Thiếu tá Salvati giúp họ đưa cây súng lên cầu thang và đặt vào góc phòng. Họ nhìn vào ống ngắm để định vị trí và bắn vài tràng đại liên 50. Xạ thủ nới giây buộc rồi tất cả bọn họ chạy lui núp sau hành lang. Xạ thủ lại kéo mạnh sợ giây, súng nổ, toàn bộ căn phòng rung rinh. Khi bụi tan đi, họ quay lại phòng. Trần nhà thủng một lỗ và cây súng 106 thì bị lấp dưới lớp vữa và gạch. Kế hoạch của Cheatham thành công: Phía dưới đường, tiếng súng của địch im bặt.
    Thiếu tá Salvati nắm cây súng Thompson chạy đi quan sát xem Đại đội Fox hành quân như thế nào. Ông ta thấy đại úy Downs ở trong trường học. Anh ta thất vọng. Súng của TQLC chỉ bắn trúng vào tường ty Ngân Khố, quân CSBV thì có một xạ trường rất tốt. Mặc dù toán súng cối 81 ly của đại đội nằm trong sân trường Đại Học rót đạn trúng mái nhà nhưng tuồng như không mấy hiệu quả. Salvati biết ông ta không thể ở lại với ban Chỉ Huy Đại Đội được nữa nên gọi mấy TQLC cùng lấy 1 khẩu đại bác không giật 3.5 inch, ở lại với Đại Đội Fox. Toán xạ thủ nầy núp phía sau bức tường và bắt đầu tác xạ vào Kho Bạc.
    Từ vị trí của mình, Carter bắn thêm một phát đại bác nữa, anh trợ thủ nạp đạn, Carter lại thò ra cửa sổ. Carter nhớ ra trợ thủ chưa đóng cơ bẫm. Anh cúi xuống, vói tay đóng cơ bẫm thì một trái B-40 bay vù vào, xuyên qua cửa sổ và nổ ầm trong hành lang. Bụi cát, đất, đá kiếng bể bay đầy hành lang trường học. Carter nhoài người lui phía sau cánh cửa lớp. Rồi anh ta nằm yên, không còn cảm giác gì về thân thể mình nữa, cũng không nghe mà cũng không thấy. Tất cả mọi thứ chỉ có một màu xám xịt. Điều anh ta làm được là tự nói thầm: “Chúa ơi! Chắc tôi chết.” Anh ta có cảm tưởng như đang kẹt trong một cái hầm đá, có một chút ánh sáng ở cuối hầm mà thôi. Anh ta tự nói thầm với mình nếu tay còn nhúc nhích được, đầu còn lắc lư được là chưa chết. Anh ta thử lắc đầu nhưng không được. Có tiếng la to: “Đem nó ra khỏi đây, chắc nó chết rồi.” Có ai đó nắm vào cổ tay anh ta lôi đi. Carter quẫy người, lắc đầu rồi ngồi dậy. Tay anh ta đau vì mảnh đạn. Toàn cả hành lang đầy khói và mảnh tường vỡ. TQLC chạy lên chạy xuống cầu thang mang người bị thương đi.
    Vài người phía sau Carter rên lên, anh ta giật đầu nhìn lui. Phụ xạ thủ ngồi trong đống vữa, hai má dính máu, mảnh kiếng vô trong mắt. Carter không biết làm sao, không dám đụng vào mắt anh ấy. Anh ta lấy hộp giấy đựng phần ăn C và lanh lẹ quấn quanh đầu người bị thương.
    Những người bị thương nhẹ lại bắt đầu trở ngược lên cầu thang. Toán xạ thủ M-60 lại nổ súng. Carter bước trên đống vữa đi tìm cây đại bác 3.5 inch của anh và lại bắt đầu bắn.
    &
    Trước khi tới phiên, khi ông ta còn trong ban Chỉ Huy Đại Đội, thiếu tá Salvati đã biết xử dụng súng phóng lựu đạn cay E-8. Đó là một loại thiết bị cao 2 bộ, có thể phóng trái đạn ra xa tới 250 mét. Thứ lựu đạn khói hiện được ném vào ty Ngân Khố tạo ra không đủ khói và tan rất nhanh. Ông ta nghĩ loại E-8 có thể đem ra xử dụng được. Ông ta nhớ trong khi MACV có cất giữ, chưa xử dụng tới.
    Ông ta rời trường học, đi tìm Cheatham và nói với ông nầy ý định xử dụng loại vũ khí đó. Ông đại tá cho là ý hay. Salvati gọi tài xế, nhảy lên xe jeep, lái về MACV. Có vài quân nhân VNCH đang đứng gần nơi cất E-8. Họ trố mắt nhìn khi thấy Salvati vụt mấy cây súng phóng nầy lên thùng xe kéo sau xe Jeep.
    Trở lại trường học, Salvati cùng với vài TQLC mang mặt nạ vào và chạy vào sân trường mang theo vũ khí E-8. Họ đặt súng phóng xuống, canh cho đạn vượt qua đầu tường, lọt vào Kho Bạc rồi họ chạy lui sau bức tường.
    Salvati kéo giây cò, không có gì hết. Quái gì đây?
    E-8 có thể cho nổ bằng cò điện nên Salvati chạy kiếm một hộp pin. – Ở đâu đó, ông ta cũng chẳng nhớ – xong quay trở lại sân trường và nối giây. Quả đạn nổ và bay qua Kho Bạc. Chất hơi không làm chết người bắt đầu xịt tóe ra khắp tòa nhà, bay ra khỏi cửa sổ và các khe hở. Lính CSBV không có mặt nạ chống hơi cay.
    &
    Đại úy Downs gọi Carter xuống, đại đội đang tấn công, anh ta phải yểm trợ hỏa lực bằng đại bác 3.5 inch. Carter vác súng kèm theo mấy viên đạn chạy xuống sân trường. Anh ta quỳ xuống và nhắm mục tiêu. Không thấy kẻ địch bắn anh. Anh ta đoán là họ đang chờ và sẽ nghiền nát đại đội ngay trên mặt đường. Phát súng đầu tiên của Carter phá toang cổng kho bạc, bay vào cửa chính, nổ, một cánh cửa rơi xuống. Phát thứ hai làm cánh cửa còn lại bay đi nốt. Anh ta bắn thêm một quả khói lân linh vào trong cửa rồi chạy tới bờ tường bắn trái khói xuống đường. Gió thổi khói bay ngược về phía ty Ngân Khố. Trong sân trường, đại úy Downs chuẩn bị binh sĩ tấn công.
    Allbritton và tiểu đội nằm sát bờ tường, mang mặt nạ, giữ chặt súng M-16, chờ. Có người la to: “Tiến lên.” Họ đứng lên chui qua các lỗ trên tường và chạy như điên, băng qua bên kia đường. Chạy, chạy, chạy… vượt qua sân trước, qua cánh cửa bị sập, qua cửa Kho Bạc, toát mồ hôi! Allbritton cùng đồng đội quăng lựu đạn, rồi xông vào, bắn ngang hông.
    Họ chạy vào hành lang, có một phòng bên phải, một phòng bên trái. Allbritton kêu hai người bắn yểm trợ cho anh ta rồi chạy tới cánh cửa cuối hành lang. Cửa nầy bị kẹt vì gạch cát đổ xuống. Có tiếng chân chạy sau cánh cửa, có tiếng người chạy từ trên cầu thang xuống. Có tiếng nói Việt nam. Allbritton la to, chỉ, xạ thủ M-60 bắn vào cửa. Họ quăng thêm lựu đạn. Cánh cửa bung ra. Người người chen nhau chạy lên cầu thang, bắn loạn xạ. Allbritton vượt cầu thang chạy ra một phòng nhỏ, ném lựu đạn, bắn M-16. Chẳng có ai ở đây cả.
    Vỏ đạn AK-47 rơi trên sàn một phòng nhỏ trên cao.
    Allbritton thấy mảnh E-8 trên sàn. Anh ta bước ra cửa sổ. Tường nhà dày 2 bộ, giống như công sự, đạn khó qua nổi. Anh ta nhìn qua kẻ hở. Địch thấy rõ ngoài đường và sân trường học. Đúng là một xạ trường lý tưởng. Anh ta bước lui, vừa đi vừa lẫm bẫm: “Đồ chó đẻ. Đồ chó đẻ!”
    Hạ sĩ Burnham gom góp người trong tiểu đội lại ở trong lầu 1. Lính CSBV rút đi rồi, qua ngã mấy ngôi nhà và sân sau. Burnham chạy vào hành lang, bắn theo họ như điên. Có một người lính CSBV bị thương đang bò trong hành lang. Burnham trút hết băng đạn vào ngực anh nầy, trả giá. Trong ít phút, ty Ngân Khố và Bưu Điện được an toàn.
    Lính TQLC đi băng qua đường. Đếm xác địch nằm trong đống gạch vụn. Mấy TQLC chớp mấy gói vàng thẻ và mấy gói bạc. Chẳng ai nói gì. Carter giúp đưa mấy người bị thương vì lúc nãy họ băng qua đường và bị CSBV bắn. Rồi anh ta đi quanh tòa nhà, thấy một cây B-40 bị bắn vỡ, mấy cái bao và thư rơi trên nền nhà. Trên lầu, có mấy hỏa tiển không nổ dính trong vách tường. Trong một văn phòng có mấy bức tranh vẽ còn treo trên tường, hình một cặp vợ chồng mới cưới và đồ chơi trẻ em nằm lẫn trong đám gạch cát vụn. Anh ta tìm một chỗ và chợt ngủ thiếp đi.
    &
    Sáng sớm, vài TQLC đánh thức Carter dậy, biểu anh vác đại bác tới Bưu Điện gấp. Có khoảng một chục CSBV núp trong căn nhà nhỏ, gọi không chịu ra. Căn nhà nhỏ nầy cách Bưu Điện khoảng 15 bộ, gần quá nên Carter không bắn được, mảnh đạn có thể văng ngược lui trúng anh ta. Anh ta leo lên mái, ra tới rìa, và nhắm. Anh ta bắn ba phát, cửa xoắn lại. Một TQLC Trung đội 2 quăng vào một trái lựu đạn cay. Lính CSBV từ trong tuôn ra, vừa ho vừa khóc. Súng máy nổ.
    Xong, Carter tụt xuống. Một trong các trung sĩ khen anh ta giỏi và hỏi anh ta có bị bắn sẻ phải không? Carter nói vâng. Anh ta nghe tiếng súng nhưng vẫn cứ tập trung vào việc bắn. Anh trung sĩ cho biết đề nghị Carter được tưởng thưởng Anh Dũng Bội Tinh Ngôi Sao Đồng. Nghe thế, Carter thấy hơi thích.
    Về sau anh ta chẳng bao giờ nghe nói tới huy chương, cũng chẳng bao giờ anh ta thấy anh trung sĩ đó nữa; có người nói là đã tử trận.
    Cuộc chiến đấu trên đường phố Huế vẫn còn tiếp tục.

    Chương 4: Đánh chiếm từng nhà (tiếp tục)


    Từ Trường Janne D’ Arc tới Nhà Thờ

                Trong cuộc chiến tranh xử dụng mìn bẫy, TQLC nếu có ai bị thương nhẹ cũng hy vọng được nghỉ đôi ba ngày tại trạm nghỉ trước khi trở lại chiến trường. Tuy nhiên, trong cuộc chiến trên đường phố Huế, bác sĩ và y tá tại trạm xá MAC.V đã phải khó khăn khi khuyên thương binh khoan trở lại chiến trường. Mấy anh lính trẻ khi bị thương về trại nghỉ một lúc rồi quay trở lại trạm xá, nói với y tá bây giờ họ đã khỏe, để được ra đơn vị trở lại. Trung úy Ray Smith, đại đội trưởng Alpha 1/ 1 thế cho Batcheller, sau khi cuộc chiến chấm dứt vài tuần lễ, viết thư cho đại úy cũ của anh ta như sau: “Nếu ai ở với TQLC tại Huế trong những ngày đó, không thể không thương họ. Vài người lính của tôi bị thương nơi chân và tay, đi cà nhắc vòng quanh để tìm tôi xin được ở lại, không phải tải thương. Họ chiến đấu thật dũng cảm, rất hòa thuận với nhau, và không khi nào tôi nghe một lời than phiền. Đó là tinh thần TQLC trong trận đánh Huế.”

    Một trong những yếu tố quan trọng nhất là thái độ năng nổ dậy lên từ ngày họ rời chiếc xe bus ở trường huấn luyện. Họ thấy họ là chiến sĩ, là kẻ thắng, và là “Những Phần Tử Tinh Túy”. Họ có lòng tin tưởng cấp chỉ huy, – từ những người chỉ huy cấp tiểu đoàn cho tới anh trung sĩ hay trung úy, thiếu úy trẻ chỉ huy trung đội. Tất cả những ai ngay bên họ trên đường phố, cùng nhau chiến đấu, cùng bị thương vong. Các người lính trẻ TQLC cũng tự hào đặc biệt vì họ là bộ binh, và cảm nhận trái ngược với lòng tự hào là không ai tệ hơn người lính chiến. Thêm vào đó họ có niềm tự hào căn bản về binh chủng TQLC Hoa Kỳ và đất nước họ.

    Nhưng niềm tự hào đó chỉ được giải thích một phần. Lý do cao thượng vì tự do cho Miền Nam VN không là động cơ thúc đẩy người lính TQLC xông pha lửa đạn để cứu một đồng đội bị thương. Một nhà chính trị ở quê nhà ca ngợi các thanh niên của chúng ta ở ngoại quốc không thể là lý do để cho một người lính từ chối di tản sau khi bị thương một hai lần. Ba, má và apple-pie chỉ là một việc không đáng kể với một người lính TQLC muốn giữ cân bằng giữa một trong những hành động kinh khiếp nhất trong chiến tranh Việt Nam. Điều gì trong những yếu tố đó đã xẩy ra ở Huế đơn giản chỉ là tình chiến hữu.

    Có một ít kinh nghiệm nhân bản so sánh được trong tình thương đồng đội và anh em của người lính TQLC khi họ chiến đấu. Nó không phải là vấn đề gốc gác như thế nào, màu da ra sao, học hành tới đâu, hoặc cha mẹ giàu có như thế nào. Tất cả vấn đề là người sống chung trong tiểu đội, trung đội. Toàn bộ vấn đề là giúp đỡ nhau, chia xẻ với nhau, giúp nhau bảo toàn tính mệnh khi súng bắt đầu nổ. Đêm đêm, họ ngủ chung với nhau trong một hầm chiến đấu, cùng nhau chịu đựng cái nắng như thiêu như đốt hay cái giá lạnh của những cơn mưa phùn gió bấc, ì ạch lội qua những đám ruộng sình và cùng chiến đấu chống kẻ thù chung. Trong chiến đấu, mỗi người lính TQLC đánh giặc hết sức mình vì họ không thể để cho bạn mình ngã xuống. Hy sinh, không có gì thắc mắc. Đó là chân lý của họ trong cuộc Thế Giới Chiến Tranh thứ Hai, trong Chiến Tranh Cao Ly và một lần nữa, trong Chiến Tranh Việt Nam.

    Nhưng ở Huế, có một khúc quanh đặc biệt: Hận thù. Trước khi đánh nhau, có thể người lính TQLC chưa bao giờ thấy một anh lính CSBV hay Việt Cộng trong trận đánh. Điều họ biết là việc giết chóc tàn ác và việc làm thương tật ghê gớm bằng mìn bẫy. Họ đã nếm mùi kinh hãi mà chẳng làm gì chống lại được. Họ thấy thất vọng trong việc đi tuần trên một con đường mà chẳng phát hiện được gì hết, bị bắn sẻ từ trong làng bắn ra mà không được bắn trả vì sợ thương vong cho người dân. Tuy nhiên, ở Huế, họ cảm nhận được những gì họ đang làm: Mặt đối mặt với kẻ thù – Họ có thể giết kẻ thù. Đại úy Pyle từng nói: “TQLC ở Huế thành công. Đó là thời điểm trả lại cái thua ở An Hòa.”

    Tinh thần cao là động cơ tốt đẹp cho việc thành công của người lính TQLC. Tiểu đoàn trưởng Gravel nói: “Sự đóng góp lớn nhứt của những người lính ấy, không phân biệt cấp bậc, đã hoàn thành ở một mức độ ít thấy. Chẳng hạn như những trung úy đại đội trưởng, các trung sĩ trung đội trưởng, hạ sĩ và tiểu đội trưởng đã hoàn thành tốt đẹp trách nhiệm của họ. Binh sĩ của tôi làm được nhiều điều, nhiều phương cách mà quí vị không thể hy vọng nơi những người lớn tuổi hơn và chín chắn hơn, thực hiện chính xác những công việc hết sức nguy hiểm… Tôi không lo lắng gì hay chỉ lo chút ít vì tôi biết, tôi cảm nhận những gì họ làm, họ thực hiện là hết sức tốt đẹp mà không cần chỉ dẫn gì nhiều.”

    Dale Dye, phái viên báo chí Sư đoàn 1 TQLC đã tìm hiểu cẩn thận và kết luận như sau: “Hầu hết chúng ta đều có băng cứu thương để băng bó những vết thương nhỏ. Chúng ta đều bẩn thỉu dơ dáy mà tôi nghĩ chắc giống như những tay kẻ cướp người Mê-Xi-Cô, nhưng với TQLC thì đó là cái dơ dáy trong sự huy hoàng. Tinh thần của họ là tinh thần đặc biệt của người lính TQLC trong bất cứ một cuộc chiến đấu gian khổ nào. Họ chưởi thề, họ khóc và họ nguyền rủa mọi thứ từ cấp chỉ huy cho tới người lính CSBV hay nguyền rũa ngay cả khí hậu khắc nghiệt. Nhưng tôi nghĩ tinh thần là một ngôn từ không đúng, không nói được hết. Đó là một thứ cay đắng giai dẵng, là điều quyết định để thấy việc đánh nhau chẳng là gì cả. Chúng ta quá chán nãn, bị căng ra quá lâu do những thúc ép triền miên và tất cả chúng ta đều yếu đuối cam chịu. Tôi không nghĩ bất kỳ ai trong chúng ta nghĩ rằng mình sẽ còn sống sau cuộc chiến đấu, tôi không nghĩ ai trong chúng ta sẽ trở thành đê tiện bằng cách nầy hoặc bằng cách khác.”

    Bên cạnh tình chiến hữu, các TQLC Mỹ ở trận đánh Huế có một điểm chung – ghét quân CSBV và Việt Cọng. Vấn đề nầy không phải nhìn theo nhãn quan chính trị, mà phần lớn là vì cá nhân. Đó là vì bạn bè họ chết một cách thảm khốc. Vì vậy, họ cho rằng quân địch là những kẻ dơ dáy, ti tiện và bướng bỉnh. Vì vậy, họ có bị giết cũng không có chi ân hận và về sau có thể trở thành một câu nói đùa. Đó là điều không thể không quan tâm hay từ chối, làm ngơ. Nhưng người ta có một cảm nhận khác đối với kẻ thù – một sự quan tâm bất đắc dĩ – Đó là những người Việt Nam ốm yếu, nhỏ bé chiến đấu rất mãnh liệt và ít khi chịu thua cuộc. Trung sĩ Dye cũng kết luận như vậy: “Quân CSBV ở Huế là một thứ con hoang tận tụy và chiến đầu cừ. Chúng nó thì cố thủ trong khi chúng ta thì di động suốt ngày và chuyển qua tấn công vào ban đêm. Chúng ta thường phải tìm cách lấy lại khu vực mà chúng ta đã giành được ngày hôm trước vì ban đêm quân CSBV đã chiếm lại, chúng ta không đủ quân để bảo vệ những gì giành được. Tôi nghĩ rằng người lính CSBV vừa quá khích mà cũng vừa hèn nhát.

     

                Về điều tôi nghĩ, đáng nguyền rủa là có quá nhiều những tên quá khích. Tuy nhiên, sự thực rõ ràng là chúng ta giỏi hơn họ.”

    &

                Y Sĩ Hải Quân Robert C. Hamilton nhận nhiệm vụ tại Đại đội Bravo, Tiểu đoàn Quân y số 1, Sư đoàn 1/ TQLC, có đến thăm thành phố Huế trước khi trận đánh Huế bắt đầu. Ngày Chủ Nhật trước Tết, ông ta cùng tài xế của ông và một sĩ quan trẻ đặc trách công tác Dân Sự Vụ thực hiện một chuyến du ngoạn Huế. Họ uống cà-phê ở một tiệm cà-phê ngoài trời; chụp hình trong Đại Nội cho đến khi lính canh đến đuổi họ đi và cạn cốc với đại úy Stephen Bernie trong câu lạc bộ MAC.V. Ông nầy là y sĩ tại trạm xá tại đây.

    Mọi việc đều hết sức bình thường. Y sĩ Hamilton nghĩ qua đêm Tết đầu tiên ở Phú Bài với mấy người lính TQLC của ông và y tá Hải Quân trong khi hỏa tiển nổ.

    Sau đó, tướng LaHue gọi ông ta, yêu cầu ông tường trình sự việc tại trạm chỉ huy của ông. Lúc đó là khoảng nửa đêm, điện bị mất. Tuy nhiên Hamilton tìm được một người tài xế TQLC gốc da đỏ, dám lái xe trong bóng đêm đen như mực đưa ông ta vào Bộ Chỉ Huy. Cũng từ đó, Hamilton là sĩ quan quân y của LLDN X-Ray. LaHue giải thích cho ông ta hay có chuyện lôi thôi ở Huế nhưng ở đó chẳng có đơn vị nào có y sĩ cả. Bằng một sự trùng hợp kỳ cục, các y sĩ tham dự một hội nghị về y học ở Đà-Nẵng khi Tết bắt đầu nên họ không trở về đơn vị kịp. Tướng LaHue hỏi Hamilton có thể làm gì được bây giờ.

    Hamilton trả lời có thể gọi một toán gồm 20 nhân viên trợ y của Tiểu đoàn 1 Quân Y ở Đà-Nẵng. Tuy nhiên, ông ta nói nếu tình hình không quá nghiêm trọng thì ông cùng với ít y tá đến trạm y tế MAC.V ở Huế để giúp Bernie chờ khi bác sĩ giải phẩu của tiểu đoàn tới. Tướng LaHue đồng ý.

    Hamilton gặp sĩ quan Quân Vận để sắp đặt chuyến đi Huế rồi quay lại đơn vị để lấy y tá đi theo ông ta. Nhiều người không bằng lòng. Ông bèn ra lệnh cho y tá trưởng ở lại coi sóc mọi việc khi ông vắng mặt. Rồi ông ta tìm một y tá trẻ, giải thích với anh nầy tình hình mọi sự. Anh nầy hỏi Hamilton có đi Huế không, nếu đi thì anh ta xin đi theo. Hamilton nói rất vui nếu y tá nầy cùng đi với ông. Xong, ông ta chọn anh y tá nầy cùng hai người nữa, một ông già của đại đội, người được họi là Pappy Reinhart.

    Sáng ngày 4 tháng Hai, họ lên đường. Hôm đó, có hai chuyến xe đi Huế. Họ theo chuyến đầu, khoảng 30 xe GMC chở đồ tiếp liệu và đạn dược. Nhân viên ẩm thực và thư ký cầm M-16 đi theo giữ an ninh. Đó không phải là chuyện không bình thường. Châm ngôn của TQLC là mỗi người một tay súng, dù đảm trách công việc gì chăng nữa. Hamilton ngồi trên thùng xe GMC chở đầy lựu đạn M-26.

    Vừa qua khỏi sông Phú Cam (An Cựu), qua chợ An Cựu thì từ những toà nhà hai bên đường, quân CSBV nổ súng.

                Hamilton ngồi trên một thùng chở lựu đạn trong khi lính bếp và văn phòng kê súng lên lưng ghế bắn trả; tài xế cho xe chạy nhanh hơn. Họ tới MAC.V, xe chạy vào trong, Hamilton cùng các y tá nhảy xuống xe. Y sĩ Bernie cười đón họ và đứng vòng quanh nói chuyện với nhau. Hamilton cảm thấy an tâm khi được ở trong những bức tường thành nầy.

                Bất thần địch quân pháo kích bằng hỏa tiển.

                Đạn pháo bay qua bức tường nổ trên mái một toà nhà, mảnh đạn và đá cát bay xuống họ. Chẳng ai phản ứng gì kịp đành đứng chịu trận. Khi Hamilton đưa mắt nhìn quanh, ông ta thấy chỉ có một y tá không bị thương. Bernie thì bị một mảnh đạn nhỏ nơi tay, một người trong nhóm họ là một nhân viên dân sự của chính phủ bị chảy máu đầu vì mảnh ngói vỡ, máu ra nhiều, người ta vội vàng đưa ông vào phòng cứu cấp.

    Hamilton, 34 tuổi, bác sĩ thực hành ở Chicago, bị động viên sáu tháng trước, nhận được vài sự chào đón nồng nhiệt khi tới đây. Hôm nay chỉ mới là ngày đầu tiên: Hamilton, Berinie, và tất cả y tá còn lại của TQLC, các y sĩ băng bó chăm sóc cho tất cả các TQLC bị thương đang nằm ở đây rồi khi có thời gian nghỉ ngơi, Hamilton tới câu lạc bộ của đại tá Hughes ở bộ Chỉ huy. Người ta cho biết chuyến xe chiều hôm đó, sau chuyến của Hamilton đã bị phục kích dữ dội.

    Chuyến xe buổi chiều do trung úy Terry Charbonneau, 25 tuổi, quê ở Detroit, trung đội trưởng Trung Đội 2, Đại đội Charlie, Tiểu Đoàn Quân Vận số 1, Sư Đoàn 1 TQLC chỉ huy.

    Tại trại Evans của Kỵ Binh 1, anh ta lúng túng vì một trung đội xe vận tải từ một đại đội khác tới trong khi một tướng lãnh biểu anh ta tìm cách giải quyết việc tài xế xe tải thiếu hụt. Charbonneau phải nhờ tới hậu cứ tiểu đoàn quân vận đóng ở Giạ Lê, nhưng tài xế và xe ở trại nầy lại kẹt ở Phú Bài. Thực ra thì anh ta cũng chẳng làm gì được hơn. Trong dịp Tết, trung đội của anh được phái đi chung với các đơn vị khác và hiện đang kẹt ở Huế. Một vài xe GMC từ căn cứ tiếp liệu đến với một số ít lính tăng cường trên xe. Có người không có nón sắt và áo giáp. Anh ta hỏi thì họ cho biết trong kho hết nón sắt và những thứ khác không đáng quan tâm lắm. Anh ta biểu họ vào trạm xá xin mượn nón sắt trong đó để đi Huế.

    Charbonneau biết đại úy đại đội trưởng Đại Đội Alpha, anh nầy tổ chức đoàn xe bằng người của Đại Đội A và B và vài người trong Trung Đội 2 TQLC của chính anh ta. Anh ta đi kiếm đại úy nầy và hỏi đoàn xe anh ta đi đâu? Huế. Charbonneau muốn đi cùng, nhưng viên đại úy hỏi anh ta có biết ở Huế đang đánh nhau không? Anh ta biết. Lala, nhân viên anh ta vừa được thưởng Anh Dũng Bội Tinh Ngôi Sao Bạc cũng muốn đi. Viên đại úy nhìn anh ta, nói: “Được rồi, anh sẽ là người đi sau”. (Chịu trách nhiệm an ninh mặt hậu đoàn xe). Charbonneu nhận lãnh trách nhiệm và cùng mấy người trong nhóm lên chiếc xe thứ hai, ngồi cạnh tài xế, xạ thủ đại liên 50 và hiệu thính viên. Đằng sau anh ta, trung đội y tá trên chiếc xe chót, một xe cần trục. Hai chục chiếc xe chở đầy đạn dược, thực phẩm, y tế, v.v… cùng nhân viên văn phòng, hỏa đầu quân, thợ máy, nhân viên tiếp liệu đi theo với nhiệm vụ giữ an ninh.

    Họ lên đường lúc quá trưa một chút. Viên đại úy ngồi trên xe Jeep đi đầu. Chạy trên QL 1. Họ chẳng thấy ai. Dân chúng núp trong nhà. Có một thằng bé Việt Nam đứng bên đường, hoàn toàn một mình. Khi đoàn xe đi qua thằng bé đưa ngón tay cái lên ra hiệu số 1 (tốt).

                Charbonneau nghĩ rằng đó là ấn tượng đẹp. – thằng bé và gia đình nó sẽ gặp khó khăn lớn nếu Việt Cộng thấy nó làm như thế. TQLC nhìn xuống sàn xe, chẳng ai cười vì họ không biết gì đang đợi họ đây. – Và đưa tay ngoắt lại thằng bé.

    Gần tới cầu An Cựu, xe dừng lại. Charbonneau lo lắng chờ đợi. – một chếc xe GMC đang nghiêng xuống đường – bèn bước ra khỏi xe. Anh bước qua bên lề đường vói nhìn lên trước. Mấy chiếc xe đầu đang chạy chậm chậm. Anh ta tự hỏi không biết có việc gì rồi quay lại xe và cầm máy gọi viên đại úy. Bất thần có tiếng nổ dữ dội. Chiếc xe của viên đại úy bị cháy. Tiếng súng nhỏ nổi lên.

    Tiếng của sĩ quan quản trị đại đội (qua hệ thống bộ chỉ huy quân vận) bất thần xen vào trong máy điện đàm. Ông ta nói với trung úy Charbonneau rằng ông đang đảm trách công việc, yêu cầu tiếp tục di chuyển.

    Phía trước, các xe GMC rú hết máy vượt qua cầu, xe Charbonneau tiếp theo. Anh ta biểu tài xế dừng lại bên chiếc xe Jeep đang cháy rồi nhảy xuống xe tìm viên đại úy và người tài xế trong khi khẩu đại liên 50 bắn yểm trợ cho anh ta. Charbonneu không tìm thấy ai hết. Trước mắt họ, đoàn xe tiếp tục đi vì vậy anh ta phải nhảy lên xe chạy cho kịp. Đoàn xe chạy tới, gặp một bùng binh có trạm xăng Shell bên đường rồi tiếp tục qua một đoạn hai bên là ruộng. Và rồi – Charbonneau không thể tin được – quân CSBV chạy xuyên qua đám ruộng, bắn vào các xe vận tải. Mọi người bắn trả lại. Cây đại liên 50 trên xe Charbonneau nã đạn, TQLC trên các xe chạy phía sau dùng M-16 bắn lốp bốp về phía địch. Toán hỏa lực thì phản công bằng đại bác M-79. Nước và bùn văng lên ở các đám ruộng. Quân CSBV chúi đầu vào các đường rãnh, đường hầm, không bắn lại nữa.

    Đoàn xe cứ lo bắn để chạy, phía trước, hai bên hông và đằng sau.

                Mấy hôm trước, mồng một Tết, Charbonneau đã lái xe đi Huế, khi dân chúng đang làm lễ năm mừng mới. Anh ta có cho dân chúng rượu vang, kẹo. Bây giờ thì thành phố vắng hoe, mặt tiền các cửa hàng chất đầy củi cây vì quân địch dựng công sự chiến đấu. Quân địch làm công sự như vậy hai bên đường cho tới khu MACV, phía ngoài cổng thì hẹp lại như cái cổ chai. Charbonneau nhìn lui, không thấy chiếc xe cần cẩu chạy theo sau. Anh ta bèn chạy lui nói với toán hỏa lực quay lui tìm chiếc xe nầy. Một người lính trong bọn tỏ ý chán nãn, anh ta không muốn chạy giữa lằn đạn một lần nữa.

    – “Gắng lên.”

    Người lính gần như muốn xin lỗi:

    - “Chúng tôi là xạ thủ vũ khí chống máy bay.”

    - “Chúng ta không thấy chiếc máy bay nào. Anh có thể bắn chúng nó. Đi đi.”

    Anh lính lái xe lách ra khỏi đoàn xe đang ngừng, tìm cách quay lui thì chiếc xe cần cẩu trờ tới. Viên đại úy bị mảnh đạn ở sau lưng. Tài xế của ông ta thì phía trên mắt cá chân bị rách đong đưa mấy miếng da, xạ thủ cũng ở đây, gò má bị mấy vết sứt và người y tá có bộ râu như ghi-đông xe đạp xử dụng súng tiểu liên Thompson đang cúi xuống chăm sóc cho những người bị thương nầy. Có mấy miếng gỗ được dùng chèn thùng nước xe bị bắn bể. Mấy người lính VNCH mang cáng tới cho một người bị thương. TQLC mở cáng ra, thận trọng đặt người tài xế lên đó rồi nhẹ nhàng khiêng vào trạm xá.

    – “Lẹ đi, anh lính nằm trên cáng nói, tôi sắp chết rồi đây. Nhanh lên.”

    Charbonneau bước vội vào trạm xá theo tài xế. Y Sĩ Hamilton khám và chích cho anh ta một mũi thuốc. Người lính TQLC nhìn chằm chằm vào chân anh ta. Hamilton lấy kéo cắt mấy miếng da tòn ten đi.

    Charbonneau quay lại sân trong MACV. Vài TQLC hỏi anh ta bao giờ thì trở lại Phú Bài. Chẳng ai biết gì cả. Có mấy chiếc xe tải bị hỏng, chiếc thì bể vỏ xe, chiếc chảy bình nước. Các thợ máy đang sửa xe thì có pháo kích. Đạn hú và nổ trong sân. Ai nấy tìm chỗ núp. Charbonneau lăn xuống gầm một chiếc xe tải trước khi kịp nghĩ ra đạn súng cối nổ sát mặt đất. Thêm mấy loạt đạn bắn vào nữa nhưng chẳng ai bị thương, chỉ làm cho một chiếc xe GMC thủng lỗ chỗ mà thôi.

    Tới tối, Charbonneau, viên đại úy bị thương, y tá, và một số TQLC mang những người bị thương băng qua một lỗ nơi vách tường để đi vào trong tầng đầu của một tòa nhà chờ trực thăng đến tải thương. Y tá hỏi anh tài xế bị thương ở chân cần chích thêm morphine cho đỡ đau không.

    Rõ ràng người nầy đang đau nhưng anh ta lắc đầu. “Không.” – Anh ta nói, anh không muốn ghiền. Anh thường chịu đau đã quen.

    Charbonneau nghĩ thật là mai mỉa. Trước kia anh lính nầy bị bắt gặp ngủ gục khi đang gác và bị giữ ở Việt Nam vì hút cần sa nhưng bây giờ thì lại chứng tỏ can đảm khi đang bị thương.

    Cuối cùng có tin trực thăng tới bãi đáp ngoài bờ sông, phải đem thương binh đi, theo con đường thường đi; trời đang mưa và sương mù. Hai chiếc Sea Knight từ hướng Phú Bài bay tới, không bật đèn. Máy bay nhận thương binh xong bay đi liền. Đại úy đại đội trưởng Đại Đội Alpha, mặc dầu đang bị thương, quyết định ở lại. Ông ta quay lại MAC.V cùng Charbonneau lo chuẩn bị đoàn xe tải.

    Buổi sáng. Họ lại đem thương binh ra bãi đáp. Thỉnh thoảng trực thăng tới nhưng chỉ chuyển ai bị thương nặng đi trước. Một anh TQLC, thân mình bị băng bó bốn nơi, khấp khiểng ra tới bãi đáp ngồi chờ với những người khác trong đám cây cọ và bao cát làm công sự. Sĩ quan phi hành nói có một chiếc trực thăng khác đang trên đường bay tới. Khi Charbonneau thấy đó là chiếc trực thăng Quân Đội Mỹ đang bay tới hướng họ – không phải máy bay của TQLC – hạ xuống, anh ta bèn chế giểu anh sĩ quan phi hành. Anh nầy bèn nói cho biết có nhiều trực thăng của TQLC bị bắn hạ, không có cách nào khác. Chiếc máy bay vừa đậu lại thì anh thương binh bị băng 4 chỗ cùng những người khác lên tàu, một viên trung úy bị băng quanh đầu tới máy bay.

    Người trưởng toán phi hành đuổi người lính ra khỏi máy bay, nhường chỗ cho viên trung úy. Charbonneau nhìn chằm chằm vào viên trung úy ấy một lúc và nghĩ: “Với tên nầy thì trước đàn bà và trẻ em, y muốn được trước. Trông y hoàn toàn lúng túng và sợ hãi.”

    Chiếc máy bay cất lên. Charbonneau nhận ra rằng anh vừa chứng kiến một cảnh tồi tệ của con người có cấp bậc và đặc quyền ưu tiên: Viên trung úy trông có vẽ bị thương không nặng lắm. Truyền tin báo cho biết khoảng hai giờ đồng hồ nữa sẽ có trực thăng tới. Nghe vậy, anh TQLC nói anh sẽ chờ tại MAC.V. Charbonneau nói với người lính anh ta sẽ dìu anh lính về nhưng anh ta cám ơn rồi khập khểnh bước đi.

    Mấy ngày sau, viên đại úy bị thương ra lệnh cho Charbonneau trở về liên lạc với tiểu đoàn. Anh ta trở về bằng tàu Hải Quân, đi chung với vài người dân Việt Nam, các TQLC tử trận và cái chân của người tài xế đựng trong cái bao.

    Mãi đến ngày 4 tháng Hai, trung tá Gravel vẫn còn ở tại MAC.V. Ông ta chẳng có gì nhiều để lựa chọn. Toàn bộ tiểu đoàn ở Huế, ngoài ban tham mưu và các trung đội thuộc Đại Đội Alpha 1/ 1 thiếu hụt quân số và binh sĩ thương vong. Ngày 2 tháng Hai, hai trung úy Smith và tiền sát viên của Alpha, Perkins – cố về lại tiểu đoàn bằng chuyến xe của Đại Đội Hotel 2/ 5. Khi qua An Cựu thì bị phục kích, các thùng đạn trên xe bị đổ và đè chết Perkins. Sĩ quan kia, trung úy Ray. L. Smith, trung đội trưởng Trung đội 2 chỉ huy đại đội Alpha thay cho Gunny Canley.

    Sáng ngày 4 tháng Hai, Gravel quyết định tiến công.

                Mục tiêu bây giờ là trường Janne D’ Arc và nhà thờ (nhà thờ nhà nước – tên thường gọi – ngd), cách MAC.V khoảng một trăm mét. Gravel biết có lực lượng quân CSBV ở đây. Buổi sáng ngày 1 tháng Hai, dân chạy nạn đổ vào MAC.V thật đông, trong số có vài bà xơ người Việt. Gravel nói chuyện với họ bằng một thứ tiếng Pháp không được gãy gọn lắm do học được khi còn ở trường cấp ba. Các bà xơ nhỏ bé ăn mặc áo tu đen trắng nầy cho biết quân CSBV đã chiếm nhà thờ. Họ nói: “Ít cũng có khoảng một trăm người, chia làm bốn, ở trong các lớp học và trong phòng ngủ của các bà “xơ”. Tiến đánh lực lượng nầy gồm có hai trung đội rưởi của Đại Đội Alpha, do Smith và Canlay chỉ huy.

    TQLC tiến vào mục tiêu, quân CSBV bắn như mưa. Lính bị thương khi họ chạy vòng qua góc nhà hay tấn công vào cửa. TQLC bắt đầu dùng chất nổ C-4 và hỏa tiển tấn công để phá hủy vách nhà và sân tường thành những lỗ có thể tiến quân qua được. Đó là một cố gắng bền bĩ và chậm. Cuối cùng. Họ tấn công thẳng vào địch quân. Các lớp học nầy là một khu tứ giác lớn, ở giữa là sân rộng.

                Nhà thờ nằm cạnh bên lớp học, giữa những hàng cây xanh.

                Trung úy Smith và Canley cho quân tiến lên, bắn vào vị trí địch. Hai người dẫn đầu, chạy từ chỗ núp nầy tới chỗ núp khác, vừa chạy vừa la xung phong và điện đàm với Gravel qua máy truyền tin. Hạ sĩ Jackson dừng lại với tiểu đội. Hỏa tiển B-40 do địch bắn nổ liên tiếp, mảnh bay lung tung. Chưa bao giờ anh ta nghe hỏa tiển nổ nhiều như vậy. “Chúa ơi! Thiệt là cảnh kinh hoàng!” Anh nghĩ thế. Hai quả đạn nổ trên mái nhà, làm vài người bị thương. Ở phía bắc, nơi Đại đội 2/ 5 đang tấn công vào ty Ngân Khố, trận đánh đang gay cấn. Hơi cay của Đại Đội 2/5 xử dụng bay ngược về phía Đại Đội Alpha làm cho cuộc tấn công bị ngưng lại.

                Gravel đang ở trên máy, nói với bạn:

                – “Ernie Cheatham, đừng bắn hơi cay nữa”.

                – “Xin lỗi ông bạn già.”

    Các trung đội tấn công, xông vào nhà thờ, bất thần lựu đạn nổ âm ầm vào toán hỏa lực tiên phong. Mấy TQLC vừa chết vừa bị thương. Lựu đạn nầy từ trên mái quăng xuống.

    Địch núp trên nóc nhà thờ.

    TQLC phải bò ngược trở lại điểm xuất phát.

                Smith gọi máy hỏi Gravel: “Chúng tôi làm gì bây giờ?”

                Gravel nghĩ tới các bà xơ đang tạm trú ở MAC.V với lòng biết ơn, nhưng ông ta không có cách chọn lựa nào khác:

                -Bắn trốc mái đi.

                Smith điều một chiếc tăng lên và bắt đầu tác xạ. Một toán đại bác không giật cũng lên, hòa âm ầm ầm cùng đại bác xe tăng. Nhà thờ rung rinh, ngói, gỗ bay khỏi mái. Cột và cửa sổ mặt tiền đổ sụp xuống thành đống. Địch trên nóc nhà thờ đều chết cả. TQLC lại tấn công, bắn đục tường để lấy đường vào bên trong, diệt các toán CSBV trong các phòng học và các phòng ngủ nhỏ của các xơ. Địch chiến đấu từng thước đất một. Thật là một cuộc đổ máu kinh hoàng. Chẳng còn lệnh lạc gì nữa hết. Toán hỏa lực chạy vào các lớp học, bắn như điên như cuồng, quăng lựu đạn nổ ầm ầm. Khói bay mù mịt, tiếng la hét, vôi vữa bay khắp nơi, xác người nằm ngỗn ngang. TQLC thấy mình đã chiếm được cánh bên nầy của trường học, bắn nhau với địch đang núp ở cánh bên kia, cách nhau bằng sân trường. Trung sĩ Gonzalez, hôm qua đã bị thương hôm nay vẫn chiến đấu, đá bung cửa một lớp học, xộc vào trong cùng với mấy TQLC của Trung Đội 3. Từ hai cửa sổ phía trước, hỏa tiển B-40 bay tới. Gonzalez cầm hỏa tiển LAWW lên nhắm. Anh ta bắn ít nhất 10 trái hỏa tiển, lửa và khói bùng lên ở vị trí quân CSBV. Súng ngưng nổ.

                Thêm một ngày Gonzalez chiến đấu.

                Quân địch rút khỏi nhà thờ và trường Janne D’ Arc. TQLC vào chiếm đóng. Kiểm điểm quân số: TQLC hai người chết, 20 bị thương.

    Hạ sĩ Jackson cùng với binh lính của anh ta tiến vào một trong các phòng học, bỗng phòng bên cạnh có một tiếng nổ kinh hồn làm rung rinh cả tòa nhà: Địch ở bên kia bắn qua một quả B-40. Hạ sĩ Jackson cùng mấy người lính TQLC chạy băng qua hành lang đầy đặc khói, xông vào một phòng khác. Tấm sắt ở trên của sổ văng vào trong lớp. Hai TQLC bị thương té xuống và – Chúa ơi! Gonzalez nằm dài trên nền nhà, ruột lòi ra. Bụng anh ta trúng một trái hỏa tiển. Jackson không muốn để anh ta lại một mình trong đống vữa, gạch vụn – Anh ta không muốn quân CSBV có cơ đụng đến thân thể bạn anh, anh cùng hai TQLC khác kéo Gonzalez tới một cánh cửa bị đổ. Rồi họ chạy lui phía sau trường học, băng qua khỏi ngôi nhà thờ nhỏ nơi Gravel đặt bộ chỉ huy tạm.

    Gravel nhìn lên. Kinh ngạc. Trung sĩ Gonzalez, người lính TQLC tuyệt vời đã chết. Họ đặt xác Gonzalez phía sau ngôi nhà thờ nhỏ cùng với những người bị thương khác. Có hai phóng viên báo chí đang đứng ở đây, họ chụp hình các người chết và bị thương. Họ đang nói chuyện đùa, Jackson nghĩ có lẽ họ là người Pháp. Jackson cũng chẳng thèm lưu tâm, chạy trở lui với trung đội của mình.

    Gravel bắt đầu tiến lên nữa, tìm một vị trí an toàn. Ông ta thấy hai tu sĩ cùng TQLC chạy tới nhà thờ của trường Janne D’ Arc. Các tu sĩ nầy vừa được giải thoát khỏi tay quân CSBV. Gravel lấy làm lạ tự hỏi tại sao họ vẫn sống được – TQLC thường tự động bắn vào những ai mặc đồ đen. Mặt các tu sĩ nầy thì trắng: Một là người Pháp, người kia là Bỉ. Các tu sĩ hết sức giận dữ, một người thì có vẻ sốc vì súng đạn, người kia thì thét vào mặt Gravel vì nhà thờ bị bắn sụp.

                Ngoài việc xin lỗi, Gravel chẳng biết làm gì hơn. Ông ta cũng biết chẳng còn chọn lựa nào khác. Ông ta đi băng qua đám gạch ngói đổ và nhìn lên mái nhà thờ. Quân CSBV phá vở mái hiên bằng gỗ, Gravel nghĩ bọn địch đeo đẳng quá lâu ở đây, và thế là qua một buổi chiều đánh nhau dài dằng dặc, tốn hao xương máu.

                Trung sĩ Gonzalez đánh giặc giỏi và bây giờ thì anh ta đã qua đời!

    Buổi chiều khi hai trung đội rưởi của Đại Đội Alpha đang đánh nhau với địch ở trường Janne D’ Arc, thì các binh sĩ còn lại thuộc Trung Đội 1 bị mắc kẹt ở Quảng Trị lên đường về Phú Bài. Ở đây, họ nhập với Đại Đội Bravo 1/ 1 và tiến ra QL. 1.

    Xe chất đầy đạn dược, không còn chỗ ngồi, hạ sĩ Edward F. Neas của toán súng máy Trung Đội 1 chỉ còn chỗ đứng mà thôi. Nếu có gì được xem là điển hình cho người lính bộ binh TQLC trong chiến tranh Việt Nam thì có thể xem Neas là một con người thích hợp với điều đó. Quê ở Queens, to con, gồ ghề, tóc đen, 19 tuổi, bỏ trường năm 16 tuổi, vì hay cãi lại cha mẹ, vào TQLC năm 17 tuổi, tình nguyện qua Việt Nam năm 18 tuổi vì muốn làm một cái gì đó, xăm hình con phượng hoàng, quả địa cầu và mỏ neo (huy hiệu TQLC) lên bắp tay và viết mấy chữ DTK (Down To Kill) vào lưng áo giáp. Anh ta ghét quân CSBV chỉ vì họ bắn vào anh và bạn bè anh, và đánh giặc thật hay chỉ vì anh ta là TQLC. Khi được về hậu cứ thì anh ta nghe radio, uống vài loon bia và hút thuốc với bạn bè.

    Tới gần sông An-Cựu, đoàn xe chạy qua những chiếc xe tăng do Mỹ sản xuất đã bị hư hỏng, đâm đầu vào các ngôi nhà gạch hai bên đường, súng đại bác bị bung khỏi pháo tháp, rớt xuống bên cạnh. Có vẽ như những xe nầy bị B-40. Neas và bạn anh im lặng, căng thẳng, nhìn ra hai bên đường, súng sẵn sàng trong tay. Bất thần có mấy tiếng nổ, tiếng súng nhỏ từ trong những dãy nhà hai bên đường bắn ra. TQLC bắn trả, xe dọt nhanh tối đa. Neas tưởng như xe chạy có hai bánh hướng nhanh về MAC.V. Vào tới nơi, phóng xuống xe và họ sẵn sàng đứng vào vị trí dọc các vách tường. Quanh khu MAC.V đầy xác quân CSBV, kẻ thì vắt trên hàng rào, nhiều xác nằm dài trong sân, có xác mắc trong kẽm gai, cứng đơ và đã sình.

    Neas nghĩ: “Chúa ơi, trông như trong một cuốn phim chết tiệt.”

    Có người báo cho biết: “Đại úy Batcheller bị thương nặng, trung úy Perkins chết, trung sĩ Gonzalez chết, bác sĩ Brooklyn cũng chết.”

                Neas bị xúc động mạnh. Kẻ thù đã giết mất những người giỏi nhứt. Nhưng Neas tự an ủi, ít ra cũng còn Canley, những người bị thương và tất cả mọi người.

    Chỉ mới 6 tuần trước, đại đội thực hiện một cuộc tấn công quân CSBV trong các hầm hố ở Cồn Tiên. Neas lom khom đằng sau một chiếc xe tăng khi chiếc xe nầy tiến tới. Một trong các xạ thủ đại liên bị đạn vào ngực. Y tá chạy lên, cũng trúng đạn và ngã xuống. Neas thấy Canley chạy vượt qua chỗ anh ta, ôm lấy người y tá bị thương bây giờ trông rất tơi tả, rồi nhanh như chớp quay trở lại, vừa chạy vừa bắn mà chẳng bị chợt da một chút nào.

    Neas rất tin những người chỉ huy Trung Đội 1. Thiếu úy William R. Donnelly là một người dẻo dai, tóc vàng, vừa mới được gắn loon ra trường tại học viện Annapolis. Vì Neas và những người lính khác mới 18, 19 tuổi trông anh ta còn trẻ nên họ đặt cho Donnelly biệt danh là “Chú Bé”. Trong trung đội cũng có một anh trung sĩ, trung sĩ Josef Burghardt, 21 tuổi, dáng người rắn chắc, đẹp trai và thông minh. Anh ta từ Nam Tư di dân đến Mỹ hồi 5 tuổi, và muốn tạo sự nghiệp trong TQLC. Anh ta xăm một cái hình lớn biểu tượng cho TQLC/ Hoa Kỳ trên bắp tay. Năm 1966-67, anh đến Việt Nam một lần, khi ở Sư đoàn 9, được thưởng Anh Dũng Bội Tinh Ngôi Sao Đồng – như anh ta thường nói, chẳng nghĩa lý gì cả -, khi anh ta cùng đồng đội phản kích một cuộc tấn công của Cộng Sản sau khi đã bị thương.

    Neas yêu mến Burghardt; anh ta là một TQLC giỏi, một người bạn, một hạng người có thể tin tưởng hết lòng. Cả Trung Đội 1 ai cũng có lòng tin anh ta như vậy.

    Thiếu úy Donnelly và trung sĩ Burghardt không có thì giờ nghỉ ngơi một chút sau khi sắp xếp đơn vị lại tại MAC.V. Viên thiếu úy được lệnh đưa trung đội của anh ta, một trung đội lấy từ đại đội Bravo và hai cái xe tăng nhỏ có trí súng đại bác đi tìm xác hai TQLC bị giết ở phía đông MAC.V, quanh sân vận động Huế. Họ đã để lại hai xác chết nầy trên đường. (TQLC có truyền thống là không được bỏ xác đồng đội lại sau khi rút đi).

    TQLC tiến ra, vòng theo các đường phố và con hẽm, không ai biết chắc việc gì sẽ xảy ra. Trước đây, họ chưa bao giờ chiến đấu trong thành phố. Mọi người ai cũng căng thẳng thần kinh. Bất thần có bóng người di chuyển phía trước, thập thò ở cái hố bên đường. Tức khắc, hai TQLC quỳ xuống và nổ súng, chiếc xe tăng có gắn đại bác đi đầu cũng nổ súng. Mấy bóng người gục xuống. Khi TQLC tiến lên, họ bối rối vì quang cảnh trước mặt: Dưới đáy hầm và bên lề đường là xác mấy người Việt Nam mặc đồ dân sự. Có thể đó là quân CSBV xâm nhập ngụy trang dân sự. (đơn vị 1/ 1 đã gặp rắc rối vì tình trạng nầy) hoặc cũng có thể họ là người dân thường thật sự.

    Dù sao thì cũng có vài TQLC chẳng quan tâm lắm.

    Cuộc tuần tiểu tiếp tục. Có tiếng súng AK nổ phía trước. Ngay phát súng đầu tiên, Burgdardt và Neas nằm sát xuống đất, bên chiếc xe đại bác đi đầu. Xe quay súng về phía căn nhà nhỏ nằm

    Có người phát hiện ra mấy cái xác họ đang đi tìm nên bốn TQLC chạy lên trước để nhận xác. Súng AK và B-40 lại nổ khiến ba người té xuống đường, bị thương. Thiếu úy Donnelly và trung sĩ nhứt James R. Bresnahan cùng Dagley, cả hai thuộc Đại Đội Bravo chạy lên trước. Lính TQLC bắn như điên để che cho những người nầy. Cách khoảng mấy chục thước phía trước, địch bắn tới, đất như bị cào lên chung quanh. Donnelly bị mấy mảnh đạn hỏa tiển, nhưng ba người nầy vừa khom mình chạy vừa bắn để kéo mấy người bị thương lui.

    Trung đội tập trung người bị thương và bắn ngược lại phía đường cũ: MAC.V. Thiếu úy Donnelly đem trung đội tiến ra hướng tây để tham chiến cùng những người còn lại trong đại đội. Họ vào một ngôi nhà lớn và Donnelly thấy mình đang đứng hàng đầu. Anh ta điện đàm với trung úy Smith, người muốn anh ta rút lui. Tuy nhiên, lúc ấy trời đã tối, di chuyển trong đêm rất nguy hiểm. Vì vậy, trung đội ở lại. Chỉ còn có 19 người. Donnelly gọi điện cho Smith bắn súng cối yểm trợ cho anh ta.

    Trung sĩ Burghardt trải qua một đêm ngồi bên cửa sổ, nhìn qua đám ruộng và hàng cây phía bên hông. Thỉnh thoảng hỏa châu bắn lên, rọi xuống đường và các đám ruộng đầy nước. Ngay ở đây, nhìn qua cửa sổ, anh ta thấy quân CSBV. Họ đi từng đoàn, từng đoàn phía bên kia ruộng lúa, giống như đàn kiến, hướng về phía biển. Họ không mang súng, nhưng pháo binh hay súng cối cũng không được gọi tới tác xạ vào họ. Suốt đêm, quân CSBV an toàn di chuyển, không bị hề hấn gì, mang người chết và bị thương ra ngoài thành phố và mang đồ tiếp tế vào. Burghardt nghĩ: “Thiệt là ngu xuẩn.”

    Hôm đó, đại tá Hughes ở trong MAC.V khi có pháo kích. Sau đó, có tin báo cáo là cầu An Cựu đã bị đặc công địch phá sập. Như thế, con đường bộ từ Phú Bài đi Huế bị cắt đứt. (Có vài cây cầu khác nữa nằm phía tây cầu An Cựu, cũng trên sông đào nầy, một nhánh sông từ sông Hương chảy vào, nhưng tất cả cầu nầy còn nằm trong tay địch). Đó là tin xấu, nhưng địch cũng không may gì. Họ đã để một thời gian quá lâu mới phá cầu. Đó là chỗ hỏng lớn trong kế hoạch hành quân của họ. Cây cầu đã giúp đưa các Đại đội A/ 1/ 1 và G/ 2/ 5 vào MAC.V ngay ngày đầu tiên, cứu được nơi nầy, thiết lập điểm phòng ngự, chuẩn bị cho cuộc tấn công của Hoa Kỳ. Cầu nầy giúp đưa thêm vào Huế nhiều binh lính và tiếp liệu. Đến khi quân CSBV phá cầu An Cựu thì đã có 5 đại đội ở Nam Huế. Xem xét tình hình địch, Gravel thấy có lý do để mỉm cười.

    Sáng hôm sau, thứ Hai, ngày 5 tháng Hai, hai Đại Đội Alpha và Bravo bắt đầu tiến chiếm các ngôi nhà dọc theo ruộng lúa. Hạ sĩ Neas cùng toán súng máy chạy qua một con hẽm, bắn vào các cửa sổ ở những ngôi nhà trước mặt họ. Quân CSBV bắn lại như mưa.

    Trung sĩ Burghardt vẫn còn ở trong căn nhà lớn với hạ sĩ Norris Brennen, anh nầy là tiểu đội trưởng súng máy, đang bắn qua bên kia đường. Burghardt gọi máy cho Donnelly báo rằng cần thêm hỏa lực hỗ trợ. Anh ta biểu Brennan tránh xa các cửa sổ cho đến khi họ có thể xử dụng xe tăng được hay sẽ làm gì đó rồi rút ra khỏi hành lang. Anh ta mới đi được có mấy bước thì nghe Brennen bắt đầu nổ súng trở lại. Rồi anh ta nghe có tiếng vũ khí đụng lách cách trên sàn nhà. Burghardt vội quay lại phòng. Brennan là người chậm chạp, để súng cướp cò trúng mặt, máu tuông ra.

    Neas đang trí súng vào thành cửa sổ để bắn thì thấy mấy TQLC đang ở phía dưới đường vội vã khiêng một người ra cửa. Đó là Brennan, đầu anh ta băng kín. Còn sáu tuần nữa thì anh ta hết phiên ở Việt Nam, nhưng anh bị xuất huyết cho tới khi chết.

                Có nghĩa là bây giờ hạ sĩ Neas làm tiểu đội trưởng.

    Vài phút sau, tiếng xích sắt xe tăng kêu leng keng dưới đường. Xe dừng lại, pháo tháp quay chậm chậm về phía ngôi nhà có quân CSBV ẩn núp, bắn mấy phát. Đại bác 90 ly nổ bum lên, người chỉ huy bắn đại liên 50 vào các cửa sổ, gạch ngói bay lung tung, khói lên cuồn. Địch chạy ngược lui cửa sau, trợn tròn mắt kinh hoàng, không bắn được phát súng nào, chạy vượt qua khoảng sân sau. Burghardt chạy tới cửa sổ tầng lầu 2. Cách khoảng mấy chục thước, quân CSBV đang bò. Vài người giật bắn lên và rơi xuống vì trúng đạn. Số khác chạy thoát được. Burghardt nổ súng nhưng cũng không chắc anh ta có gặt hái được gì.

    Cuối cùng, anh ta ngưng bắn, mang súng M-16 chạy xuống cửa sau nơi quân CSBV chạy ra. Một lính địch nổ súng. Anh ta bắn lại một tràng, địch ngã ngay xuống sân. Rồi một tên phóng ra, anh ta bắn hạ, lại một tên nữa phóng ra, anh bắn hạ, cứ thế mà anh ta đã hạ được nhiều địch quân.

    Một lúc, tình hình yên tĩnh trở lại. TQLC hé nhìn qua các khe cửa, Họ thấy có 9 địch quân chết nằm chồng lên nhau mà các đồng chí của họ không kéo đi được. Gravel thấy tự hào về thành quả đó. Quả thật đơn giản là quân CSBV không thể nào đương cự nỗi với những người lính TQLC trẻ trung của ông ta.

    Các thương binh TQLC vẫn tiếp tục chiến đấu hoặc được đưa vào trạm xá trong MAC.V. Lúc tình hình lắng dịu, y sĩ Hamilton tới bộ chỉ huy của đại tá Hughes. Ông ta đang đứng đó thì có bức điện gởi tới cho đại tá Hughes. Mấy TQLC phát hiện quân CSBV trong một ngôi chùa và xin phép bắn súng cối vào ngôi chùa ấy. Hughes làm theo chỉ thị về cuộc chiến ở Huế, nên gọi điện xin phép bộ chỉ huy LLĐN của tướng LaHue ở Phú Bài, rồi từ đây chuyển cho bộ tham mưu tướng Robertson tư lệnh Sư đoàn 1 TQLC ở Đà Nẵng. Từ đây, điện lại chuyển cho bộ tham mưu tướng Cushman. Hai giờ sau, Hughes nhận được lệnh cho pháo kích ngôi chùa nhưng kèm theo lời khuyến cáo giảm thiểu tối đa sự hư hại ngôi chùa cũng như những kiến trúc quanh chùa. Tới khi TQLC bắn đại bác không giật vào chùa thì quân CSBV đã rút mất rồi.

    Hôm sau, ngày 6 tháng Hai, trung sĩ Burghardt leo lên tầng trên của ngôi nhà lớn khi anh ta nghe la có quân địch ở phía sân sau. Anh ta chạy tới cửa sổ nhìn xuống thấy có một Việt Cộng và hai quân CSBV đang núp dưới mấy cây dừa ở trong sân, lặng lẽ quan sát vị trí của TQLC. Họ không biết là họ đã bị phát hiện. Burghardt đưa súng lên nhưng vì lá dừa che nên không trông rõ địch. Anh ta mang súng chạy xuống tầng dưới tìm một cửa sổ khác trông ra. Bây giờ anh ta thấy rõ. Họ đang ngồi quay lưng về phía anh. Anh ta từ từ đưa súng lên vai và nhắm bắn. Một lính CSBV đâm đầu gục xuống gốc cây. Phát thứ hai: Anh kia rơi phịch lui sau. Cả trung đội nổ súng: Tên địch thứ ba và lá cây như bị xé nhỏ ra.

    Dù vậy, họ không phải thanh toán hết đám địch trong khu nầy.

    Một lúc sau đó Burghardt đang đứng ở tầng dưới nói chuyện với trung úy Donnelly thì có tiếng nổ lớn phía sau bức tường họ đang đứng. Hai người lính TQLC đang đứng ở đây, tai bị vưng lên, phủi bụi và chùi máu phía sau cổ. Một mảnh đạn xuyên qua áo giáp và mũ sắt. Anh ta nhận ra quân CSBV đã dùng ngay chính hỏa tiển của họ để bắn.

    Hai người đều được Chiến Thương Bội Tinh nhưng không ai chịu di tản cả.

                Trong tuần đầu tiên chiến đấu trên đường phố, Đại đội 1/ 1 lấy làm vui vì đã hoàn thành nhiệm vụ trong trận đánh Huế. Từ ngày đầu tiên, Gravel đã gọi điện tiếp xúc với bán Phi Đội Cat Killer của Không Quân Hoa Kỳ, họ đang đóng gần MAC.V và đang bị quân CSBV bao vây. Họ đào hầm trong nhà, đặt mìn claymore chung quanh nhà, chờ giải cứu. Mỗi khi Đại Đội Alpha hay Bravo tiến gần tới họ thì họ bị địch bắn rất gắt. Họ có một bản đồ và thông báo vị trí địch cho Gravel. Mỗi khi địch bắn vào nhà hay bắt đầu quấy rối bên ngoài thì họ chỉ điểm vị trí địch cho Gravel. Do đó, Đại đội 1/ 1 bắn súng cối vào vị trí địch, đẩy địch ra chỗ trống để dễ tác xạ. Được ít ngày, pin trong máy của họ bắt đầu yếu đi. Do đó, Gravel nói với họ gọi hạn chế giờ lại để báo cáo tình hình mà thôi. Một hôm, họ nghe được trong máy tiếng nói như thì thầm. Gravel biểu họ cố giữ liên lạc bằng việc lắc ống nói. Không Quân cố thả pin xuống cho họ nhưng lại lạc dấu. Cuối cùng Đại đội 1/ 1 chiếm lại được ngôi nhà và giải cứu họ. Đó là kinh nghiệm giữa 1/ 1 và toán phi công Cat Killer. Sau Huế các phi công nầy hết lòng giúp binh lính của Gravel.

    Chương 5: Lá cờ Mỹ trong sân tòa Hành chánh Thừa Thiên/ Huế

               

    Sau khi củng cố an ninh khu Ngân Khố – Bưu Điện mới chiếm được, ngày hôm sau, Đại  Đội 2/ 5 (ĐĐ) chiếm Câu Lạc Bộ Thể Thao, Thư viện Đại Học, Bệnh Viện Trung Ương Huế. Tài liệu cho biết có 38 TQLC Mỹ bị thương trong khi 66 lính CSBV bị giết và 30 chục CSBV bị bắt khi đang điều trị trong bệnh viện Trung Ương Huế.

                Mục tiêu chính của Đại Đội bây giờ là tòa Hành Chánh tỉnh Thừa Thiên/ Huế. Đại úy Ron Christmas, Đại Đội Trưởng Đ/Đ Hotel được giao nhiệm vụ nầy. Anh ta gặp phải vài điều rắc rối về chiến thuật. Tòa Hành Chánh nầy là một khu nhà lớn, hai tầng lầu xây theo kiểu Pháp, mái bằng, rất tiện cho quân Cộng Sản núp trên đó để bắn xuống đường. Một bức tường cao 8 bộ bao quanh tòa nhà, phần trên tường nầy lại có những khe hở. Christmas không biết có gì sau những bức tường nầy.

    Tuy nhiên, viên đại úy trẻ tuổi nầy gặp một điều thuận lợi lớn: Binh lính ông ta muốn chiếm ngôi nhà nầy. Vào ngày đầu tiên khi chiếm Huế, quân Cộng Sản đã treo một lá cờ sao vàng lên cột cờ của toà Hành Chánh. Đó là một hình ảnh cứ hiện ra dai dẳng mà xạ thủ súng máy Frank Thomas thường phản ảnh ý nghĩ của nhiều TQLC khác, khi anh ta nói rằng: “Cần phải hạ lá cờ của quân CSBV đó xuống.” Họ đã thực hiện được việc ấy hôm 6 tháng Hai.

    Ngày 6 tháng Hai, sau trưa một chút, họ tiếp tục tiến quân, theo sau là cỡ một tiểu đội phóng viên báo chí, gồm cả Don Webster của đài truyền hình CBS và hai người Việt mang máy quay phim cho anh ta, trung sĩ Bertson và trung sĩ Dye, trung sĩ Bill Dickman, trung sĩ Paul Thompson. TQLC Mỹ tiến phía trước, đi ngoằn ngoèo qua những cây cọ đã bị bắn ngã và mấy ngôi nhà nhỏ bị cháy cho đến khi vào được bên trong một cái sân rộng có trồng cây rải rác. Phía sau sân là tòa nhà lớn, hai tầng. Bên phải họ là đường Lê Lợi và sông Hương, cuối sân là dãy nhà xe thấp, quay mặt ra con đường kế đó, ngay bên kia đường là toà Hành Chánh tỉnh Thừa Thiên/ Huế. TQLC bò trên cỏ, về hướng nhà xe, cúi xuống thật thấp. Quân CSBV bắn dữ dội.

    Ngay khi súng bắt đầu nổ, thiếu tá Salvati kéo theo tài xế của ông và hai TQLC trẻ xạ thủ đại bác 3.5 inches tìm đường vào bệnh viện vừa được giải tỏa xong. Bệnh viện vắng, ngoại trừ một phòng dài đầy bệnh nhân nằm trên giường. Mấy bệnh nhân nầy đã già và sợ điếng người. Salvati coi như họ đã chết. Mấy TQLC vào cuối phòng và tìm một cửa sổ ngó qua tòa Hành Chánh rồi trí súng đại bác 3.5 lên trên ấy. Xạ thủ nổ súng, hơi bật hậu dội vào hành lang, các giường bệnh bị đùa xa ra, dồn vào góc nhà. Các TQLC kinh ngạc nhìn những người bệnh già bất thần chui ra khỏi giường và từ từ biến mất.

    Họ bắn thêm mấy phát súng nữa. Salvati gọi máy cho Cheatham mang tới ít đạn hơi cay để bắn sang tòa Hành Chánh. Ông ta muốn lặp lại thành công đã đạt được ở ty Ngân Khố. Nhưng lần nầy thì gió ngoài sông Hương thổi vào hơi cay bay mất.

    Đại úy Christmas đứng trên đám cỏ trước căn nhà lỗ chỗ vì đạn, súng M-16 mang trên vai, đang nói vào máy truyền tin. Ông ta còn trẻ nhưng mặt mày phờ phạc, râu ria lởm chởm, giọng nói mệt mõi. Ông ta và đại đội đánh nhau với quân CSBV ở Huế đã 5 ngày. Bên cạnh là hai hiệu thính viên còn trẻ và các phóng viên báo chí. Thomas đứng kế bên, mang cây shotgun trên vai trông như cái gậy của người đi bộ. Anh ta đang bàn với Cheatham làm thế nào để tấn công vào mục tiêu dễ hơn.

    Chẳng bao lâu sau, viên trung úy gọi một chiếc xe tăng hạng nhẹ có trí súng đại bác tiến lên phía đường Lê Lợi, bên hông phải của đại đội Hotel, dừng lại phía ngoài bức tường. Qua khỏi ngã tư phía trước, bên trái là toà Hành Chánh. Muốn có một xạ trường tương đối rõ, chiếc xe phải tiến lên một chút nữa, qua khỏi bức tường, chỗ khúc đường trống. Chiếc xe tăng hạng nhẹ ló mũi ra khỏi bức tường và cho nổ ba phát 106 ly vào hướng quân CSBV trong tòa Hành Chánh.

    Ban Chỉ Huy của Christmas vẫn còn đứng trong sân khi có tiếng đạn bay ngang trên đầu. Rồi có tiếng nổ dữ đội như tiếng sắt thép chạm nhau. Người hiệu thính viên cúi xuống núp và nhăn nhó, trong phút chốc trông họ như những đứa trẻ đang run sợ bên cạnh Christmas và Thomas già dặn hơn, chẳng một chút nhúc nhích gì cả. Một tràng AK nổ ngay trên đầu. Vài giây sau, có tiếng một người trẻ gọi: “Y sĩ”.

    Thomas và vài TQLC tiến lên trước. Viên thiếu úy và ba người lính trong đội xe đang ở phía sau bức tường nhà xe, ai cũng bị thương hoặc run vì tiếng nổ. Thomas buông cây shotgun xuống và quì bên cạnh người bị thương nặng nhứt, một anh lính rất trẻ, mũ sắt văng mất, nằm úp bụng xuống cỏ. Thomas lật anh lính bị thương nằm ngữa ra lại. Anh ta nói yếu ớt và chỉ vào mắt, có mảnh đạn nằm trong ấy.

                Thomas nhìn lui chỗ ban chỉ huy, gọi: “Y sĩ lên đây.”

    Họ đem người bị thương để ở phía sau bức tường bị đạn lỗ chỗ, tránh đường đạn nổ lốp bốp từ hướng tòa Hành Chánh bắn tới. Một y sĩ mở đường cho họ đi. Anh ta cẩn thận băng quanh mặt anh lính trẻ. Màu băng trắng dính đất cát. Băng che mắt người lính, anh ta bắt đầu rên rỉ: “Tôi bị thương, tôi bị thương.”

    Phía trước, lính CSBV vẫn còn bắn vào nhà xe. Christmas quyết định tấn công địch, anh ta ra lệnh cho Trung Đội 1 tiến lên.

    Chỉ huy Trung Đội 1: Thiếu úy Leo Myers, còn trẻ, mang kính trắng, chừa râu. Anh ta và mấy người lính của anh đang túm tụm bên ngoài nhà xe, chờ lệnh tiến quân. Họ chạy xuyên qua hai cánh cổng sắt để vào con đường ở mặt tiền tòa Hành Chánh. Cánh cổng đang mở và Thomas lo ngại lính của anh sẽ bị thương vong khi cố vượt qua cánh cổng ấy. Anh ta tìm được một góc phía sau cánh cổng, lấy một viên gạch đỏ cột vào đầu sợi giây rồi liệng qua cánh cổng, kéo cánh cổng ra và cột xuống đất.

    Thiếu úy Myers cầm M-16, huơ tay ra dấu cho lính. Họ phóng nhanh vào cổng, ai cũng mang mặt nạ. Trung sĩ Berntson, Dye và thiếu tá Aloysius McGonigal, linh mục tuyên úy, cùng nhào vào tấn công cùng với trung đội. Dye hoảng kinh: Cái mặt nạ anh ta mang bỗng quá nóng, ngộp, anh ta chẳng thấy được quái gì hết.

    Súng lại bắt đầu nổ. TQLC băng qua đường, tìm chỗ núp dọc bờ tường sân tòa Hành Chánh và hàng cây dọc theo lề đường. Quân CSBV bắn ngang trên đầu họ làm họ không nhúc nhích được. Christmas gọi một chiếc xe tăng hạng nhẹ lên tiếp sức. Một chiếc ầm ầm chạy lên. Christmas tới bên chiếc xe, mở máy truyền tin gắn sau xe, cúi xuống tránh đạn và chỉ điểm mục tiêu cho khẩu đại bác 90ly trên xe. Nhiều tiếng nổ như xé phát ra trong tòa Hành Chánh. Bỗng một trái B-40 nổ ngay phía trước chiếc xe tăng, mảnh bay tung tóe. Thêm một trái B-40 nữa nổ tiếp, Christmas không đeo được xe, té xuống. Chiếc xe tăng vẫn bắn.

    Súng cối 81-ly của ban Chỉ Huy Đại Đội bắt đầu nổ chung quanh. Thiếu tá Salvati và nhóm của ông bắn thêm mấy quả hơi cay, lần nầy trúng ngay mục tiêu. Quân địch bắn ít đi và Christmas gọi điện cho Myers: “Tiến lên.” Trung đội cho nổ một lỗ nơi vách tường sân, tiến vào, khom mình xuống dưới nón sắt, áo giáp và đồ trang bị. Họ khom mình núp sau hàng cây và bức tường thấp bằng đá trong sân, rồi cứ mỗi lần hai hay ba người phóng như tên bắn vào tòa nhà chính. Cửa trước bị bắn bung ra, lựu đạn tống vào, TQLC tiếp tục bắn. Súng AK vẫn nổ từ bên trong và hai người lính TQLC xông vào đầu tiên gục ngay nơi cửa. Trong cảnh súng nổ dữ dội, linh mục McGonigal chạy tới và nằm xuống bên cạnh người lính vừa chết, làm phép thánh lần chót cho người nầy. Số TQLC còn lại quăng thêm lựu đạn vào nữa. Toán CSBV rút lui, súng vẫn nổ, bắn đuổi theo họ.

    Trung đội 2, do trung sĩ John Miller chỉ huy, và Trung đội 3, do thiếu úy Mike Lambert, vượt qua đường cùng với Christmas và Thomas cùng ban Chỉ Huy Đại Đội. Việc đầu tiên Thomas và các TQLC làm là chạy ngay tới cột cờ, hạ lá cờ Cọng Sản xuống.

    Tình hình trong khu vực tòa Hành Chánh được yên, các TQLC đứng nghỉ ở đó, ai nấy mệt nhoài, dựa lưng vào tường, nói chuyện với nhau bằng một giọng nói yếu ớt, không ra hơi. Thomas kẹp cây súng Shotgun giữa hai đầu gối, mở nút áo giáp, và kéo ra: Một lá cờ Mỹ.

                Đối với TQLC đó là một hình ảnh đẹp.

    Trước khi trận đánh bắt đầu, Cheatham và Christmas thảo luận về việc treo cờ. Theo luật pháp miền Nam Việt Nam, kể từ khi Mỹ được xem là khách của Việt Nam, trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam Cọng Hòa, không thể treo lên một lá cờ Mỹ mà không kèm lá cờ vàng đỏ của Việt Nam Cộng Hòa. Tuy nhiên, thật ra, chẳng ai muốn treo lá cờ Việt Nam lên đây. Đây là lính TQLC, với những bạn hữu của họ, những người vừa mới chết trên đường phố, họ không phải là binh sĩ Việt Nam Cộng Hòa. Ông đại tá và các đại úy tự hào về chiến công của binh lính mình, vì vậy trong trường hợp nầy, luật lệ không được quan tâm tới.

    Cheatham nói: “Chúng ta không có quyền treo lá cờ Mỹ ở đây. Nhưng chúng ta đã tiến lên, treo cờ và chẳng ai nói với chúng ta không được phép làm việc ấy. Chúng ta đang chiến đấu, chúng ta cần có lá cờ để giữ niềm tin. Tôi muốn mấy tay CSBV ở bên kia sông phải thấy lá cờ nầy.”

    Thomas mới tới Việt Nam, nói với Christmas rằng ở quê nhà, mỗi sáng anh ta phải chào cờ. Mấy hôm trước, khi cấp chỉ huy nói với Thomas họ được phép treo cờ, Thomas biểu lính đi xoáy đâu đó một lá cờ. Không ai tìm ra. Họ lại được sai đi một lần nữa với chỉ thị là không có cờ thì không về. Họ kiếm được một lá. Có người nói là họ chôm lá cờ ở cột cờ MAC.V. Thomas chẳng cần lưu tâm lá cờ được lấy ở đâu. Anh ta ra trận với lá cờ xếp lại cất trong áo giáp.

    Thomas, một người đã có gia đình, quê ở Camden, New Jersey, đúng là dáng dấp của một TQLC, ốm, dẻo dai, dửng dưng, chạm hình con rồng và con chó bull ở cánh tay trước. Tuy nhiên, trong 17 năm ở trong TQLC, anh ta chưa bao giờ ra trận. Huế là trận đánh đầu tiên, và chiếm tòa Hành Chánh tỉnh là phút giây huy hoàng của đời anh.

    Đại úy Christmas quay về phía Thomas và la to: “Làm đi.”

    Lúc ấy là vào khoảng quá 4 giờ chiều một chút. Thomas chạy tới cột cờ, nắm sợi giây. Súng vẫn còn nổ lốp bốp phía ngoài tường. Walter R. Kaczmarek, 19 tuổi, người mang máy truyền tin cho trung úy Myers và Alan V. McDonald giúp Thomas kéo cờ lên. Nhóm truyền hình của hãng thông tấn CBS và các nhiếp ảnh viên của TQLC/ HK quì trên sân cỏ, quay phim và chụp hình. Thomas kéo lá cờ “Sao và Sọc” lên giữa tiếng la hét hoan hô của TQLC. Christmas đưa tay lau nước mắt. Họ đã treo được lá cờ lên, phóng viên Don Webster của CBS mô tả lại trên truyền hình như sau: “Chẳng có người lính đứng thổi kèn chào và TQLC quá bận rộn không ai có thì giờ đứng nghiêm trước quốc kỳ, nhưng ít khi có được một lá cờ nào được kéo lên trong niềm tự hào như vậy.”

    Tại ban Chỉ huy Đại đội, Cheatham gọi máy cho Bộ Chỉ Huy của đại tá Hughes tại MAC.V: “Chúng tôi đã chiếm được tòa Hành Chánh tỉnh và bằng mọi cách, một lá cờ Mỹ đang bay phất phới tại đó.”

    Thomas, McDonald, Kaczmarek và Myers cùng một vài TQLC khác đứng sắp hàng cầm lấy chiến công của họ: lá cờ Cọng Sản họ vừa mới lấy được cho các phó nhòm chụp hình. Các TQLC ai nấy đều dơ dáy và mệt đứt hơi, râu tóc không cạo, trang bị nặng trĩu – nhưng đây là lần đầu tiên kể từ khi đánh Huế, họ cười to và sung sướng.

    Thomas, súng Shotgun mang sau vai, gọi to, đùa với toán truyền hình CBS:

                “Chúng tôi đang đói, Đại đội Hotel. Quay phim đi.”

                Vài người cười to.

    Một TQLC nói to với người quay phim: “Xong chưa, chúng tôi muốn ra khỏi cái địa ngục nầy.”

                Người ta lại cười vì câu nói đùa.

    Thomas rời khỏi đám người đang chen chúc quanh cột cờ và thở dài luyến tiếc. Anh ta cảm thấy tự hào, vui sướng và cả sợ hãi khi kéo lá cờ lên, và bây giờ thì anh ta cảm thấy hết sức xúc động, nước mắt lưng tròng. Anh ta một mình đi về hướng bức tường để tự trấn tĩnh. Bất thần, như có tử thần trên đường đi! Kìa, xa chưa được một thước phía trước, ngay phía chân tường, một người lính CSBV đang núp trong một cái hố, súng AK kẹp giữa hai đầu gối. Mắt họ thấy nhau.

    Thomas chụp súng bắn mấy phát. Người lính CSBV cúi núp xuống hố. Thomas phóng mình qua một bên và gọi TQLC: “Coi mấy cái hố, coi mấy cái hố ở đằng kia.” Có khoảng gần một chục cái hố dọc theo các bức tường. McDonald và nhóm hỏa lực của anh xông tới, đi dọc theo bờ tường, nổ súng vào từng hố một. Chỉ trong ít phút, công việc xong. Lính CSBV chẳng bắn lại phát súng nào. TQLC giết 6 mạng trong các hố đó, mỗi người súng nằm bên cạnh.

    Có một người lính CSBV sống sót. Anh ta còn trẻ, đi chân đất, kịp đưa tay lên hàng trước khi TQLC nổ súng. Hai người mang máy truyền tin, một đen, một trắng nắm cổ tay lôi anh ta đi.

    Một lúc, sau khi thiết lập an toàn khu tòa Hành Chánh, một đại tá ở MAC.V gọi máy cho Christmas biểu phải tuân theo luật lệ, hạ lá cờ Mỹ xuống. Anh ta không tuân lệnh. Một lát sau, có hai đại úy Mỹ đến và nói với Christmas, họ đến để giám sát việc hạ lá cờ Mỹ xuống. Christmas nói với hai người nầy nếu họ muốn lấy lá cờ Mỹ đi thì họ cứ tự làm lấy, nhưng anh ta không bảo đảm binh sĩ anh ta không có phản ứng.

    Các TQLC đứng lại để xem cấp chỉ huy của họ đối phó với hai viên đại úy. Họ kinh hoảng về việc hạ cờ. Chiến hữu họ tử trận chưa kịp mang đi, họ còn đang đấu súng với địch còn núp lén ngoài tường. Bây giờ thì có hai thằng cha xỏ lá tới đây nói chuyện thủ tục lễ nghi. Các TQLC càu nhàu: “Tao không thể tin được.” Họ nguyền rủa cuộc đời và mấy tên quân nhân kỳ quặc. Thomas cố trấn an họ. Nhưng Kaczmarek nạp một băng đạn M-60 và cằn nhằn một cách cay đắng với Berntson: “Nếu một trong hai thằng chó đẻ nầy đụng tới lá cờ là tao bắn tan xác nó.”

    Hai viên đại úy đành về tay không.

    Cuối cùng, một sĩ quan TQLC tại MAC.V can thiệp, và Christmas đồng ý cho hạ cờ xuống khi họ đã rút ra khỏi khu vực nầy.

    Sáng hôm sau, sau một đêm pháo kích bằng súng cối, TQLC chuẩn bị lên đường. Họ hạ cờ xuống như không để lại gì nơi đó cả. Một sĩ quan nói với một phóng viên báo chí dân sự: “Nếu chúng tôi không treo lá cờ Mỹ lên đó thì chúng tôi cũng không treo một lá cờ nào khác.”

    Thomas xếp lá cờ lại, bỏ vào gói rồi cùng binh sĩ tiến qua những ngôi nhà đổ nát bên cạnh.

    Như Don Webster của hãng CBS thuật lại: “Ngay lúc nầy thì tòa Hành Chánh là tuyến đầu. Và họ đã chận được một cuộc tấn công. Trận đánh nầy làm cho họ nổi tiếng và một sự đánh giá lớn lao không phải thắng hay bại mà chính căn bản là ca ngợi lòng can đảm của họ. Lòng can đảm đó không thiếu gì trong hàng ngũ binh sĩ TQLC.”

    Chương 6: Từ MAC.V đến Phú Cam Củng cố vị trí phía Nam sông Hương

               

    Sau khi Đại Đội Hotel củng cố an toàn toà Hành chánh vào ngày 6 tháng Hai, TQLC tìm ra bộ chỉ huy của quân CSBV. Họ thấy ở đây vũ khí, bản đồ, trang bị, giấy tờ và tiền bạc cùng nhiều tài liệu khác. Trung tá Cheatham nói với báo chí: “Chiếm được Tòa Hành Chánh là đánh vở mặt hậu của họ. Đó là công việc khó khăn. Bây giờ chúng tôi chỉ gặp phải những ổ kháng cự lẻ tẻ.”

                Viên đại tá không quá chủ quan (tuy nhiên, không quá lạc quan như ở bộ Chỉ Huy cao cấp, tuyên bố tình hình Nam Huế ổn định kể từ 10 tháng Hai), nhưng về căn bản thì ông ta đúng. Tuần đầu tiên thì CSBV và Việt Côjng còn gây được áp lực. Sau đó đại đội 2/ 5 đã chiếm được khu vực Bưu Điện và Tòa Hành Chánh, củng cố vị trí của họ, đại đội 1/ 1 thì củng cố MAC.V và hai ngày chiến đấu đẩm máu tại trường Jeanne d’ Arc. Sau đó, ưu thế thuộc về phía TQLC. Đại Đội 2/ 5 tiến dọc theo sông Hương và Đại Đội 1/ 1, xa hơn về phía nam, hành quân dọc theo sông An-Cựu, tiến về phía bắc, đến sông Hương. Trong tuần lễ đầu tiên đó, TQLC chưa bao giờ bị đánh bật lui. Họ tấn tới, đánh từ nhà nầy qua nhà khác, từ khu nầy qua khu khác, củng cố vị trí vào ban đêm, tiến công vào ban ngày. Sức kháng cự của địch càng lúc càng yếu dần. Họ không còn sức chiến đấu, giữ từng phòng hay từng nhà như trước nữa và chủ yếu là phản công bằng bắn lén, pháo kích bằng súng cối hay hỏa tiển.

                Cường độ trận chiến càng lúc càng yếu đi, thời gian phản ảnh chiến cuộc đã rõ hơn.

                Một trong những vấn đề lớn trong hàng binh sĩ ở vài đơn vị, – và một trong những phản ảnh hoạt động của các sĩ quan trong quân đội – sĩ quan thì ngồi trong ghế bành chỉ huy các đại đội trưởng, các đại đội trưởng ngồi trong công sự chỉ huy các trung đội; các tiểu đoàn trưởng thì ngôi trên trực thăng, khuất tầm tác xạ của địch. Ở Huế có sự trái ngược với những điều như thế. Trong trận đánh, sĩ quan TQLC đi đầu, mức độ thương vong của sĩ quan cấp úy chứng minh như thế. Sĩ quan cấp chỉ huy tiểu đoàn cũng thế. Mặc dầu đây chỉ là những trận đánh ngắn, rời rạc, nhưng cấp chỉ huy tiểu đoàn cũng ở ngay tuyến đầu. Cả hai trung tá Cheatham và Gravel chia xẻ công việc cho nhau, tiến lên cùng với binh sĩ, ngay cả trong những lần đụng độ hết sức nặng nề. Đặc biệt Cheatham được nhiều người ca ngợi. Các phóng viên báo chí theo dõi trận đánh thường có khuynh hướng tốt về đại đội 2/ 5, viết về lòng can đảm cao độ của họ. Sĩ quan hành chánh của ông, thiếu tá Salvati, sau nầy tuyên bố:

    “Mọi người biết công nghiệp của tôi trong lực lượng TQLC. Tôi dám mạnh bạo nói rằng đại tá Cheatam là một cấp chỉ huy hoàn hảo nhứt mà tôi có dịp phục vụ dưới quyền ông ta. Tài lãnh đạo của ông rất năng động. Chỉ trong những ngày đầu tiên của trận đánh, nhiều lúc dưới hỏa lực địch, ông đã xuất hiện chỉ rõ từng mục tiêu một để binh sĩ tấn công. Ông chỉ huy tiểu đoàn của ông theo đúng truyền thống tốt đẹp nhứt của một sĩ quan TQLC.”

                Huế, có nhiều điều tự hào vì thực ra, (mặc dù đã gánh chịu tất cả những cuộc tuần tiểu tao-ngộ-chiến, những thất bại, và trì trệ ở An Hòa), TQLC đã đánh bại, giành thắng được một trận chiến cam go, dữ dội, đè bẹp được các đơn vị quân chính qui CSBV. Đại úy Christmas nói với các phóng viên báo chí: “Quả thật đây là một trận chiến dành cho các người chỉ huy cấp tiểu đội, một phương cách chiến đấu. Các TQLC trẻ phản ứng rất cừ.”

     

                Thiếu tá Salvati phát biểu: “Những người lính TQLC của chúng tôi ở Huế, nhìn chung đến từ trận thua ở An-Hòa. Đó là một trận đánh căn bản là ở ngoài đất nước chúng tôi, có phần cách ly với dân chúng. Hầu hết thì giờ là dùng để tuần tiểu. Thường khi đi tuần tiểu trên đường dễ bị phục kích; nếu không, đi trên đường thì lại dễ bị mìn bẫy. Các TQLC của chúng tôi thường không đụng lớn với quân CSBV. Vấn đề tinh thần gặp khó khăn. Tuy nhiên, ở Huế, tôi thấy họ là những người chiến đấu tài ba nhất. Những người trẻ nầy họ biết cách phải đánh nhau với địch như thế nào. Từng ngày, họ cải biến cách chiến đấu hay hơn. Họ tìm cách tác xạ và điều động, che chở nhau, xử dụng tài trí các loại chất nổ. Người bị thương nhẹ từ chối di tản vì họ tự nhận thấy có trách nhiệm hoàn thành chiến công. Họ cố giành cơ hội mặt đối mặt với kẻ thù và họ chiến thắng. Tôi trải qua những giây phút hết sức xúc động, hồi hộp chứng kiến người lính trẻ TQLC đã đem hết tài ba của mình giành lấy những gì họ đã giành được từ tay kẻ thù.”

                “Tuy nhiên, trậnh đánh còn lâu mới chấm dứt. Trong khi gặt hái được những chiến công lớn lao, và kẻ địch bị đẩy vào vị thế chiến đấu càng lúc càng phản ứng kém đi, cũng còn cần phải quét sạch quân CSBV còn lén lút đâu đó. Các cuộc nổ súng gây nhiều tai hại. Sức kháng cự càng lúc càng yếu đi không có nghĩa là không còn thương vong. Những cuộc chạm súng như vậy chỉ ít đi mà thôi. Đối với người lính bộ binh, những người chỉ có cây súng M-16 và tài khôn khéo của mình giúp họ sống còn, mà trận chiến cũng chưa chấm dứt. Họ vẫn còn chiến đấu hàng ngày ở đó, trên đường phố, không mềm lòng, không xao lãng.”

                Trung sĩ Burghardt cùng với trung đội của anh đang lục soát trong bệnh viện. Họ đang cố gắng vượt qua một khoảng sân trống trước mặt họ để tới dãy lầu bên kia. Hai bóng người bắt đầu băng qua. Họ chạy theo rãnh nước trong sân – bỗng có tiếng súng AK-47 nổ. Hai TQLC té xuống đất, bị thương.

                Từ trên cửa sổ, Burghardt nhìn thấy cảnh ấy, gọi cho hai y tá đang núp bên trong với đồng đội. Anh ta biểu một y tá chạy ra kéo người bị thương vào. Người y tá anh ta ra lệnh là một người lùn, chỉ còn hai tuần nữa là tới phiên về nước. Anh nầy chần chừ.

                Burghardt nổi giận, mắng anh ta: “Thằng chết nhát nầy.” Nói xong, anh ta phóng ra khỏi cửa. Anh ta chạy như bay trên đám cỏ, nhào xuống một cái hố. Súng nổ lốp bốp trên đầu. Anh ta nắm một trong hai người bị thương và kéo người nầy xuống hố với anh ta. Khi anh ta với lên để kéo người thứ hai thì bị địch bắn chết.

                Trung đội xông ra và cứu họ.

                Trung tá Gravel cùng Đại Đội Alpha di chuyển trên đường phố. Điểm đến là ngã tư gần tòa Lãnh Sự Trung Hoa Quốc gia. Quân CSBV bắt đầu pháo kích họ. Mảnh đạn văng vào tường gạch, mọi người tìm chỗ núp, nép người xuống hoặc bằng cách nào khác để tránh mảnh đạn. Gravel đưa mắt nhìn quanh, Canley đang đứng nghênh ngang giữa tiếng nổ. Anh ta tựa lưng vào cột đèn, súng trong tay chực nhả đạn, ra lệnh cho binh sĩ trong khi súng nổ dữ dội, rõ ràng hết sức nguy hiểm. Gravel kinh ngạc: “Chúa ơi! Bộ anh ta đang chờ xe bus chăng?” Chưa bao giờ ông ta thấy cái cảnh như vậy.

                Trên đường rút lui, quân CSBV đã chọn một trong những người trẻ tuổi của họ, một “đồng chí” còn trắng trẻo, xích chân vào nhà và giao cho một cây súng để làm chậm đường tiến quân của TQLC. Người lính Cộng sản nầy tỏ ra không mấy nhiệt tình với sứ mạng được giao nên vội vã đầu hàng khi TQLC Mỹ tiến chiếm khu vực. Họ giao “chú lính sữa” cho trung sĩ tình báo. Tuy nhiên, các TQLC Mỹ cay cú vì bạn bè thương vong, nên bắt đầu đánh hay giết tù binh mà họ đã bắt trói. Người trung sĩ nói: “Hây! Thằng bé sợ lắm đấy. Nó sợ hơn bạn sợ đấy. Anh nghĩ là anh ngon lành khi đánh nó hay sao?” Người lính bước lui và lầm bầm: “Ồ! Thằng đê tiện, chẳng đáng để đánh nó.”

     

                Trung sĩ Dickman, nhiếp ảnh viên của TQLC, chụp bức hình anh trung sĩ đỡ thằng bé đứng dậy. Đó là một ấn tượng mạnh mẽ cho thấy làm thế nào một người biết ứng dụng tâm lý một cách đơn giản để ngăn ngừa một vụ giết người.

                Người tị nạn đổ xô ra khỏi nhà như dòng suối, chạy về hướng các TQLC Mỹ. Hạ sĩ Soukup và binh sĩ trong tiểu đội anh ta lãnh nhiệm vụ kiểm soát người tỵ nạn, chặn các người già và các bà mẹ đang bồng em để kiểm soát giấy tờ, truy tìm cán binh CSBV lẫn lộn trong dân chúng, tịch thu vũ khí của họ. Ai kiểm soát xong rồi thì được chỉ hướng chạy về MAC.V; ở đó có các cố vấn Mỹ và quân nhân QĐ/ VNCH chuẩn bị nơi tạm trú cho hàng ngàn người mới bị mất nhà cửa.

                Có một ông già và một đứa bé tách ra khỏi nhóm người tỵ nạn, bỏ đi băng qua đám cỏ trước mặt các TQLC. Soukup thấy hai người nầy bèn gọi lại nhưng họ cứ chạy.

                Soukup đưa súng lên và bắn một tràng đạn. Đứa bé té về phía trước nhưng cố gượng lên, bò bằng hai tay và đầu gối. Ông già chạy ngược lui chỗ thằng bé bị té, các TQLC khác nổ súng. Ông già cũng trúng đạn, ngã xuống. Một người khác bắn một quả M-79, đứa bé nằm im, bất động. Khi TQLC tiến lên để kiểm tra hai xác chết, họ không có giấy tờ gì cả. Lật xác ông già lên, thấy ông ta dấu một băng đạn của CSBV dưới áo. TQLC không biết chắc ông già thuộc thành phần gì, có thể là người cảm tình với Cộng Sản và cố tiếp tế đạn cho họ. Ông ta dắt đứa bé theo là muốn làm ra vẻ dân lành vô tội.

    &

                Trong tiến trình tác chiến ở đây, cạnh việc chiến đấu lại nảy sinh một vấn đề khó khăn mà TQLC phải đối phó. Đó là việc làm hư hao nhà của của dân chúng, vấn đề người chạy nạn và chôn cất người chết.

                Các cố vấn quân sự Mỹ được giao nhiệm vụ đảm trách công việc nầy, một trong những chướng ngại cũng do từ phía người Nam Việt Nam tạo ra. Trung tá Phạm văn Khoa (Ông ta họ Phan, không phải Phạm – ngd), tỉnh trưởng Thừa thiên kiêm Thị trưởng thành phố Huế, là ứng viên lãnh trách nhiệm việc nầy. Xui xẻo! Ông ta không làm được gì cả.

                Trong 5 ngày đầu tiên của trận đánh, ông ta bị kẹt lại đằng sau phòng tuyến địch, buộc lòng bỏ trốn cùng cận vệ. Tới ngày 5 tháng Hai, đại đội Fox 2/ 5 tìm thấy ông ta. Sau một cuộc chạm súng ngắn, vài CSBC bị giết trong một tòa nhà. Khi đại úy Downs vào, ông ta thấy một trung sĩ trong ban tham mưu của ông, đang giữ chức vụ quyền trung đội trưởng, đứng trước hai người Việt Nam đang bị bắt đứng giang tay úp mặt vào tường. Anh trung sĩ nói: “Chỉ huy trưởng, thằng ngốc chó đẻ nầy nói với tôi nó là thị trưởng thành phố Huế.”

                Downs kiểm soát lại và tin rằng người Việt Nam đó nói thật. TQLC cho ông ta mấy cái kẹo, nước uống rồi chuyển ông ta về tiểu đoàn.

                Việc Cộng sản tràn ngập là một sự kiện quá lớn đối với Khoa. Ông ta ngoan ngoãn, không đương đầu nỗi với tình thế, và quá nặng gánh lo cho gia đình, vẫn trốn cùng một nơi khi Cộng Sản kiểm soát thành phố Huế. Đến khi Đại Đội Golf 2/ 5 tìm ra gia đình ông ta vào ngày 10 tháng Hai, Khoa mới bắt đầu lo tới trách nhiệm của ông, nhưng ông vẫn chưa có kế hoạch kiểm soát cần thiết. Có một số binh lính VNCH tại MAC.V – Họ rời đơn vị từ hôm Tết và nay vẫn chưa liên lạc được. Nhưng khi một sĩ quan cố vấn đề nghị xử dụng các binh sĩ nầy thì Khoa lẫn tránh, nói rằng Khoa không có quyền hạn gì với họ.

                Dù có hay không một ông thị trưởng gánh chịu trách nhiệm trực tiếp các vấn đề trên, nó cũng không thể bỏ đi được. Thiếu tá Jack E. Walker, quê ở Baltimore, một sĩ quan quân đội Mỹ thuộc cơ quan CORDS được chọn đảm trách công việc nầy. Để hỗ trợ cho ông ta, một trung đội thuộc đại đội Dân Sự Vụ 29 được gởi từ Đà Nẵng ra. Một trong những nhiệm vụ đáng ngại nhất mà họ phải thi hành là di chuyển và chôn xác chết. Nhiều xác lính CSBV còn để lại nơi họ bị TQLC bắn chết. Xác chết người dân còn nằm trong sân và trong đống ngói gạch ngỗn ngang. Các xác chết nầy đã sình thối và lôi kéo chuột tới. Vấn đề sức khỏe trở nên nghiêm trọng. Với sự giúp đỡ của Cảnh Sát Trưởng Huế, Walker lập kế hoạch đào những ngôi mộ tập thể, nhưng phía Việt Nam thì từ chối không làm và không muốn đụng tới xác chết. Vì vậy, các tù binh được lệnh mang xẻng cuốc đào huyệt chôn ngay nơi họ tìm thấy xác chết.

                Về phía người sống, thiếu tá Walker thực hiện cuộc kiểm tra chưa chính xác, có khoảng 5 ngàn người tạm trú tại nhà thờ Công Giáo (Ở đây, các linh mục tổ chức tương đối tốt) và khoảng 17 ngàn người tạm trú tại trường đại học (Trường Kiểu Mẫu Huế – ngd). Walker và toán của ông phải chăm sóc cho 22 ngàn người tỵ nạn, nhưng lương thực thì thiếu hụt, y tế không đủ và dụng cụ vệ sinh cũng không có sẵn. Ông ta gặp trung tá Khoa để yêu cầu cung cấp lương thực cho dân chạy nạn. Khoa cho biết có tất cả có 25 kho gạo trong thành phố, đủ cho dân chúng xử dụng trong 2 tháng. Chính phủ VNCH sẽ cung cấp cho dân chúng. Walker yêu cầu cung cấp gạo ngay cho dân chúng vì tình hình khẩn cấp. Nhưng đến khi Walker lo gom gạo để phát cho dân chúng thì thấy không có gì hết. (Không bao giờ ông ta tìm được ai đã lấy gạo đi hết, nhưng ông ta chú ý thấy rằng dân chạy nạn có tiền thì vẫn mua được gạo. Một phóng viên báo chí điều tra thấy giá gạo chợ đen nhảy từ 20 xu lên tới 4 đôla một kýlô). Walker gởi điện khẩn cấp cho bộ Tư Lệnh Quân Đoàn I ở Đà-Nẵng, yêu cầu cung cấp gạo cho dân chúng. Nhờ đó, người tỵ nạn được cung cấp 380 bao gạo một ngày. Có một vài vấn đề nhỏ khác: Khi có 21 miếng thịt sườn được cứu tế cho người tỵ nạn do Walker nhận từ Khoa và văn phòng của ông ta, thì sau đó có 6 miếng biến mất.

                Nhờ có sự trưng dụng nầy mà dân tỵ nạn không ai bị đói cả.

                Tại Bệnh Viện Trung Ương Huế, Walker phải đương đầu với nhiều vấn đề nghiêm trọng hơn. Một số người tỵ nạn bị thương, người ta đang gặp nguy cơ có thể chết, nhưng chăm sóc y tế thì rất ít. Vấn đề vệ sinh rất nghiêm trọng. Người bệnh ỉa đái ngay tại chỗ và xác người rửa thúi ngay nơi họ ngã xuống. Nhờ sự giúp đỡ của nhân viên Dân Sự Vụ Mỹ của Văn Phòng Y Tế Công Cộng tại Quân đoàn I và bác sĩ người Úc là Froweys, xác chết được chuyển ra khỏi khu vực bệnh viện, đem chôn cất và bệnh viện được chùi rửa sạch sẽ. Bác sĩ và y tá người Việt trong thành phố đến giúp đỡ, cũng như một toán y tế của Hải Quân được gởi tới, người tỵ nạn được chích ngừa, bệnh viện mở cửa đón bệnh nhân.

    Những quan tâm về tình hình trong khu vực trận địa đều được giải quyết tốt đẹp như người ta hy vọng. Tuy nhiên, về phía các nhà lãnh đạo ở Huế thì không chu toàn được nhiệm vụ của họ. Một tuần lễ sau khi trận đánh chấm dứt, một nhà viết sử quân lực Mỹ hỏi bao lâu thì chính quyền Việt Nam có thể tự đảm đương trách nhiệm một mình, thiếu tá Walker trả lời: “Chẳng bao giờ được cả. Họ quá ích kỷ, chỉ nhắm vào mình, sợ hãi và thiếu khả năng quản trị. Các sĩ quan trẻ sợ không dám quyết định, họ từ chối hoàn toàn và gặp phải đủ loại vấn đề rắc rối. Họ không có trách nhiệm, chúng tôi phải làm lấy.”

                Một vấn đề xảy ra đằng sau chiến tuyến của TQLC là thổ phỉ. Ai cũng có hết. Một sĩ quan TQLC hết sức ngây thơ nghĩ rằng binh lính trẻ của anh ta đã vượt quá việc giải phóng những cái gọi là say sưa và tiền bạc tìm thấy trong những căn nhà trống. Suốt trong những ngày đầu TQLC đã “chôm” một số kính hiển vi ở viện đại học và khi đại đội 2/ 5 ổn định khu Kho Bạc rồi, một số TQLC bỏ túi một ít vàng thỏi. Một số TQLC từng làm quen với những người ăn mày nghèo khổ sống trong làng quê, ngạc nhiên trước sự giàu có của Huế, và có một số vật kỷ niệm bị lấy đi. Cũng có một số xe dân sự bị trưng dụng. Những thứ “chôm” được đó được đem ra xử dụng như mua đồ tiếp liệu, di tản người bị thương và ngay cả … hết xăng giữa đường.

                Tuy nhiên, việc cướp bóc của TQLC có liên hệ đến vài lý do nhỏ nhặt. Trước hết, và quan trọng nhứt, các đại đội trưởng không khoan thứ cho một hành động cướp bóc nào. Lệnh nghiêm nhặt tôn trọng tài sản dân chúng và binh lính bị lục soát kỹ để ngăn ngừa việc cướp bóc. Thứ hai, TQLC không có cơ hội để cướp bóc của dân. Họ đang chiến đấu, luôn luôn phải tiến tới phía trước nên không có thì giờ để thực hiện những hành vi như thế. Họ chẳng có thể mang theo cái gì kềnh càng được. Mặc dù có vài hành vi cướp bóc nhỏ nhặt, báo chí vẫn tường trình việc ăn cắp ồ ạt. Chẳng hạn như nhà nhiếp ảnh Philip Jones Griffith tố cáo TQLC đã xé nát thành phố bằng việc cướp bóc chè chén say sưa. (Tin tức của Griffith sai lầm vì sự thực ông ta đã viết rằng TQLC ở Huế là những chiến binh rất nghèo khó)

                Nhìn chung, việc cướp bóc ở Huế là từ người Việt Nam. Người tỵ nạn báo cáo nhà cửa họ bị ăn cắp. Những bị cáo lớn nhứt là binh lính Miền Nam VN. Vai trò của họ là quét sạch Cộng Quân sau khi TQLC Mỹ đã tiến qua, nên họ đi từ nhà nầy qua nhà khác để tổ chức băng nhóm cướp bóc, lấy bia, máy nghe nhạc, tủ lạnh, tiền bạc và các thứ khác. Trong một vài trường hợp, binh lính VNCH còn lục soát dân chúng và lấy những gì chúng muốn. Chỉ trong mấy tuần đánh nhau, việc các binh lính cướp bóc nầy lên đến mức độ không thể khoan dung được, đến nỗi các nhà lãnh đạo ban hành nhiều biện pháp quyết liệt: Xử tử những kẻ cướp bóc (1). Trung tá Gravel sợ những hàng chữ như TQLC Hoa Kỳ hãm hiếp, cướp bóc, và cưỡng đoạt các cổ vật trong Đại Nội nên ra lệnh cho các cố vấn Mỹ “Kể từ 12 giờ hôm nay, bất cứ binh lính VNCH cướp bóc sẽ bị bắn tại chỗ.” Ông ta còn nói thêm: “Tôi phải đổi hướng tấn công. Nếu cần, tôi sẽ làm như thế.”

                Ông ta không cần phải làm như thế, cũng không có một lính TQLC nào bắn hạ một tên cướp bóc nào. Các cố vấn quân sự thông báo cho binh sĩ VNCH biết việc gì có thể xảy ra. Mặc dù việc cướp bóc không bao giờ chấm dứt hoàn toàn nhưng đã giảm thiểu nhiều. Nhưng tất cả kinh nghiệm còn lại là một chút chua xót nơi cửa miệng. Trung sĩ Dye ghi nhận: “Binh lính VNCH quả là bất trị, luôn luôn tìm cách ở sau xa TQLC khi chúng tôi chiến đấu ở khu Nam thành phố Huế. Sau một trận đánh cam go, tôi thấy chúng lái xe GMC tới cướp bóc tại những ngôi nhà chúng tôi mới đánh chiếm xong. Cũng có nhiều anh TQLC chó má về việc cướp bóc nầy nhưng tôi nghĩ rằng nếu binh lính VNCH không lợi dụng cái uy danh của TQLC qua các trận đánh ở đây thì họ đã đánh mất cái uy danh ấy rồi.”

                Sáng ngày 7 tháng Hai, chiếc cầu thứ hai và cũng là cuối cùng trên sông Hương bị đặc công Cộng Sản đánh sập (2). Tuy nhiên, về chiến thuật không có gì ảnh hưởng nhiều vì bến tàu Hải quân vẫn còn hoạt động hữu hiệu.

                Ngày hôm sau, bác sĩ Hamilton và 4 y tá chờ tàu thủy trở về lại Phú Bài. Họ đã ở đây 5 ngày. Một ngày sau khi họ thiết lập trạm y tế ở MAC.V, một trung úy VNCH tên là Ba (hay Bá? – ngd), người nầy khai tốt nghiệp bác sĩ ở Saigon, hăng hái giúp đỡ. Họ gọi ông nầy là bác sĩ Ba và ông làm việc hết sức mình để chăm sóc những người bị thương. Điều làm cho bác sĩ Hamilton hết sức xúc động về Huế là tinh thần của TQLC vô cùng anh dũng. Hầu hết những người lính trẻ sau khi băng bó xong đều xin trở lại đơn vị ngay. Cuối cùng, tất cả các bác sĩ sau hôm họp ở Đà-Nẵng đều trở lại thành phố, do đó, bác sĩ Hamilton nghĩ rằng đã tới lúc ông và nhân viên của ông trở lại Phú Bài.

                Trời mưa nhẹ trên bến tàu. Bác sĩ Hamilton đứng nhìn đám người chuẩn bị ra đi. Có khoảng một chục người tỵ nạn Việt Nam, vài phái viên báo chí đang chụp hình và phỏng vấn, một vài TQLC, binh lính VNCH và khoảng 30 TQLC bị thương, vài người đi cà nhắc, đầu bị băng, đội nón sắt và áo giáp, vài người nằm trên cáng có che áo mưa. Sáu TQLC được bỏ vào bao bó xác chết.

                Thỉnh thoảng có tiếng nổ lác đác gần đó. Có tiếng súng cối và lựu đạn. Hamilton chỉ lưu ý tới những tiếng nổ đó, tiếng nổ không gần lắm và có vẽ như càng lúc càng xa đi.

                Một chiếc tàu đổ bộ (LCU) của Hải Quân cập bến. Người ta lên tàu. Những người chết và bị thương nằm trên cáng được chuyển lên. TQLC và dân chúng tập trung trên sàn tàu. Hamilton lấy làm lo. Chỉ một trái súng cối nổ trên sàn tàu sẽ làm cho khối người chết và bị thương. Chiếc tàu ra giữa dòng và từ từ chạy lên hướng Bắc, vào một con kinh đào gần bờ thành Thành Nội. Khi chiếc tàu đi vào một khúc sông hẹp, quân CSBV từ hai bên bờ bắn ra. Hamilton núp phía sau một cái thành sắt, nhìn ra sông. Cây cối dày đặc, bụi bờ, và cỏ ống. Lửa từ các họng súng núp dưới đất bắn ra.

                Các TQLC còn đi lại được núp bên thành sắt trên tàu bắn trả. Bác sĩ Hamilton cũng chụp một cây súng M-16 cùng nổ súng với họ. Chẳng ai trên tàu bị thương. Tàu tiếp tục đi, chẳng bao lâu bờ thành khuất dạng, để lại tiếng súng phía sau. Rồi tàu lại quay vào sông Hương và hướng ra biển đông.

                Hai ngày sau khi bác sĩ Hamilton rời Huế, một đợt tăng cường khác chuyển đến. Đó là trung đội đại bác không giật 4.2 inch, súng cối thuộc Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 11, Sư đoàn TQLC, dưới quyền chỉ huy của Pháo Đội Dã Chiến Số 1 LLDN X-Ray. Họ có 12 người và 4 súng cối, trung sĩ Reliss chỉ huy. Ông nầy là một TQLC thuộc loại cừ, một hạ sĩ quan. Khi trận Huế bắt đầu, trung đội ông có nhiệm vụ yểm trợ cho các đơn vị hoạt động ở Phú Bài – Phú Lộc. Họ được lệnh chuyển về căn cứ Phú Bài. Ngày 10 tháng Hai, sau ít ngày lau chùi súng đạn, tái tiếp tế, và tổ chức lại, trung đội được máy bay Sea Knight chở đến thành phố Huế.

                Chiếc trực thăng gầm thét, lách qua lại để tránh đạn quân CSBV từ dưới đất bắn lên. Reliss và lính tráng của ông lót áo giáp mà ngồi, để tránh đạn từ dưới bắn lên. Chiếc trực thăng đáp xuống bãi đáp bên cạnh bến tàu Hải Quân, binh lính thoát ra cửa đuôi. Quân CSBV nổ súng. Những người bắn sẻ núp bên kia sông hay trên tường thành bắn qua, hai quả đạn súng cối hạng nhẹ rớt trên sông. Một toán súng máy trí súng trên bến tàu bắn trả, la to biểu đám súng cối di chuyển. Trung đội chạy nhanh tối đa, kéo theo cây súng cối nặng 650 pound.

                Có mấy người đi sau để bảo vệ, chiến trực thăng lao vào bầu trời sương mù, tiếng súng tắt dần.

                Sau 20 phút chờ đợi một chiếc xe GMC tới chở trung đội đi về hướng đông bến tàu, tới một địa điểm cách khoảng vài trăm mét. Họ được gom lại trong khách sạn Hương Giang, nằm bên kia đường đối diện với vị trí Đại Đội 1/ 1, phía bắc là sông Hương và hoàng thành. Ở đây TQLC gác cổng, nhưng chung quanh đó toàn là người Việt. Khách sạn Hương Giang đông đặc người tỵ nạn: đàn bà, trẻ em và ngay cả đàn ông còn trong tuổi lính. Trên xe, Edward M. Landry, một người trong toán của Reliss rất ngạc nhiên. Ở Quân Đoàn I, anh ta đã quen hiểu rằng tất cả những người còn trẻ hễ không ở trong quân đội VNCH thì là Việt Cộng.

                TQLC chuẩn bị súng cối 4.2 inch. Thấy một người có vẻ lớn tuổi hơn, Landry hỏi: “Này, ông ơi, chúng tôi đi với ai đây?”

    Người ấy trả lời ông ta không phải là xạ thủ, ông ta là thiếu tá đang làm việc với Đại Đội 1/1 và trung đội nầy sẽ hợp tác với tiểu đoàn của ông ta và Đại Đội 2/ 5. Rồi viên thiếu tá giúp họ chuyển vào một căn nhà trống bỏ hoang, cho họ tần số truyền tin thuộc hệ thống LLĐN X-Ray. Trung đội lo chuẩn bị đạn dược, dựng công sự quanh súng cối bằng thùng đạn đổ đầy cát vào đó, sẵn sàng nhiệm vụ chiến đấu sau khi đến Huế.

                Còn có nhiều việc phải làm. Đối với Landry, 21 tuổi quê ở Lynn, Massachsetts, vào TQLC vì bộ Quốc Phòng gởi giấy động viên tới nhà, ở Việt Nam 6 tháng. Huế là nơi tồi tệ nhất trong thời gian của anh ở Việt Nam. Anh ta nghĩ Huế là nơi tiêu biểu nhứt, nếu dùng cho đúng chữ. Ở Huế, nhóm của họ có 12 người: Anh ta và trung sĩ Reliss, Dave Raby, George Schamberger, Billy Barr, Ed Shaw, Powell, O’ Neil, Edenfield, Miller, Torres, và Fuerst- Họ tự gọi họ là “Mười Chàng Dơ Dáy” bởi vì họ thiếu trang bị và kẹt giữa đống rác dơ dáy. Landry chẳng muốn thế. Đôi khi anh ta trông thật mệt mỏi và lo sợ, chỉ muốn khóc. Là một xạ thủ súng cối, anh ta chưa bao giờ cận kề với giặc như thế nầy. Chỗ nầy hôi hám vì xác chết bắt đầu sình thúi trong các đống gạch ngói vụn, mưa dầm và bầu trời u ám làm cho lòng anh thấy ảm đạm u sầu.

                Hơi đạn cay xử dụng lưu lại trong không khí nhiều ngày làm cho việc hô hấp không được thoải mái. Máy bay trực thăng tới bãi đáp để thả đạn dược xuống và chuyển binh sĩ tử trận đi. Họ phải xử dụng thứ nước ở ngoài sông và bắn súng liên miên. Theo lý thuyết, có 7 người phụ trách một cây súng: Anh ta, Reliss, người truyền tin, tiền sát viên; họ chỉ có 4 người. Họ làm việc suốt ngày suốt đêm đằng sau công sự do họ dựng nên, lắng nghe tiếng chạm súng chung quanh, nghe tiếng gọi pháo trong máy truyền tin và bắn yểm trợ. Đạn cay, đạn nổ và đạn chiếu sáng ban đêm. Nhiều lúc tiếng của tiền sát viên, tiếng bộ binh gọi trong máy: “Lặp lại.” Gọi đi gọi lại nhiều lần, sau một loạt đạn bắn liên tục vào vị trí địch. Lặp lại, có nghĩa là tác xạ lại trên một mục tiêu. Quân địch đút đầu núp đạn. Landry nghe tiếng “lặp lại” không nhiều lắm. Ngủ rất ít, mệt thường xuyên. Một lần anh ta chui vào ngủ trong góc công sự, nằm cuộn lại dưới cái bàn trong phòng, mệt quá chẳng biết ra làm sao nữa cả. Khi mặt trời lặn, chỉ có vài khoảnh khắc là trời tối, thế rồi máy bay tới thả trái sáng, máy bay tới tác xạ, biến đêm thành ngày. Landry nghĩ ánh sáng hỏa châu như điều thần bí, làm cho mọi vật trở thành hư ảo, trông giống như nhìn vào địa ngục. Súng cối địch bắn liên tục, mấy tay bắn sẻ từ bên kia sông, phía Thành Nội bắn sang. Khi họ tới gần bờ sông, một lính CSBV nổ súng, Schamberger lăn mình tránh đạn, rồi nghe một tràng đạn sát trên đầu. Anh ta chụp cây M-16, quay tròn, thấy khói súng tỏa ra, anh bắn một băng vào cửa sổ, tiếng súng ngưng. Nhiều ngày sau, Landry mới rõ chuyện: Cổ áo dưới cằm anh ta thủng mấy lỗ vì đạn địch rồi bay trúng cánh tay O’ Neil đang đứng bên cạnh anh ta.

                Cũng có những giây phút vui vẻ, như khi họ gặp mấy đứa bé mồ côi. Có một lần Schamberger đi vào MAC.V, một em bé gái tên là Lê (Li) báo động cho anh ta đừng đi vào con đường em bé đưa tay chỉ vì con đường đó, như em bé nói: “Beaucoup Vixi.” Lời báo động của em bé đã cứu mạng anh ta. Nhiều năm sau anh ta còn giữ ấn tượng sâu sắc đó nên khi sinh con gái, anh cũng đặt tên con anh là Sherri Li.

                Mặc dù đêm đầu tiên của họ ở Huế thật tệ, họ vào ngủ trong khu vực MAC.V. Landry có nhiệm vụ phải đi gác. Anh ta đi tuần trên con đường một bên là các ụ súng và một bên là sông Hương, bỗng nghe có tiếng đạn xé trên không. Anh ta phóng xuống đất, bò như cua để tránh đạn và nhìn lên trời. CSBV pháo kích. Đạn lửa bay trong không gian vạch từng lằn vàng trong đêm đen. Cuối cùng, hết pháo kích, máy bay thả trái sáng, chiếu sáng toàn bộ khu vực.

                Đêm nào trái sáng cũng thả suốt đêm, Landry có thể đánh cá với bạn hễ cứ 3 người TQLC thì có một anh mang dù trái sáng quanh cổ, cột quanh đầu hay đồ dùng.

                Ban đêm, TQLC củng cố vị trí phòng thủ, gài mìn claymore phía trước và đặt vị trí canh gác cẩn mật. Đêm đêm, CSBV mò tới bắn lén hoặc quăng lựu đạn vào phòng tuyến TQLC, nhiều khi họ bị pháo sáng phát hiện và bị bắn chết tại chỗ như đã xảy ra ở Đại đội 1/ 1. Có đêm, TQLC nghe có tiếng động của kiếng và gạch ngói bể dưới chân người đi hay bò trong một căn nhà phía trước. Họ dùng M-16 và hỏa tiễn bắn xuyên qua cửa sổ. Một đêm, hạ sĩ Soukup và số lính còn lại trong tiểu đội của anh ta phải bỏ lại một cây súng đại bác 106 ly đằng sau một căn nhà và chui qua một lỗ vách để phòng thủ chung với binh sĩ Đại đội 2/ 5. Phía trước nhà, ngoài sân là một bức tường; phía sau đó, quân CSBV đang giữ một khu nhà. Nếu có anh CSBV nào trong bọn họ lẻn qua được vách tường đó vào khoảng nửa đêm thì có thể đó là điều chẳng lành cho mọi người.

                Soukup và một TQLC khác đặt một vị trí nghe ngóng bên bức tường.

                Họ gọi thầm báo cho nhau, gom vũ khí rồi bắt đầu bò thật thấp qua một cái sân cỏ. Họ ép sát vào tường, rồi ló đầu lên trên bờ tường quan sát. Cảnh thật đẹp. Trăng sáng. Họ có thể thấy một ngã tư trước mặt. Nhà cửa trông màu xám, cửa sổ thì đen. Mọi vật đều yên tĩnh. Đúng là yên tĩnh. Họ ngồi như thế khoảng 2 giờ đồng hồ, tay đặt trên súng, quan sát, chờ đợi. Chẳng có gì xảy ra cả. Bỗng tự nhiên họ thấy lo. Nếu có ai trong bọn họ thấy lâu không có động tĩnh gì cả sẽ bò ra đây và chuyện rủi ro có thể xẩy ra. Họ quyết định ngồi nín thinh cho tới sáng, ba hồi ngủ ba hồi thức canh.

    Soukup đang ngủ gật gù bên bờ tường thì bất thình lình đồng đội đánh thức dậy. Anh nầy cúi xuống thầm thì nghe có tiếng gì đó bên kia đường, anh ta chắc có gì đó. Soukup hé nhìn qua tường.

                Bốn lính CSBV nhảy ra đường.

                Đồng đội của Soukup bắn một quả lựu đạn, mảnh bay tung tóe trên mặt đường. Soukup bắn thêm một băng M-16 rồi cả hai phóng mình nằm sát xuống đất. Đạn từ bên kia đường bắn sang bay ngang trên đầu họ, đụng vào vách tường kêu lụp bụp. Soukup vừa bò vừa chạy về hướng nầy còn đồng đội của anh về hướng kia rồi cả hai vòng lui cửa sau ngôi nhà. Họ hô mật khẩu và nhảy vào trong.

                Họ kiểm tra tình hình, mọi người đều đủ mặt, ai cũng bình an.

                Tới khi mặt trời lên, họ tiến qua phía bên kia đường. Căn nhà trống không. Địch đã rút lui trong đêm. Họ thấy có bốn CSBV chết chụm vào nhau trên đường, súng đạn và xắc mang lưng còn y.

                Trung tá Gravel đặt ban chỉ huy gần QL. 1, tại địa điểm mới chiếm lại được. Chỗ nầy gần trường học, ngôi trường CSBV đã chiếm trong trận đánh với TQLC vào hôm đầu tiên. Gravel nhận được lời cám ơn đã đánh đuổi được Cộng Sản ra khỏi khu vực nầy. Một linh mục Công Giáo tại một trường dòng nói với Gravel nhiều trẻ em của viện mồ côi núp đầy trong các lớp học. Hôm 10 tháng Hai, mấy TQLC của Đại đội 2/ 5 đã hộ tống vị Tổng Giám Mục được giải thoát về lại Trường Dòng ở gần ban chỉ huy của Đại Đội 1/ 1. Gravel đến thăm đức Tổng Giám Mục. Đức Tổng Giám Mục, tóc đã ngã bạc, mang một cái thánh giá lớn bằng bạc trước ngực, mời Gravel tham dự buổi lễ tạ ơn cùng với đông đảo con chiên trong giáo xứ, cầu nguyện cho việc tái chiếm thành phố Huế được thành công tốt đẹp. Bằng một thứ tiếng Pháp không được trôi chảy, Gravel trả lời đồng ý với Giám Mục và ra lệnh cho TQLC ai muốn thì có thể tham dự lễ với Gravel vào lúc 9giờ30 ngày hôm sau. Một cách trùng hợp, buổi lễ diễn ra vào ngày Chủ nhật, 11 tháng Hai. Gravel cùng vài TQLC đến thăm một nhà nguyện của Trường Dòng với các linh mục. Ông ta bị xúc động bởi một điều: Có 4 lỗ đạn đại bác 90ly bắn thủng vách tường mặt tiền, nhưng các khung gỗ thì còn nguyên.

                Đêm hôm trước lễ tạ ơn, Cộng Sản lại tấn công.

                Vào khoảng nửa đêm, Gravel trở lại ban chỉ huy khi Cộng Sản bắt đầu pháo kích bằng hỏa tiễn 120 ly. Không có công sự để ẩn núp nên ai cũng ngồi xuống, giữ lấy nón sắt và nghiến răng chịu đựng. Trận pháo kích kéo dài 5 phút, vài tiếng nổ nhanh. Bụi cát bay tung lên và TQLC thò đầu ra canh chừng địch. Thiệt hại nặng nhứt là một chiếc GMC trúng đạn. Chẳng bao lâu người ta mới thấy đau lòng tại sao TQLC chẳng hề hấn gì. Hầu hết hỏa tiễn đều bắn không tới mục tiêu, nổ bên Trường Dòng của Giám Mục. Trẻ con được tập trung vào đây làm nơi ẩn trú nên khoảng 20 em bị chết, 40 bị thương nặng. Một linh mục chạy qua ban chỉ huy của Gravel cầu cứu. Gravel gọi máy cho đại tá Hughes, được mấy phút, y tá và xe GMC đến cứu giúp. Các em bị thương nặng đều được chở xuống bệnh viện Quân Đội Hoa Kỳ ở Phú Bài.

                Binh lính TQLC xúc động thấy rõ, còn Gravel giận muốn sôi lên. Cộng Sản chẳng tôn trọng luật lệ gì cả, chẳng quan tâm người bị họ giết là ai.

                Ngày 11 tháng Hai, Đại đội Fox 2/ 5 chiếm xong một khu gia cư ngó xuống cây cầu bắc ngang sông An-Cựu, phía nam ngã ba sông đào nối với sông Hương, (Khu cư xá đại học, gần cầu Ga – ngd). Như thế, đại đội nầy đã quét dọc theo con đường đi về phía tây, từ MAC.V đến bờ phía đông sông An-Cựu. TQLC dừng chân ở khu cứ xá nầy, khám xét tất cả tác tòa nhà, lục lọi từng hộc tủ, và vì vậy, đã xoáy một số vật kỷ niệm. Trung sĩ Carter tìm thấy một hộc tủ đầy thư từ, hình ảnh của một người đàn ông da trắng và vợ ông ta. Một trong số hình đó, có hình người đàn ông mặc đồng phục sĩ quan Quân Đội Đức Quốc Xã hồi Thế Giới Chiến tranh Thứ hai. Trung đội ba thì tìm thấy một vài hộp thịt heo muối cũ khẩu phần ăn của Quân Đội Mỹ, nên quyết định làm ngay một món ăn với thứ thịt đó.

                Trung đội 2 bên kia đường thì “giải phóng mấy con gà”, và trung đội 3 mua lại bốn cái trứng với 4 đôla. Carter gần như muốn bệnh khi đập trứng vỡ ra. Lòng đỏ thì bầy nhầy màu xanh rêu. Anh ta chẳng đụng tới, nhưng có mấy tay cực kỳ ngoan cố thì đem nấu và ăn hết. Đại úy Downs đem tới mấy ống nước và bọn họ dựng ngay một chỗ tắm ngoài nhà xe. Trời thì lạnh mà nước gần như đóng băng, nhưng chẳng ai thèm quan tâm. Lính TQLC thấy khoái khi tuột áo quần dơ và chà cho sạch các vệt máu khô, mồ hôi và đất bùn.

                Khi mọi sự đang diễn ra ngon lành như thế, trung đội 3 nhận thêm lính đến bổ sung, một nhóm lính tóc húi-cua, áo quần còn sạch sẽ mới tới Việt Nam. Thiếu úy Hausrath đưa mấy anh lính mới nầy vào trong nhà nói chuyện với họ. Trước hết, anh ta và trung sĩ trung đội gọi điện yêu cầu bắn súng cối vào mấy tòa nhà bên kia sông mà họ nghi là có CSBV núp bên đó, bắn sẻ qua bên nầy. Mấy trái súng cối rớt ở phía xa bờ bên kia, vào các mục tiêu chết. Hausrath hứng chí tới gần bên cửa sổ để quan sát.

                Thình lình, bên kia bờ một tràng đạn AK nổ dòn.

                Người Hausrath giật ngược lên, té xuống nền nhà, đạn trúng ngực anh ta. Các chú lính mới nằm xuống, lăn bò càng, mắt mở to kinh ngạc. Hausrath thở được ít phút, mắt trợn ngược và chết.

                Hạ sĩ Allbritton bước tới mấy bước báo tin hạ sĩ Burnham. Burnham thì thào: “Trời ơi, tôi mới đi theo anh ta.”

                Carter cảm thấy buồn vì cái chết của thiếu úy Hausrath. Anh ta thường không thích sĩ quan lắm vì những qui định nầy nọ và lạm dụng quyền hành. Hausrath là một sĩ quan mới ra trường nhưng tuồng như lúc nào anh ta cũng đúng. Anh ta thường chăm sóc lính tráng của mình, chia nhau từng cái bánh và tạp chí Playboys mà người yêu của anh ta gởi cho, chẳng bao giờ nói mãi cái câu: “Thi hành đi, tôi là cấp chỉ huy”, câu thường nghe trong trung đội. Anh ta được mọi người kính trọng và yêu mến. Có một lần trước khi trở lại Huế, khi viên thiếu úy nầy mới tới và đang chờ hành quân, Carter đang gắn một trái mìn chiếu sáng vào trái mìn claymore, anh ta vô tình làm cho trái mìn claymore nổ, bay mất mấy ống phát hỏa, Hausrath từ ban chỉ huy chạy bổ xuống, một tay cần mũ sắt, một tay cầm M-16. Khi thấy mọi sự, anh ta mắng Carter. Nhưng kể từ khi thấy Carter đứng đó trông như con cừu. Tự nghĩ lại mình, và làm y như kiểu của John Wayne, anh ta cười to lên.

                Khi đại úy Downs nghe tin, anh ta vội chạy tới vị trí Trung đội 3. Cái chết của viên thiếu úy làm cho anh ta choáng váng. Chỉ mới 4 ngày trước, người hiệu thính viên rất được anh ta yêu mến bị Cộng Sản giết chết. Anh nầy trẻ, đẹp trai, biệt danh là Red. Họ đang lục soát từng nhà dọc theo sông Hương thì súng nổ, đạn bay chéo trên đầu ban chỉ huy đại đội. Downs không hề hấn gì nhưng Red thì ngã xuống ngay bên cạnh. Bây giờ thì bọn bắn lén giết Hausrath. Tình thế khó khăn. Viên đại úy gọi những người thuộc Trung Đội 3 có mặt từ ngày đầu lại.

                Họ tập trung sau tòa nhà gạch. Hạ sĩ Allbritton kinh ngạc nhìn quanh. Toàn bộ chỉ còn có 12 người. Ngoài tiểu đội của anh, chỉ còn có anh ta, hiệu thính viên và một anh chàng trẻ biệt danh là Moses. Downs bắt đầu nói chuyện với họ. Anh ta nói: “Các bạn chiến đấu thật kỳ diệu. Điều tôi muốn là chúng ta có một đại đội trưởng giỏi hơn.” Rồi anh bị bị xúc động. Mọi người thấy anh chảy nước mắt. Allbritton nghĩ: “Anh ta giỏi đấy. Đại úy là một người tài giỏi.”

                Thiếu tá O.K. Steele, TQLC, sau khi vào Huế đã gặp khó khăn. Ông ta to cao, đẹp trai, 35 tuổi, có gia đình ở tại Oakland, California, hết sức trầm lặng và thông minh. Trước Tết, ông ta được giao một công việc không mấy thích thú là sĩ quan tại ban chỉ huy đại đội, tiểu đoàn, hậu cứ sư đoàn 1 TQLC tại Đà-Nẵng. Ông ta nói chuyện với đại tá Bohn và cố giành một công việc ở trung đoàn như là sĩ quan quản trị của Đại đội 2/ 5. Ông ta được phân công với một người bạn cũ, thiếu tá Salvati, ông nầy còn vài tháng nữa thì đến phiên về Mỹ.

                Lệnh bàn giao có hiệu lực từ 1 tháng Hai nhưng ông ta bị kẹt ở Đà-Nẵng vì đặc công và pháo binh tấn công ngoại vi trong khi Salvati thì đang đánh nhau với địch ở Huế.

                Cuối cùng, sau mấy ngày Steele đi nhờ được chuyến bay của chiếc trực thăng khổng lồ CH-53. Phi công thay vì bay trên đất liền phải vòng ra ngoài biển Đông và khi vào đất liền, ông ta phải ghì chặt vào máy bay vì máy bay phải bay đảo để tránh phòng không. Tại Phú Bài, Steele báo cáo cho bộ chỉ huy Trung Đoàn 5 TQLC của đại tá Bohn rồi đi thăm ông nầy sau khi đi quan sát sân bay. Ông ta không thể đi Huế được vì thời tiết xấu và máy bay đi Huế thì chất đầy đạn dược. Vài ngày sau, ông ta được lệnh báo cáo cho sĩ quan quản trị của Sư đoàn 1/ TQLC. Ông nhận lệnh làm chỉ huy trưởng đoàn xe đi Huế, chở thiết bị đi sửa cầu An-Cựu. Theo tin báo cáo, cầu bị thủng nhiều lỗ trên mặt cầu. Steele có một toán lính sửa cầu không chuyên nghiệp: Một thiếu úy và một tiểu đội súng trường của Đại đội 2/5, toán bắn sẻ, toán yễm trợ pháo binh, công binh biệt phái với xe GMC chở đầy gỗ, xe cần cẩu, thiết bị thay thế và thương binh mới xuất viện. v.v…

                Thiếu tá Steele có khoảng 120 người, chẳng có ai là người ông quen biết trước kia.

                Buổi sáng ngày 10 tháng Hai, họ lên đường, chạy hết tốc lực trên QL 1 bởi vì ai cũng ngại bị phục kích, nhưng người ta chỉ thấy TQLC của các đơn vị hỗn hợp Việt-Mỹ đứng gác cầu. Bộ Chỉ huy LLĐN/ X-Ray báo cho Steele biết Đại đội 1/ 1 chưa củng cố an ninh tại khu vực An Cựu/ Phú Cam, nên ông ta phải dừng lại tại tháp phát thanh cách Huế khoảng 1 Km. Họ dừng lại lập phòng tuyến kháng cự bằng các xe GMC và các xe tăng hạng nhẹ hộ tống. Steele đưa mắt nhìn 3 cái tháp cao tự hỏi tại sao địch không đánh sập những tháp nầy.

                Họ chờ ở đây hết ngày. Vài người tỵ nạn chạy ngang bằng xe đạp. Vài lính Cộng Hòa mang súng bên vai đi ngang đưa mắt dò hỏi, nói lúng búng và nhe răng cười như họ vừa đi chơi ở công viên về. Mọi người đều đi ngược hướng về Huế.

                Tới khi trời tối, LLĐN X-Ray gọi Steele ra lệnh cho đoàn xe quay lại Phú Bài.

                Sáng hôm sau, họ lại lên xe. Có lệnh cho biết một đoàn xe từ Phú Lộc sẽ đến với lực lượng tăng cường Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 5/ TQLC. Họ chờ hết cả buổi sáng nhưng chẳng thấy đoàn xe từ Phú Lộc tới. Bộ chỉ huy LLĐN X-Ray lại ra lệnh cho đoàn xe của Steele lên đường. Xe chạy nhanh qua ba cái tháp phát thanh hôm qua, và Steele đứng trên lưng chiếc xe tải chở ban chỉ huy, nhìn cái xe cần cẩu lắc lư ở phía sau. Tới ngoại ô thành phố Huế, xe dừng lại và Steele cho đoàn xe tải quay lại Phú Bài với một nhúm bộ binh giữ an ninh. Xong Steele ra lệnh cho các trung đội hỗn hợp của ông ta thám sát phía trước và củng cố an ninh cây cầu An Cựu. Không có súng nổ. Trong vòng mấy phút, viên thiếu úy trung đội đi đầu gọi điện báo cáo cho Steele và họ cùng xe tăng và xe cần cẩu tiến lên cầu.

                Cầu An Cựu dài khoảng 100 bộ, đúc bằng xi-măng. Phần trung tâm đã bị hỏng sụp xuống. Hai đầu cầu còn dính vào bờ. Nước chảy ở giữa. Mấy cây sắt móng cầu lồi ra, xoắn cong lại trông như cọng bún khô.

                Steele và viên đại úy kỹ sư đứng trên bờ quan sát sự thiệt hại.

                Steele nói: “Được! Tiến hành đi, nối nó lại.”

                Viên đại úy nói không thể làm được. Việc nầy vượt ngoài khả năng của anh ta. Người ta báo cho anh biết chỉ có mấy lỗ thủng giữa cầu. Anh ta chỉ đem theo vật liệu để vá cầu mà thôi. Steele nghĩ trong lòng muốn đá anh kỹ sư nầy một đá cho rớt xuống sông. Tất cả mọi việc rồi chẳng ích lợi gì hết. Sau nầy, anh ta mới biết cây cầu sập đã một tuần. Vậy mà 7 ngày qua, LLĐN X-Ray vẫn nghĩ rằng cây cầu chỉ bị mấy lỗ thủng ở giữa. Tin tình báo quả thật là tệ.

                Ông ta gọi điện cho Phú Bài, báo cho biết cây cầu không sửa được nữa và khuyến cáo nên trì hoãn bất cứ một sự tăng phái nào của 1/ 5 cho đến khi cầu sửa xong. Xong ông ta gọi điện cho trung tá Cheatham, báo cho biết đã tới địa điểm và báo cáo cho tiểu đoàn mới của ông. Viên đại úy kỹ sư nói có thể dựng nhanh một cái cầu cho người đi bộ. Steele ra lệnh tiến hành và bố trí binh lính ở những căn nhà hai bên bờ sông. Bờ bên kia trông có vẻ an toàn, nhà cửa không bị hư hại, ngoại trừ mấy lỗ trên vách tường bị bắn thủng. Ông ta có thể thấy TQLC trong những căn nhà ấy. Người Việt Nam đội nón lá đi bên bờ sông. Steele và viên thiếu úy thuộc Đại Đội 1/ 1, anh nầy mang cây Shotgun và nóng lòng muốn về với đơn vị, tìm thấy một cái xuồng gần cầu. Họ lội xuống quăng áo quần và súng vào chiếc xuồng rồi chèo qua sông trong nước lạnh giá. Họ cố cúi đầu xuống, đề phòng bị bắn sẻ.

                Qua bên kia bờ, họ mặc áo quần vào và đi tìm TQLC trong các ngôi nhà gần đó. Họ là người của Đại đội 2/ 5 nên Steele đi tìm đại úy Meadows. Viên đại nầy, ốm và mang kính trắng làm Steele nhớ lại hình ảnh các ông thầy giáo. Meadows như bó rọ trong cái áo giáp của anh ta, M-16 vác trên vai, mặt mày hốc hác, râu mọc dài, mắt đầy vẻ mệt mỏi. TQLC có mấy anh trinh sát, và mấy chiếc xe bị trưng dụng ở đây. Meadows đề nghị Steele tới ban chỉ huy tiểu đoàn. Anh ta leo lên một chiếc xe của trinh sát, xe nầy lỗ chỗ vết đạn. Anh ta đeo chặt vào xe trong khi tài xế TQLC rú ga chạy hết tốc lực vượt qua một ngã tư.

                Họ đến ban chỉ huy theo cung cách giống nhau như vậy. Steele quen biết nhiều người ở đây. Cheatham từng là một cán bộ đại đội khi ông ta mới nhập ngũ ở trại huấn luyện. Salvati đã nhập trường sĩ quan với ông ta. Ông ta cũng đã phục vụ dưới quyền chỉ huy của Christmas và Downs trước khi tới Việt Nam. Steele chính thức nhận chức vụ sĩ quan quản trị do Salvati bàn giao lại. Cheatham khuyên ông ta nên trở lại và giữ lực lượng phòng thủ qua đêm.

                Ông đại tá nói rằng Đại đội Hotel của Christmas sẽ giữ an ninh một cây cầu còn nguyên gần khu gia cư. Sáng mai họ có thể qua cầu được. Mặc dù không biết chuyện ấy và mặc dù có lời khuyến cáo của thiếu tá Steele về cây cầu, lực lượng tăng cường từ 1/ 5 đã sẵn sàng nhiệm vụ của họ.

                Các TQLC của Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 5, Sư đoàn 1 được lệnh leo lên 8 chiếc xe GMC chạy chậm chậm qua con đường bùn và lá rụng phủ đầy dưới bầu trời âm u và thấp. Các TQLC ngồi trên sàn xe, súng đạn để đống quanh họ. Trời gió bấc lạnh khó chịu. Có một anh nhà báo chen chúc với họ. Đó là Michael Herr, người lùn, mang kiếng cận thị dày cộm, phái viên của tạp chí Esquire. Anh ta may mắn ở trên chiếc xe giữa đoàn xe. Đầu đuôi đoàn xe thường là mục tiêu dễ bị phục kích. Tuy nhiên, TQLC và anh bạn phóng viên của họ an tâm cho rằng sẽ không nổ súng. Trên đường, họ thấy hàng trăm dân tỵ nạn rời Huế chạy về phía nam. Trẻ em thì trông có vẽ thích thú và thân thiện, trong khi người già thì nhìn chằm chằm vào họ với vẽ mặt vô tình như thường thấy.

                Binh lính đang nói chuyện, huýt sáo và hút thuốc. Herr ghi nhận: Trông có vẽ như ở khu thay quần áo trước trận đấu bóng mà chẳng ai hứng thú gì cả.

                Phía trước, họ có thể thấy khói đen ở Huế đang bốc cao lên.

                Khi tới cầu An Cựu, TQLC, Herr và các phóng viên báo chí khác xuống xe. Họ gặp trung sĩ Dye, phóng viên chiến trường của Sư đoàn 1/ TQLC. Herr lưu ý Dye, anh ta không phải là một TQLC bình thường. Dye, 23 tuổi, quê ở Girardeau, Missouri, cao, gầy và đẹp trai, khôn ngoan và nhạy bén. Trên lưng áo giáp, anh ta vẽ hình Alfred E. Newman với khẩu hiệu: “Có điều chi? Tôi lo lắng!” Và dán lên vải bọc nón sắt một bông hoa màu vàng bằng plastic mà anh ta nhặt được trong trận đánh ở khu nam Huế. Anh ta và người cộng sự, trung sĩ Berntson chui vào một ngôi chùa Phật. Phía trước bàn thờ là một bình cao cổ cắm hoa màu vàng. Sau bình hoa là tượng Phật. Berntson ngồi nghỉ trong chùa, rồi đi vòng quanh xem cách trang trí. Bất thần anh ta thấy có bóng người chuyển động phía sau tượng Phật nên nổ súng. Tượng Phật và bình hoa bể tan, một anh lính CSBV té nhào ra phía trước. Berntson lấy một cái hoa trong bó vừa rơi ra khỏi bình, gắn lên tấm vải che nón sắt của Dye và nói rằng hoa đó tượng trưng cho việc cứu mạng Dye.

                Cái hoa trở thành một mục tiêu rõ ràng cho những tay bắn lén nhưng Dye đã quen và cứ để như vậy. Thiệt là một hành động điên khùng.

                Việc ấy xảy ra đã hai tuần. Bây giờ anh ta đứng đây, nói chuyện với Herr và các người khác, đảo mắt và nhe răng ra cười dưới bộ râu quặp.

                Thiếu tá Steele trở lại, lội qua sông để về với ban chỉ huy của ông ta, thấy TQLC của đơn vị 1/ 5 chuẩn bị sẵn sàng đâu đó để lên xe, ông ta ra lệnh phòng thủ chu vi. Khi các phóng viên báo chí muốn qua sông An Cựu để vào thành phố, ông ta nói với họ phải chờ tới ngày hôm sau và biểu họ vào trong một căn nhà bỏ hoang. Ông ta sợ cho họ vì ông ta bị buộc ở lại đây ban đêm.

                Ông ta leo lên tầng ba của một căn lầu, để từ đó có thể quan sát toàn bộ khu vực. Vừa lên tới mái thì Steele thấy hai chiếc trực thăng có trí súng đại liên của Sư Đoàn 1 Không Kỵ bay tới, bay sát mặt sông. Ông ta nhìn mà không tin được: Đại liên trên máy bay nổ bùm bùm, võ đạn rơi loảng xoảng trên mặt đường.

                Dye, Herr và một vài TQLC bước nhanh trên đường, dọc theo bờ sông, vừa đi vừa mở hộp phần ăn tối để ăn, bỗng nhiên có tia đạn lửa bay tới phía họ. Anh ta cùng mấy người trong nhóm lăn người xuống tránh đạn. Thức ăn và nón sắt văng ra. Chỉ trong mấy giây, chiếc trực thăng bay mất. Họ đứng dậy, ngạc nhiên hơn là sợ. Cũng may, chẳng ai bị thương.

                Họ trải qua đêm trong những căn nhà trống bên bờ sông, ngủ trên những tấm áo mưa trãi trên gạch và kiếng bể. Dọc theo bờ sông, bên phía trái, hướng tây bắc, hỏa châu và súng bắn suốt đêm.

                Chiếc cầu Ga Huế nằm ngang sông An Cựu vẫn còn nguyên. Cầu nầy ở gần chỗ sông đào nối với sông Hương, phía tây bắc chỗ đóng quân của Steele. TQLC giữ phía bờ đông, quân CSBV giữ bờ tây. Phải cũng cố an ninh phía bên kia mới có thể tăng cường đơn vị qua sông được. Do được súng cối yểm trợ, Trung đội 1 của thiếu úy Myers thuộc Đại đội Hotel được giao nhiệm vụ qua cầu và đóng chốt phía bên kia. Lệnh là phải giữ vị trí suốt đêm. Họ đã hoàn thành.

                Đó là trận đánh gay go – hai tiểu đội trưởng nổi tiếng bị giết. Thiếu úy Myers cũng hăng hái tham gia trận đánh, ném lựu đạn – tuy nhiên, sáng ngày 12 tháng Hai, TQLC của Đại Đội Hotel vẫn chưa di chuyển. Trên sông đào, cùng với nhóm của thiếu tá Steele, trung đội trinh sát và TQLC của Đại Đội 1/ 1 được biệt phái qua cầu làm điểm tựa cho công binh, bắt tay được với đơn vị tiểu đoàn của họ. Steele cùng nhóm còn lại của lực lượng ông ta và lực lượng tăng cường của Đại Đội 1/ 5 bắt đầu quét địch dọc theo bờ sông. Họ ngạc nhiên vì chẳng thấy tay bắn sẻ nào cả. Qua hai giờ đồng hồ quét dịch dọc theo con sông, họ gặp Đại Đội Hotel vẫn còn đóng ở cầu. TQLC giữ vị trí quan trọng đó, rồi cẩn thận tiến qua bên kia cầu. Họ ra dấu cho đồng đội mới tới di chuyển. Nhóm đầu tiên phóng nhanh qua cầu, đạn bắn sẻ bắt đầu nổ lách cách.

                Thiếu tá Steele khom mình xuống chạy với nhóm còn lại.

                Tiếng súng bắn sẻ rít lên. TQLC của Đại Đội Hotel chạy ngược lại. Họ củng cố vị trí tại khu cư xá và nhà máy điện gần đầu cầu. Chủ nhà máy điện người Pháp cùng gia đình may mắn không ai hề hấn gì nay được Mỹ che chở.

                Ngày thứ Hai, 12 tháng Hai, một ngày sau khi thiếu úy Hausrath bị giết, Đại Đội Fox vượt qua sông để càn quét những tên bắn sẻ. Carter, xạ thủ đại bác 3.5 inch được chỉ định đi với Trung Đội 2, đơn vị mũi nhọn, dùng thuyền máy bị trưng dụng để đổ bộ qua sông, xong quay ngược lại, quét sạch khu nhà giữa nơi họ đổ bộ và cây cầu. Họ tấn công từng nhà một rồi tới căn nhà kế, tìm thấy mấy xác Cộng Sản. Trung đội tiến được vào sân ga xe lửa.

                Một trung sĩ nói với Carter bắn một phát vào một toa xe đang nằm trên đường sắt. Anh ta bắn hai phát, xong họ tiến vào lục soát thấy một toa xe có hai xác CSBV trong đó, một xác bị mất đầu. Carter tịch thu một cái khăn quàng cổ màu xanh đỏ trên xác một người chết. Họ tiếp tục tiến quân.

                Trung đội 3, – bây giờ do James H. McCoy, một trung sĩ chỉ huy, – vượt qua cầu, và bắt đầu quét dọc theo con dường bờ sông, dùng lựu đạn khói để che khi tiến công. Hạ sĩ Allbritton tới gần một ngôi nhà, khi nhìn lui thì thấy thiếu tá Salvati và một trung sĩ của tiểu đoàn đang tản bộ trên đường – ngay giữa đường – giống như người ta đi bộ tập thể dục buổi sáng vậy. Viên trung sĩ nầy là một cựu chiến binh từng tham gia trận đánh trên đường phố ở Hán Thành, Nam Triều Tiên. Allbritton cảm thấy phục họ, nhưng anh cũng cảm thấy mệt tới tận xương vì thấy quá nhiều TQLC đã hy sinh.

                Anh ta la lên với họ: “Đừng có làm bia cho tụi nó nữa. Tôi không muốn lính của tôi lôi xác mấy ông ra khỏi đây.” Nói xong, Allbritton nhảy tìm chỗ núp mất dạng nên hai người kia không thấy anh ta. Họ bèn tìm chỗ núp.

                Súng nổ lác đác. Một tay bắn lén bắn một tràng vào Trung Đội 2. Carter tiến lên phía trước. Anh ta nạp đạn vào súng, viên đạn trợt qua ống phóng và rơi ngay tại chân anh ta. Trong suốt trận đánh, anh ta xử dụng đại bác 3.5 inch. Súng bắt đầu bị trục trặc.

                Cách mấy khu nhà xa xa phía trước, có ngôi nhà họ nghi là địch từ đó đã bắn chết viên thiếu úy. Không có gì ngần ngại, họ làm ngay, gọi điện cho toán súng cối và toán đại bác không giật tác xạ: Ngôi nhà bị san bằng.

                Đêm tới, các trung đội rút về bên nầy sông.

                Carter ngủ qua đêm với Trung Đội 3. Anh ta quàng mấy tấm màn để che cơn gió bấc lạnh, nhìn mấy con chuột chạy quanh nhà lục lạo. Cây súng của anh để sát bên chân, đạn sẵn trong nòng, chờ động dụng.

    &

                Trước khi chia tay với tiểu đoàn, thiếu tá Salvati đi ra ngoài cùng thiếu tá Steele để tìm nơi đặt bộ chỉ huy cho ông đại tá và Tiểu Đoàn 2. Hai người bạn cũ đi bộ dọc theo đường Lê Lợi bên bờ sông Hương. Steele ngạc nhiên vì cảnh tượng thành phố bị tàn phá. Khi ông ta tới Phú Cam, các ngôi nhà cũng chưa hề hấn gì lắm, ngoại trừ những lỗ đạn lớn nhỏ rải rác đây đó. Tuy nhiên, địch kháng cự rất căng trên con đường Lê Lợi nầy. Đây là nơi suốt hai tuần lễ, tiểu đoàn phải chiến đấu gay go và đổ máu nhiều. Điều nầy làm Steele nhớ lại cuốn phim thời sự Thế Chiến thứ II về trận đánh Monte Cassino, những bức tường vở trơ trụi giữa đống gạch ngói.

                Họ vào Câu Lạc Bộ Thể Thao, một câu lạc bộ cũ của Pháp, nhìn xuống sông Hương, có những thảm cỏ trãi dài tới bờ sông, những khoảnh đất rộng, sân quần vợt. Bề ngoài, trông còn tốt, nhưng khi đi từ cửa nầy qua cửa kia, họ thấy vết đạn loang lỗ trên tường mỗi phòng, vết đạn kéo từ phòng nầy qua phòng kia, bông băng dính máu vứt đầy chứng tỏ địch đã dùng chỗ nầy làm bệnh viện. Việt Cộng và quân CSBV không có trực thăng để di tản người bị thương nặng, không có bệnh viện thật sự, chỉ có một số y sĩ huấn luyện cấp tốc. Nơi nầy chứng kiến nhiều nỗi đau khổ.

                Cuối cùng họ đi vào đây và đặt ban chỉ huy ở khu nhà Đại Đội Fox đã củng cố an ninh, tầng trệt thì dùng làm trạm cứu thương, tầng hai thì dành cho Cheatham và ban chỉ huy của ông ta. Tầng thứ ba thì để trống, phòng khi địch pháo trúng mái nhà như thường ngày địch đã pháo. Ban chỉ huy Đại Đội 2/ 5 cũng đóng ở đây.

                Trung sĩ Dye đứng bên một cái hầm tìm thấy trong khu vực do Đại Đội 2/ 5 chiếm lại. Các TQLC khác đứng bên cạnh lầu bầu: “Chúa ơi!”

                Một mùi hôi thối khó chịu từ hầm bay lên, một mùi thúi đến lộn ruột bao trùm hết không khí chung quanh, lên tới bầu trời thấp đầy mây và mưa phùn. Dưới đó, bên dưới giày dép là hàng trăm xác người. Họ là người dân miền Nam Việt Nam, chết chồng lên nhau, nằm ngang nằm dọc, tưởng như níu lấy nhau khi người ta xã súng máy vào họ. Dye có nghe người ta đồn Cộng Sản tàn sát hàng loạt người dân Huế, nhưng anh ta không bao giờ nghĩ có thể có một cảnh tượng như thế nầy. Thân nhân và bạn bè của người chết đang tìm cách để tìm người thân trong đám xác chết hỗn độn bắt đầu thối rữa ấy. Họ lấy khăn tay để bịt mũi miệng lật từng xác chết tìm người thân.

                Không bao giờ Dye có thể quên được hình ảnh ấy. Một năm sau, anh ta cũng nghĩ đến hình ảnh ấy khi vụ Mỹ Lai được đăng trên báo. Dye không thể tin được, khi báo chí làm ồn ào vụ Mỹ Lai nhưng lại chẳng bao giờ nói đến việc tàn sát của quân CSBV ở Huế. Cuối cùng, việc ấy cũng sẽ phai mờ theo thời gian cũng như những mối xúc cảm về một cuộc chiến tranh vậy.

                Thứ Ba, 11 tháng Hai, trung tá Cheatham ra lệnh quét sạch các tay bắn lén, ngoan cố và những tên lính bị lạc đường phía bờ tây sông An Cựu, gởi Đại Đội Fox và Đại Đội Hotel qua sông. Christmas cùng đơn vị tiến xuống phía nam, qua ga xe lửa, trong khi Downs tiến lên phía bắc đẩy quân CSBV vào giữa hai gọng kềm.

                Carter và trợ viên mới của anh, hạ sĩ Chek, người Mỹ gốc Trung Hoa quê ở Nữu Ước, đi trước trung đội. Họ dùng súng 3.5 inch bắn bay cửa của một ngôi nhà rồi một vài TQLC tiến vào trong. Nhà trống không. Carter bước vào trong “chớp” nhanh vật kỷ niệm của một cặp vợ chồng ở phía ngoài phòng của trẻ con. Họ tiếp tục đi tới, không có súng nổ, không có ai hết, kể cả người dân thường. Cuối cùng, họ thấy nghi. Cách mấy chục thước phía trước là căn nhà xây theo hình chữ L, cửa đóng; một dấu hiệu không lành. Allbritton đi phía trước tiểu đội, đưa tay ra dấu cho toán xạ thủ hỏa tiển vượt lên, yêu cầu bắn vài phát vào nhà. Một quả đạn vượt qua song sắt cửa sổ bay vào. Từ sân thượng của một tòa lầu hai tầng, Carter nhắm và nổ súng. Cái cửa sổ nhỏ bay mất, khói tuôn ra.

                Một anh xạ thủ khoái chí bắn một tràng, Carter lại nhắm, nhưng Chek dụng vào chốt súng nên súng không nổ, bỗng Carter nghe Allbritton la to: “Ngừng bắn.”

                Anh chú ý thấy người từ trong nhà chạy vòng ra từ một cánh cửa bị khuất. Trước tiên là một ông già lụm cụm, đầu hói, và râu dài tới ngực. Mặt và tay ông ta đầy máu. Hai đứa bé nắm lấy áo ông già và khóc. Bắt đầu có thêm nhiều người từ trong nhà chạy ra, người nầy dìu người kia như bị thương, hoặc là chết. Một người nói với TQLC rằng họ là dân thường, CSBV đã giữ họ để làm con tin. Tình cờ họ đã được TQLC giải thoát.

                Đại úy Christmas để Thomas lại làm hậu bị cho đại đội rồi đưa anh hiệu thính viên đi theo trung đội mũi nhọn cho Đại Đội Hotel. Anh ta nghĩ một cách mơ hồ rằng hôm nay là ngày 13, và trầm ngâm suy nghĩ tới con số không may.

                Họ tiến qua khu ga xe lửa, rồi tiến về phía tây, ngoại ô Huế, vượt qua một doanh trại của quân đội VNCH (ở Nam Giao ngd), qua một khu rừng gỗ, và những ngọn đồi thoai thoải, một khu nghĩa địa cổ và mấy ngôi chùa nhỏ. TQLC chú ý tới mấy ngôi mộ mới đắp, những huyệt mới đào còn cạn. Christmas cùng mấy TQLC tiến lên quan sát.

                Trong phút chốc súng nổ dữ dội. Họ nghe tiếng súng cối bắn đi. Christmas và ban chỉ huy của anh ta kẹt giữa một khoảng đất trống khi đạn bắn tập trung vào khu vực, mảnh đạn bay lung tung. Ai cũng muốn lao vào một nơi nào đó để tránh đạn. Họ chen chúc nhau trong một chỗ đất hõm, trong khi đạn vẫn nổ. Christmas quay nhìn lui thấy bóng của một lính CSBV núp sau một cái đền hơi xa. Anh nầy bắn một quả B-40 trong khi đó Christmas chỉ kịp nghĩ: Mình đâu phải là chiếc xe tăng. Hơi nóng mảnh đạn sắc như dao cạo đâm sâu vào chân phải anh ta. Anh ta liền nhảy vào một cái huyệt cạn mới đào bên cạnh, nằm co lại, một cái xác Việt Cọng nằm bên cạnh. Đạn súng cối tiếp tục rơi xuống, anh ta cố ép mình thật sâu trong huyệt, xác chết im lặng nằm bên cạnh anh.

                Carter và mấy người lính TQLC vượt mấy hàng cây thấp và tới một ngôi chùa nhỏ ở giữa một khu vườn. Họ đứng nhìn một lúc. Chùa thật đẹp, mái cong lợp ngói. Nhang trong bình chưa đốt. Carter thấy tượng Phật ngồi trên bàn thờ, anh ta rất muốn lấy tượng Phật đó để làm kỷ niệm. Tuy nhiên, anh ta biết phải dấu ở đâu đó trong đồ dạc suốt 9 tháng trước khi về nước. Vã lại, anh ta nghĩ nếu “chôm” pho tượng ấy, Chúa sẽ không cho anh là người làm điều phải.

                Họ bắt đầu rời ngôi chùa và đi bộ lên một ngọn đồi nhỏ có rào kẽm gai. Carter và Shek vác súng tìm đường bước qua, người mang máy truyền tin và mấy TQLC đang đi phía trước. Bất thần, họ nghe tiếng bắn đi của súng cối, đạn nổ phía trước cách khoảng hơn trăm mét. Họ nhìn quanh, tự hỏi: Đại Đội Hotel đang ở đâu nhỉ?

                Rồi đạn nổ gần hơn. Họ quay ngược lui chân đồi. Carter thấy khói đen và tiếng nổ trên đầu hàng cây, cách xa khoảng 30 thước. Có cái gì đụng mạnh vào chân anh ta, giống như ai lấy cái chày khúc côn cầu đánh mạnh vào. Anh té về phía trước, rơi vào giây kẽm gai, đũng quần vướng vào kẽm gai không gỡ ra được. Anh ta thận trọng tìm cách chui ra. Đạn súng cối lại nổ nhiều thêm. Cố thoát chết, Carter gần như muốn điên khi xé rách quần ra rồi lăn tròn xuống chân đồi.

                Anh ta chạy ngược lại ngôi chùa và nhảy vào trong. Có mấy TQLC đang núp trong đó, có một người khác nữa bị mảnh đạn ở đầu gối và một anh cứu thương Hải Quân. Người y tá xem vết thương của Carter, trông có vẽ hơi nặng. Mảnh đạn đâm sâu và có thể đụng xương. Máu còn chảy. Y tá lấy băng băng lại cho anh. Những người bị thương được đưa về sông An Cựu. Một chiếc xe Jeep đưa họ về ban chỉ huy tiểu đoàn. Tuyên úy tiểu đoàn, to con như một cầu thủ bầu dục, chạy tới. Ông ta ôm một người bị thương ốm như cây sậy đem vào trong. Carter cẩn thận tìm cách xuống khỏi xe và đi cà nhắc vào.

                Khi bắt đầu bị pháo kích thì Thomas còn ở phía sau của trung đội. Có tin lộn xộn gọi trong máy nên Thomas và vài TQLC chạy lên phía trước, chỗ có tiếng súng. Họ thấy mấy TQLC thối lui phía đường lộ. Đó là những người chỉ huy trung đội: Thiếu úy Myers, thiếu úy Lambert, và mấy trung sĩ trong ban tham mưu. Những người nầy bị thương và được băng một cách vội vàng. Họ nói là bị thương vì đạn súng cối và chỉ hướng trung đội cho họ. Thomas thấy Chritmas nằm dựa lưng vào bức tường một căn nhà, y tá đang ở bên cạnh và chân Christmas bị băng kín. Christmas đi cà nhắc về phía họ.

                Đạn súng cối lại nổ, Thomas nằm xuống bên cạnh Christmas và y tá. Đạn lại nổ tiếp, Thomas nằm chồm lên người Christmas để che đạn cho cấp chỉ huy của anh. Họ gọi máy và nghe có tiếng người gọi một chiếc xe bị trưng dụng. Họ leo lên xe và rú ga chạy. Đại đội có 23 người bị thương. Cũng may, chẳng có ai chết. Thomas ngồi bên cạnh Christmas trên sàn xe, nói chuyện với nhau để cố quên đau trong khi xe chạy.

                Đằng sau họ, TQLC đang phản pháo.

                Tới trưa họ về tới căn nhà đặt ban chỉ huy. Christmas nằm trên cáng đặt sau xe Jeep trong khi y tá chăm sóc vết thương cho anh ta. Cheatham, Steele và những người còn lại quây quần chung quanh. Christmas lấy khuỷu tay chống xuống giường, cố gượng dậy, hút một điếu xi-gà bự và nói chuyện, làm thế nào anh ta có thể trở lại đơn vị sớm, sau khi các bác sĩ băng bó cho anh ta xong.

                Tuồng như anh ta không quan tâm lắm tới vết thương nơi chân khá nặng, làm cho anh ta đau đớn lắm.

                Sau khi những người bị thương được di tản hết về MACV, Cheatham gọi điện cho trung úy William L. Harvey, sĩ quan phụ tá hành quân tiểu đoàn. Ông ta ra lệnh chỉ có 3 tiếng: “Lo hành trang.” Harvey là đại đội trưởng mới của Đại đội Hotel. Quê ở vùng nông trại tiểu bang Vermont, 24 tuổi, là một sĩ quan hành quân nhiều kinh nghiệm, từng giữ nhiệm vụ trung đội trưởng một năm ở Đại đội Golf, trước khi kéo dài thời hạn phục vụ và được chỉ định phục vụ tại ban chỉ huy Đại đội 2/5. Ở Huế, tiếng gọi gần nhứt để ông ra trận không phải là do CSBV tấn công mà từ một sĩ quan TQLC khác. Một hay hai ngày trước, ông đang tắm trong nhà tắm dành cho sĩ quan thì trong một phòng khác, đại úy Fine, tò mò với một súng phóng B-40 tịch thu được, trái đạn bỗng nhiên nổ. Trái đạn làm thủng bức tường và nổ trên đầu Harvey. Anh ta giật mình tưởng chết.

                Đại úy Pyle của tiểu đoàn đảm nhận nhiệm vụ của Harvey. Harvey gom hết hành trang rồi ra đi, tìm đại đội mới của anh ta. Cũng phải mất một tiếng đồng hồ. Anh ta làm việc với trung sĩ Miller, người tạm nhận chức vụ. Ngoài ra còn có Thomas, người không bị thương trong trận pháo kích. Harvey nhìn vào đám lính của anh, họ ngồi lộn xộn chung quanh, hết sức chán nãn, ủ rũ. Họ bị mất tinh thần. Cheatham kéo họ về một ngôi trường đạo gần đó (Pellerin, Ngd) để tái tổ chức, thực ra là để họ nghỉ ngơi một chút.

                Sau đó, khi gom được tin tình báo, người ta mới biết chỗ những ngôi mộ cạn là nằm ngay trên đường rút lui của bộ chỉ huy quân CSBV. Giống như những người lính rành nghề, họ đặt súng ngay trên vị trí sẵn có, và Đại Đội Hotel tình cờ hành quân ngay trên cửa hậu của họ.

                Carter được đưa bằng xe tới bãi đáp trực thăng cùng với những người bị thương khác. Hai tuần trước, khi anh ta tới đây, các trực thăng thường bị địch xạ kích. Tuy nhiên, tới 13 tháng Hai, trực thăng muốn tới lui lúc nào cũng được. Ở đây có phóng viên báo chí, các tay nhiếp ảnh, người tỵ nạn tập trung từng đám chung quanh chờ được về nhà, hoặc nếu được ưu tiên sẽ cho di tản.

                Carter ngồi ở đây, chăm sóc cái chân của anh bị thương và nhìn chung quanh. Có một đống xác chết của quân CSBV nằm ở kia. Có chiếc xe cần cẩu ở đó nữa. Người tài xế hạ cái mỏ cẩu xuống, kẹp ba bốn xác chết. Mỏ cần cẩu cất lên, đủ cao cho xe chạy được, rồi thả mấy cái xác đó xuống một cái hố. Mấy cái xác rớt xuống, chồng lên nhau. Những người Việt dân sự đứng nhìn há miệng cười, la to hoan hô. Carter thấy có vẽ vui.

                Phía bên kia bãi, anh ta thấy những xác chết thuộc phe anh ta. Xác chết TQLC xếp hàng như đống gỗ, những cánh tay đen hay trắng giang ra, tất cả đều còn mang giày trận nên mỗi xác trông nặng đến cả hàng trăm pound, xếp thành đống trên thùng xe tải. Carter nghĩ chắc chưa gấp để phải đưa họ đi bằng trực thăng.

                Một lúc sau, một chiếc trực thăng đến và thương binh được chuyển đi Phú Bài. Người phi công lượn nghiêng chiếc máy bay để tránh địch xạ kích khiến các thương binh níu lấy nhau. Đại úy Christmas níu lấy Carter để giữ cho anh ta khỏi rơi ra ngoài.

                Sau cuộc càn quét ngày 13 tháng Hai, Đại Đội 2/5 TQLC bắt đầu ít gặp địch thường xuyên như trước. Có những cuộc chạm súng gay go mỗi ngày nhưng hoàn toàn vì mục đích thực tiễn. Với họ, đó là phần cuối của một trận đánh dữ dội trên đường phố.

                Những cuộc tuần tiểu bắt đầu vượt qua bên sông, những hàng cây và làng mạc ngoài rìa thành phố. Nhưng cứ đêm tới, các tay bắn lén tiếp tục quấy rối căn nhà ban chỉ huy đóng. Cuối cùng, TQLC đóng tại căn nhà nơi trước đó quân CSBV đã đóng – căn nhà nhỏ màu hồng – Cheatham cho gài mìn. Đêm đó, qua ống kính viễn vọng, họ thấy vài lính CSBV lẽn vào. Bấm nổ ngòi điện, toàn bộ căn nhà sụp đổ tan tành.

                Trong tình trạng bình thường, sau khi trận đánh chấm dứt, người ta làm đề nghị tưởng thưởng cho những người chiến đấu gan dạ. Tuy nhiên ở Huế, vì cuộc chiến đấu hết sức căng thẳng và số thương vong quá cao, một đại úy và nhiều binh lính được đề nghị phải gởi danh sách về bộ tư lệnh sư đoàn. Họ thiết lập một văn phòng ngay ban chỉ huy tiểu đoàn và thực hiện bản đề nghị ngay giữa mặt trận. Đó là tình trạng hoàn toàn bất thường. Có chuyện kể về một trái đạn súng cối không nổ rơi phía ngoài cửa sổ của viên đại úy. Ông ta đứng xem một TQLC tháo ngòi nổ viên đạn ấy, và tức thời viết ngay câu tuyên dương Anh dũng Bội tinh Ngôi Sao đồng. Thiếu tá Steele nghe một câu chuyện khác nói về một anh cứu thương Hải quân thuộc đại đội Fox được đề nghị thưởng tới mấy huy chương. Theo như câu chuyện, người nầy vừa mới tới Việt Nam, trải qua hai ngày tại lớp hướng dẫn rồi gởi ra đơn vị. Trong một thời gian ngắn, anh ta bị thương nhẹ trong khi cứu cấp cho một TQLC và được thưởng một Anh dũng Bội tinh Ngôi Sao bạc. Ngày hôm sau, anh ta bị thương nặng sau một anh TQLC khác, anh ta lại được đề nghị tưởng thưởng và được di tản. Trong khi nằm trên cáng đặt tại bãi đáp trực thăng, anh ta lại bị một mảnh đạn súng cối nữa. Thành ra, anh ta được cho về nước cùng với một huy chương ngôi sao bạc, một huy chương ngôi sao đồng và ba Chiến thương Bội tinh chỉ sau một tuần chiến đấu.

                Một hoặc hai ngày sau khi nắm Đại Đội Hotel, trung úy Harvey có một trung đội trưởng mới, thay thế cho tất cả các thiếu úy và trung sĩ bị thương vào ngày 13 tháng Hai. Anh nầy mới được thăng thiếu úy do sư đoàn gởi tới. Anh ta không đọc bản đồ được. Anh ta gọi điện cho ban chỉ huy báo cáo rằng anh ta đang ở trong một căn nhà như thế như thế và Harvey phải kéo hiệu thính viên theo để đi tìm họ. Họ bắt đầu đi vào một con đường hẽm, Harvey nhìn lên thì Chúa ơi! Họ đang đứng chân kề chân với hai lính CSBV. Cả bốn người đứng trân ở đó trong một giây vì sửng sốt, nhìn vào nhau. Harvey tưởng như dài lắm rồi bỏ chạy về hướng khác. Harvey thấy một trong hai người ấy kéo cây AK-47 đang đong đưa lên. Anh ta nằm sát tường và một tràng đạn rớt bên cạnh, mảnh xi-măng văng trúng mũi và tai anh ta. Hai lính CSBV chạy mất. Anh ta nhìn lại hiệu thính viên, anh nầy run lên vì sợ, nôn ọe xuống đường.

                Kể từ ngày 10 tháng Hai, khi khu vực từ MACV tới Phú Cam hầu như hoàn toàn nằm trong tay Đại đội 2/5 kiểm soát, trung tá Gravel ra lệnh quay hướng hành quân, trở lại quốc lộ 1 và bắt đầu mở ra hướng đông, từ MACV tới sân Vận Động Huế, và những sông đào chạy theo rìa nam Huế. Cho tới lúc nầy, ông ta cũng chỉ có hai đại đội: Đại Đội Alpha của trung úy Smith và Đại Đội Bravo của đại úy Robert A. Black Jr. Việc càn quét phía đông còn nặng hơn trước. Không hoàn toàn căng thẳng như tuần đầu ở Huế, nhưng vẫn có nhiều tay bắn sẻ, nhiều tay ngoan cố, tụt hậu làm cho mọi người phải luôn luôn đề phòng, sợ hãi, và mệt mỏi, lục soát từ nhà nầy qua nhà khác, từ khu nầy qua khu nọ.

                Đang trong trận đánh, Gravel đi MACV để tham dự buổi họp tham mưu của đại tá Hughes. Ông ta vào bộ chỉ huy, và lạ chưa, một người ngồi bên một cái lều vải nhỏ trong hành lang, mặc áo giáp có cái bình bằng sắt là Walter Cronkite.

                Ông ta đi ngang qua người nầy, vào phòng tham mưu, nói đùa: Trông như ông mới kiếm được một mạng nào ngoài đó vậy?

    Huhges nói: “Tất cả cho anh đó.”

                Ông ta nói kể từ khi Gravel là vị chỉ huy TQLC đầu tiên đến Huế, ông ta có thể giải thích trận đánh cho mọi người biết. Huhges giới thiệu Gravel với Cronkite cùng vài TQLC đi theo và đám quay phim, truyền thanh, nhiếp ảnh, báo chí. Gravel, có cảm tình ngay với Cronkite, biểu ông ta gọi ngay cho vợ ông khi về tới Nữu Ước và nói rằng ông ta vẫn mạnh khỏe.

                Tại ban Chỉ huy tiểu đoàn, Gravel muốn Cronkite gặp các sĩ quan của ông ta. Đại úy Jim Gallagher, sĩ quan hành quân mới, Gallagher đã chỉ huy một cách xuất sắc Đại Đội 1/1 và đã tới phiên về nước hôm 1 tháng Hai, nhưng khi nghe tin chiến trận ở Huế và cái chết của Walt Murphy, anh ta vội vã quay lại mặt trận. Ngày hôm trước Cronkite đến, Gravel và Gallagher đã thức suốt đêm để vạch kế hoạch và tìm hiểu coi ai là người giỏi nhất của họ để họ gặp. Gallagher đã chọn Walter Cronkite.

                Khi Gravel và Cronkite về tới ban chỉ huy, Gallagher đang khom mình trên bản đồ. Gravel nói: Xin lỗi, Jim, đây là người anh muốn gặp đây nầy. Walter Cronkite, còn đây là Jim Gallagher, một trong những sĩ quan tác chiến giỏi nhất của TQLC, anh có thể hy vọng được.

                Gallagher nói lắp bắp: Vui lòng gặp anh.

                Về sau, Gravel nhận ra trong cuộc phỏng vấn bên đường của phóng viên CBS, trong bối cảnh có lồng tiếng súng. Gravel nghĩ quả thật là đồ chết tiệt, chỉ là trò thương mại.

                Trung uý Smith và Đại Đội Alpha càn quét vùng sân vận động Huế, đụng một trận hết sức tệ hại khi tiến về phía đông. Họ tiến xuống một con đường đất, xe tăng đi đầu, xe phun lửa đi sau, bộ binh hai bên. Phía trước là mặt tiền của một doanh trại VNCH bỏ trống.

                Hạ sĩ Neas cùng với toán súng máy di chuyển bên phải các chiến xa. Anh ta thấy phía trước có một lỗ tường thủng nơi doanh trại quân đội. Từ lỗ đó, bất thần một trái B-40 bay tới nổ bùm. Chiếc xe tăng bị đạn lắc lư, mảnh đạn bay ra. Súng AK-47 bắt đầu nổ, cày đất lên. Một trung sĩ, biệt danh là Chunky, từng bị thương hai lần, bây giờ bị một mảnh đạn ở chân, té xuống đường. Vài TQLC bắt đầu bắn trả, trong khi các TQLC khác thì kéo Chunky qua một bên, và các TQLC khác đưa người bị thương lên sau xe tăng, người lái chiếc xe tăng đi trước bị đạn được lôi ra khỏi chiếc xe. Chiếc xe tăng chở người bị thương dọt đi. Trung sĩ Burghardt nhìn theo chiếc xe tăng khi đang quày lui – chạy qua chỗ một người y tá bị thương nằm gần ngã tư, cán gãy tay anh nầy. Hai người lính TQLC kéo anh ta vào dưới một gốc cây. Anh ta nằm ở đó, khóc vì sợ, súng nổ thêm dữ.

                Neas nhìn lui chiếc xe tăng đi đầu, anh ta thấy người chỉ huy chiến xa, một trung sĩ da đen, quì đằng sau chiếc xe đang cháy. Anh ta đang khóc, la to lên rằng anh ta muốn có một chiếc tăng khác để đi tìm quân CSBV đã bắn cháy chiếc tăng M-48 của anh ta.

                Neas ra lệnh cho một trong mấy người thuộc toán hỏa lực của anh, rồi họ bò thật thấp trên mặt đường, nhảy qua một cái cửa sổ. Họ đặt cây đại liên M-60 lên thành cửa, nhắm vào chỗ quân CSBV ở bức tường đối diện. Neas núp ở cửa sổ bên cạnh. Có một căn nhà nhỏ đối diện với anh ta, ngay sau bức tường trại lính. Anh ta biết chắc chút nữa, CSBV sẽ từ trong căn nhà ấy rút ra. Đặt sẵn cây M-16 lên vai, kê băng đạn lên ngưỡng cửa sổ, nhắm ngay vào cửa sau của tòa nhà. Toán súng cối ở phía sau họ bắt đầu nã hơi cay, trong phút chốc, ba CSBV phóng ra khỏi bức tường và chạy vào căn nhà nhỏ. Neas quay đi một giây, rồi lại nhìn lui chỗ cũ để canh chừng CSBV thoát ra cửa hậu. Có tiếng hô to của TQLC: Bắn. Neas xiết cò một lần, một mạng ngã lăn ra đất. Anh nầy bắt đầu bò đi. Neas đứng thẳng lên, không tin anh ta còn sống. Như mê mẩn, anh ta đổ hết một băng đạn vào người lính CSBV.

                Cuộc chạm súng tiếp tục. TQLC nã đạn liên tiếp vào trại lính, hỏa lực phản công của địch càng lúc càng yếu dần. Toán đại liên M-60 của Neas xài hết một tràng đạn khi anh ta thấy bóng vài người bận đồ xanh, đội nón sắt chạy băng qua sân. Anh ta không thấy mặt họ nhưng đoán chừng khoảng một tiểu đội và la to: “Ngưng bắn.”

     

                Xạ thủ đại liên M-60 ngưng bóp cò. Mấy bóng người mặc đồ xanh nầy chạy vào căn nhà chính. Nhưng không có tiếng súng M-16 trong đó. Neas chưởi: “Mẹ!” Anh ta tự rủa thầm. Một vài lính CSBV mặc đồ lính Mỹ. Thật là dễ bắn mà để cho chúng chạy mất.

                Súng cối bắt đầu nã vào trại. Tiếng súng địch càng lúc càng yếu dần.

                TQLC đứng lên rồi chạy băng qua đường, đổ dồn vào doanh trại. Chẳng phải nổ súng gì nhiều mà cũng chẳng làm gì khác là đếm xác địch. Trung sĩ Burghardt đi vào căn nhà nhỏ nơi Neas đã bắn ngã vài CSBV. Burghardt kêu Neas và chỉ cho anh ta thấy. Một anh lính CSBV bò ra tới ngưỡng cửa, chết cứng, tay còn giữ lấy bụng, ruột lòi ra vì bị thương. Có hai cây súng nằm bên cạnh anh ta. Burghardt lấy một cây AK máng lên vai còn Neas thì lấy kỷ niệm một cây tiểu liên Nga có băng đạn tròn. Họ quay trở lui đường phố, khi đó anh trinh sát người Việt của đại đội thấy cây súng tiểu liên thì nhảy tung tăng, cười và la lên: Nhứt rồi! Theo thông dịch viên thì những người mang loại súng như thế nầy phải là sĩ quan.

                Trong vòng 1 hay 2 ngày, Đại đội 1/1 đã bình định xong khu vực dọc theo sông đào. Bây giờ chỉ còn tiêu diệt những tay ngoan cố hoặc chưa biết là đã có lệnh rút.

                Trung úy Allen W. Courtney, Jr. Trung đội trưởng Trung đội 3 thuộc Đại Đội Alpha, tóc vàng hoe, quê ở Texas, nguyên là binh nhì, toàn cả đại đội ai cũng kính trọng. Trong những trận đánh ở Cồn Thiên hồi tháng Chạp, anh đã được gắn Anh dũng Bội tinh Ngôi Sao bạc. Giống như tất cả trung úy của Đại Đội Alpha, anh ta bị kẹt ở Đà-Nẵng vì một khóa học khi trận đánh ở Huế bắt đầu. Anh ta cũng không xin được về đơn vị cho mãi đến ngày 11 tháng Hai. Suốt hai ngày, anh ta cùng trung đội hành quân dọc theo sông đào. Một trong các tiểu đội vượt qua bên kia cầu chiếm một ngôi nhà để củng cố an ninh. Họ vào trong nhà thì một quả B-40 nổ trúng ngưỡng cửa sổ. Một vài TQLC bị thương trong khi CSBV bắn dồn thêm. Courtney đứng dậy, nắm lấy cây M-60 của Neas bắt đầu quạt lại hướng địch. Một viên đạn trúng vào bắp chân anh ta, nhưng anh ta vẫn tiếp tục nổ súng cho đến khi tiểu đội rút về bên kia cầu. Y tá băng quanh bắp chân cho anh ta, nhưng anh ta cũng chẳng thèm lưu tâm cho đến khi trung úy Smith thấy và biểu anh ta rút lui phía sau. Vết thương nặng, nhưng Courtney không chịu đi, anh ta muốn ở lại với trung đội. Cuối cùng, trung tá Gravel ra lệnh anh ta di tản đi bệnh viện ở Phú Bài, theo cái cách mà anh nghĩ như người dân Texas thường nói: “Ra khỏi thành phố trước khi trời tối.” Gravel cũng nghe một câu chuyện như thế nầy: Một anh TQLC trẻ đang nằm trên cáng đặt tại MACV chờ máy bay trực thăng tải thương. Một anh phóng viên báo chí hỏi: “Anh bị thương bao nhiêu lần rồi?” Anh lính trẻ nhìn lên và hỏi: “Hôm nay đấy hả?”

                Đại Đội Alpha tuần phòng khu ngoại ô thành phố, càn quét địch. Trung sĩ Burghardt được lệnh dẫn theo 3 TQLC kiểm soát hàng cây trước mặt họ. Họ đi băng qua hàng cây đó, ló mặt ra, và có một lính CSBV đứng cách mấy chục thước phía trước, đứng như vậy mà kinh ngạc nhìn mấy TQLC. Xong anh ta quỳ xuống bắn một quả B-40. Mọi người tìm nơi ẩn núp. Quả đạn trúng một thân cây, nổ, không ai bị thương. Burghardt chạy lên trước, bắn bằng cây súng Colt-45. Anh lính CSBV bỏ chạy. Burghardt bỏ cây súng Colt xuống, cầm cây M-16 lên, bắn một tràng, người kia té xuống, chết.

                Chủ nhật, ngày 18 tháng Hai, hạ sĩ Soukup và tiểu đội của anh ta cùng TQLC hành quân với vài TQLC thuộc Đại Đội 1/ 1, chiếm một căn nhà để nghỉ qua đêm. Họ để trang bị xuống sát vách tường tính làm chỗ nghỉ ngơi thì bỗng có tiếng đạn B-40 bay. Viên đạn rít qua cửa sổ đụng vào trần nhà nổ. Hơi nóng và mảnh xi măng bay xuống, đụng vào áo giáp và mũ sắt. Mảnh đạn đâm vào bắp vế, tay và đầu Soukup. Hai TQLC khác cũng bị thương.

                Sau tiếng nổ một giây, mọi người la lên. Soukup và một TQLC khác bắn qua cửa sổ, một TQLC khác thì quăng lựu đạn. Mấy giây sau, có người la to: “Tao bắn trúng nó, tao bắn trúng nó.” Soukup và những người còn lại nhẹ nhàng thoát ra ngoài. Anh lính CSBV nằm trên cỏ, bị thương vì mảnh đạn, cây súng B-40 nạp đạn sẵn nằm lăn bên cạnh. Anh ta còn trẻ, mập mạp, mặc quần xà lỏn. TQLC đứng chung quanh, thấy anh ta thì nhìn họ mà không biết anh ta mong ước điều gì.

                Thiếu tá Steele đang ở tại ban chỉ huy Đại Đội 2/5 khi một toán quân CSBV vượt qua sông Hương. Họ từ bên Thành Nội đi qua, thực hiện cuộc rút chạy như điên khùng để giữ mạng sống. Mọi người ở gần bắn như điên vào họ. Trừ một người. Đứng bên cạnh Steele là một ông trung sĩ già của MACV. Ông ta la lên to: “Tại sao không để cho họ đi đi, mình có thể rút lẹ ra khỏi đây.”

                TQLC chẳng ai để ý đến lời ông, quân CSBV hiện ở trong Thành Nội tìm mọi cách để thoát ra ngoài.

                Ghi chú (của Ngd):

                (1)-  Sau khi đánh đuổi quân Cọng sản ra khỏi thành phố Huế, tình hình vẫn căng thẳng, chiến sự còn tiếp tục ở ngoại ô, tình trạng cướp bóc diễn ra khá phổ biến. Những vụ điển hình như cửa hàng bán TV, Radio “Việt Tuyến” trên đường Trần Hưng Đạo, gần cửa Thượng Tứ, bị kẻ cướp dùng xe GMC tới chở sạch. Việc cướp dùng xe GMC chở hàng cho thấy “bọn” cướp thuộc hạng người nào. Đại úy Lê B. Ng. đại đội trưởng CSDC Thừa Thiên- Huế vào cướp hôi ở Ty Ngân Khố Huế. Chưa thỏa lòng tham, y còn cướp hàng tại tiệm “Bát Tiên” trên đường Phan Bội Châu, Huế. Xui cho y, tiệm nầy là bà con với tướng Nguyễn Ngọc Loan, cục trưởng cục ANQĐ kiêm Tổng giám đốc CSQG, nên ngay lúc đó, tướng Loan đến Huế, y bị cách chức và trả về BDQ là đơn vị cũ của y.

                Ngoài ra, tại bùng binh đầu cầu Trường Tiền, trước trường Đại Học Khoa Học (Morin cũ) có dựng một pháp trường cát. Có dư luận nói là để xử tử ai bị bắt về tội cướp, lại có dư luận nói là để xử quận Cán (quận trưởng Cảnh Sát). Khi Cộng Sản chiếm Huế, y ở Gia Hội ngày ngày vác loa đi hô hào dân chúng nổi dậy “chống Mỹ cứu nước”. Khi Cộng Sản rút lui, y ở lại và bị dân chúng tố giác nên bị chính quyền Nam VN bắt giữ, chờ đem xử tử. Có dư luận nói là nhờ gia đình y chạy chọt với một bà tướng lớn ở Đà-Nẵng nên y được tha. Cuối cùng, pháp trường cát dựng lên chỉ để dọa thiên hạ chứ chẳng bắn giết người nào cả.

    (2)- Có lẽ tác giả chưa nắm rõ sự kiện nầy. Trên sông Hương lúc bấy giờ chỉ có hai cây cầu (Cầu Trường Tiền và cầu xe lửa. Cầu sông Hương – ngang bệnh viện Trung ương Huế sau nầy mới hoàn thành -). Cầu xe lửa còn nguyên, cầu Trường Tiền bị đặc công Cọng Sản phá sập đêm mồng 5 tết Mậu Thân, ngày 4 tháng Hai/ 1968)

    Chương 7: Thành Nội


    Phần một:

    Vọng lâu trên cửa thành

    Thật là một điều không hợp lý chút nào sau khi rút những người lính TQLC trang bị hiện đại ra khỏi những đám ruộng nước lầy lội thì lại đẩy họ vào chiến đấu ở một khu thành lũy xây từ thế kỷ 18 (thật ra là xây vào đầu thế kỷ 19, đời vua Gia Long -1802-1820 ngd), nhiều hồ ao chung quanh với tất cả những gì khó khăn.

                Thực ra, Huế có hai thành phố riêng biệt và TQLC phải chiến đấu trong hai chiến trường khác nhau. Với họ, khu Huế-nam đã được kiểm soát, giai đoạn hai là chiếm lại khu bắc thành phố: Thành Nội Huế.

                Cuộc chiến đấu ở khu nam đã gay go, ở khu bắc lại càng thêm gian khổ. Số thương vong thật khủng khiếp, giành từng tất đất, nhà cửa sụp đổ gia tăng từng ngày, ghi lại nhiều dấu vết ghê gớm như trong trận Monte Cassino ở Ý hồi năm 1944. Michael Herr, một trong những phóng viên theo chân TQLC trong Thành Nội, cố gắng giải thích sự kiện nầy:

    “Trong những ngày tệ hại nhất đó, chẳng có ai hy vọng mình sẽ được sống sót… Tất cả họ đều biết trận đánh hết sức tồi tệ, tính chất khác thường của trận đánh trong thành phố nầy trở thành một câu chuyện đùa đáng ngại: Ai cũng muốn bị thương.”

                Lewis C. Lawhorn, là trưởng toán hỏa lực thuộc Trung đội I, Đại Đội Delta, Tiểu Đoàn 1, Trung Đoàn 5, Sư Đoàn 1/ TQLC. Anh ta là người da đen, 21 tuổi, thông minh, quê ở thành phố thép Vandergrift, Pennsylvania. Anh ta trở lại Việt Nam hồi tháng 11 năm 1967, hơn hai tháng trước, và lúc ấy, anh ta biết những gì được gọi là dành cho người lính bộ binh. Cuộc sống anh ta quá gian khổ, như tất cả những người lính TQLC khác vậy: Lội bì bõm qua các ruộng nước, chịu đựng bọ chét, muỗi, những cơn mưa phùn gió bấc lạnh giá; không có buồng tắm, không có giường sạch, không có bia lạnh, chỉ có mặt trời nắng cháy, balô 50 pound trên lưng, hàng dặm đường rừng mồ hôi nhễ nhại, phá rừng đi tuần phòng. Đêm đêm, ngủ chút ít, trực máy điện đàm, phục kích đêm, và dĩ nhiên, địch luôn luôn rình rập.

                Lawhorn chẳng suy nghĩ gì nhiều về việc tại sao anh ta tham gia cuộc chiến nầy ở Việt Nam, nhưng anh ta tin tưởng một cách chân thành vào đất nước anh. Thế là đủ. Điều anh ta chiến đấu vì anh là một TQLC. Đó là điều anh ta tin tưởng. Đại úy Myron Harrington, đại đội trưởng là một người mới, Lawhorn muốn chờ xem anh ta chỉ huy như thế nào. Nhưng trung đội trưởng Trung Đội 1, thiếu úy Maurice là một chỉ huy giỏi. Các trưởng toán, hạ sĩ, trung sĩ trong trung đội là những chỉ huy tốt. Anh ta cũng như những binh sĩ khác, được đối xử như nhau. Anh ta từng nói:

    “Tôi biết chẳng có vấn đề gì ở hậu tuyến, những rắc rối về chủng tộc ở hậu tuyến. Chúng tôi chẳng mất thì giờ với những vấn đề như thế. Chúng tôi quá bận bịu với những công việc như đào công sự để núp đạn, quần thảo với địch để sống còn. Binh lính CSBV khi bắn bạn, họ không cần bận tâm bạn có màu da gì. Đơn vị tôi – người thì ở miền Nam, người ở cực Nam, người ở Nữu Ước, ở Massachusetts, nhiều nơi khác nhau, giọng nói khác nhau, nhưng chúng tôi cùng chung một toán, một đơn vị. Chúng tôi có người đen, Porto-Ricô, da đỏ, da trắng; nhưng chúng tôi không có vấn đề gì hết. Chúng tôi gọi nhau là anh bạn da trắng, mắt xanh. Chúng tôi hòa hợp với nhau bởi một điều, chúng tôi là TQLC. Chúng tôi đến đây để thi hành xong nhiệm kỳ rồi về nước. Điều khác, chúng tôi phụ thuộc vào nhau. Đó là điều phải có trong ngành bộ binh, khi chúng tôi là những TQLC. Chúng tôi sống với nhau, ngủ với nhau, khóc với nhau, cầu nguyện cho nhau. Chúng tôi phụ nhau để hoàn thành nhiệm vụ. Tôi là bạn của mọi người trong trung đội. Tất cả chúng tôi là bè bạn. Đơn vị tôi, chỉ huy giỏi, khả năng giỏi, và chúng tôi được tiếng tốt. Phương châm chúng tôi ở Đại đội Delta là Phục vụ cho Delta. Dù công việc khó khăn như thế nào, chúng tôi cũng đảm đương. Thi hành công tác nào, chúng tôi cũng vẹn toàn với niềm tự hào của người lính TQLC.”

                Lawhorn và những người khác cần có tự hào, tình đồng đội, can đảm và thực hành nhiệm vụ mình ở Thành Nội Huế.

                Đại đội trưởng Đại Đội Delta, đại úy Myron Harrington hơi lo lắng một chút. Ông ta, 27 tuổi, có gia đình, quê ở Georgia, phục vụ ở Việt Nam 6 tháng nhưng tại đơn vị tiếp liệu ở Đà Nẵng, mới làm đại đội trưởng Đại đội Delta hôm 23 tháng Giêng, không nhiều kinh nghiệm chiến đấu. Ông ta và đại đội giữ nhiệm vụ bảo vệ Căn Cứ Hỏa Lực Đồi 147, phía bắc đèo Hải Vân khi cuộc tổng tấn công Huế bắt đầu. Tin tức anh ta nhận được chẳng có gì tốt lành. Tiểu đoàn đóng tại Phú Lộc, trên Quốc Lộ 1, cách Phú Bài khoảng 10 dặm về phía Nam, bắt đầu bị quân Cộng Sản pháo kích liên tục. Chỗ nầy cũng gần với các đơn vị hỗn hợp Việt Mỹ hoạt động ở cơ sở (làng – ngd). Các đơn vị nầy cũng đang bị tấn công. Nhiều đơn vị thuộc Đại Đội 1/ 5 được tăng phái giữ nhiệm vụ như đội cứu cấp tới giúp đỡ giữ làng kẻo sợ Cọng Sản chiếm mất. Tới ngày 1 tháng Hai, khi đơn vị hỗn hợp Việt Mỹ H-5 bị CSBV tràn ngập, thì trung tá Rebert P. Whalen, tiểu đoàn trưởng, đích thân dẫn đơn vị tiếp cứu. Đoàn xe bị pháo kích, trung tá Whalen bị thương nặng. Trung đội phản kích tiến tới trước thì lọt ổ phục kích trước khi bắt tay được với đơn vị hỗn hợp H-5. Một đơn vị thứ ba cũng bị cầm chân. Đó là cuộc tấn công thứ tư của Cọng Sản nhằm chiếm quận lỵ Phú Lộc. Ông đại tá và binh sĩ ông cách quận lỵ chỉ có 200 thước. Tình hình diễn biến rất tệ hại.

                Cuối cùng, ngày 3 tháng Hai, đại úy Harrington được lệnh tham chiến. Ông ta cùng đại đội phải di chuyển bộ 12 cây số từ Căn Cứ Hỏa Lực Đồi 147 xuống quận lỵ Phú Lộc nằm trên QL. 1 để tăng cường cho đơn vị ở đây. Chẳng ai trong tiểu đoàn biết rõ tình hình địch ở khu vực nầy như thế nào. Họ cho biết chẳng có địch trên đường di chuyển của Harrington. Anh ta để lại một trung đội để bảo vệ các khẩu pháo tại căn cứ nầy, rồi từ sáng sớm, cùng các trung đội còn lại tiến về Phú Lộc.

                Trên đường tiến quân, họ qua Thừa Lưu, một xóm nhỏ, xóm nầy nằm giữa những ngọn đồi thoai thoải và cách biển Đông khoảng một cây số, bên phía mặt. Lawhorn và các TQLC khác rất thích xóm Thừa Lưu nầy; người dân ở đây rất tốt. Khi đi tuần trong thị trấn nầy, chẳng bao giờ họ bị bắn sẻ. Nhiều lần đi phục kích đêm, những đêm mưa phùn ướt át, họ lẻn qua đêm ở đây, trong một gian nhà tranh của ai đó, gọi điện báo cáo giả địa điểm phục kích, có thể nghe tiếng đạn nổ bùm bùm đâu đó, hút thuốc, nghỉ ngơi. Nhưng tất cả chỉ là trước Tết mà thôi.

                Có tiếng súng AK-47 bất thần nổ ran phía trước khi họ mới vào tới rìa thị trấn. Lawhorn và đồng đội nằm sát xuống đất. Đại úy Harrington đang liên lạc truyền tin, nói rằng có lẽ có vài tên bắn sẻ nào đó, cứ tiếp tục di chuyển. Toán TQLC tiếp tục tiến qua thị trấn, mọi người càng lúc càng kinh hãi hơn. Nhà cửa đều trống không. Quang cảnh hoàn toàn vắng vẻ. Lawhorn nắm chặt cây M-16 nhìn chăm chăm từ nhà nầy qua nhà khác. Chắc có gì tệ hại sắp xảy ra đây. Qua được nửa xóm Thừa Lưu thì điều tệ hại đó xảy ra thật.

                Lawhorn đang quan sát những quán lều ở phía trước, thì một tràng đạn lửa nổ ran trước mặt. Hai TQLC đang di chuyển trên đường gục xuống, số còn lại tản ra. Đạn từ trên sườn đồi chung quanh thị trấn bắn xuống như mưa. Quân CSBV bắt đầu nã súng cối xuống. Đang tìm chỗ núp thì Lawhorn nghe tiếng đạn xé bên tai, hơi nóng phụt qua và viên đạn nổ ngay bên kia đường. Anh ta có cảm tưởng như tai anh ta bay mất. Anh trung sĩ chạy ngược lui, nằm tròn bên cạnh và nắm đầu anh ta. Nhưng anh ta không hề hấn gì. Anh ta coi như suýt nguy đến tính mạng mà thôi. Phía trước, anh ta thấy có bóng người di chuyển qua từng nhà. TQLC thì nằm bẹp sát đất, bắn như điên. Quân CSBV thì từ ba hướng bắn tới.

                Trên đường, Harrington và người hiệu thính viên đang khom mình xuống, tránh đạn, không biết việc gì đang xảy ra. Sau khi nhắm chừng hỏa lực địch là cở một tiểu đoàn CSBV, việc làm đầu tiên của Harrington là liên lạc bằng truyền tin, gọi chiến hạm Mỹ đang đậu phía ngoài biển gần đó bắn yểm trợ.

                Phía trước, hỏa lực địch mỗi lúc một yếu đi, Lawhorn và trung đội của anh bắn trả dữ dội, vừa bắn vừa rút lui, củng cố vị trí bên phía bờ con đường đất, ngập nước vì những cơn mưa mùa. Họ trụ lại, trong đám phân rác ngang tới bụng. Trung úy Green muốn tấn công vào thị trấn, – Ông ta không thể đứng hay ngồi trên bùn, dần dần thấy được trung đội của anh ta đang bị địch đánh tan, liền la to lên, ra lệnh tác xạ, cố kéo binh lính của anh về lại bên nầy bờ đường đất. Anh ta muốn di chuyển, nhưng một tràng AK nổ dòn khiến bùn và nước bay tung tóe chung quanh. Đạn trúng mắt cá, anh ta cúi xuống. Một TQLC khác, một người da đen, muốn vượt qua bên kia bờ đường thì té nhào xuống vì trúng đạn vào đầu. Ai cũng lo ngồi núp sát đất, bối rối và sợ hãi.

                Trên đường, họ thấy một chiếc trực thăng tải thương đang đáp xuống giữa lưới đạn. Người lính TQLC bị đạn ở đầu đang thở một cách chậm chạp. Lawhorn, hai TQLC khác, và một người bị thương ở vai cố đẩy anh ta vào một cái áo đi mưa. Cả bốn người trong bọn họ trèo lên mặt đường cùng với người bị thương, cố chạy thật nhanh để chuyển người bị thương tới chỗ trực thăng đáp. Họ phải chạy khoảng 15 thước, Lawhorn nghe tiếng đạn AK rít trên đầu, thấy đạn rơi trên mặt đường. Họ để người bị thương xuống thì Lawhorn vừa nghe có tiếng kêu bụp rõ ràng là tiếng đạn xé vào thịt, và nghe tiếng người lính TQLC bị thương ở vai la lên: “Đ. mẹ.” Một viên đạn khác xé rách cổ tay anh ta. Họ quay trở ngược bờ đất bên đường và nép xuống bùn.

                Lawhorn và một trong các TQLC nắm lấy mắt cá người lính bị thương ở đầu và kéo anh ta ra khỏi chỗ hai bên đang bắn nhau. Rồi họ lại bắt đầu chạy tới chỗ trực thăng đáp, mang theo người bị thương, đầu cúi thấp, cố chạy qua khỏi vũng bùn. Một chiếc trực thăng khác, to, hình dáng như châu chấu Sea-Knight vừa sà xuống nã đạn, vừa mở cửa hậu. Mấy người lính TQLC lao nhanh tới, mang những người bị thương theo. Lawhorn buông người lính da đen bị thương xuống sàn, chiếc máy bay vội vàng lắc mình lên. Lawhorn đeo vào chiếc trực thăng, hai chân đong đưa, nghiến răng khi một tràng AK nổ, bắn thủng tấm nhôm cửa hậu máy bay. Người y tá la to để phi công đừng đóng cửa sau lại, sợ Lawhorn bị chẹt, rồi nắm tay và vai anh ta cố kéo vào bên trong. Anh ta đứng lên, thở một cách nặng nhọc, áo giáp và quần anh ta đẫm đầy bùn và máu của đồng đội. Người xạ thủ đại liên nơi cửa nhìn anh ta như chưa từng nhìn thấy một anh TQLC nào kỳ cục dơ dáy như vậy cả.

                Chiếc Sea Knight đáp xuống Đà-Nẵng. Nhiều y tá khác dồn vào trong máy bay lo cứu cấp người bị thương. Phi công là một thiếu tá, xin lỗi Lawhorn về việc ông ta đã vội vàng cất cánh. Ông ta hỏi ở Thừa Lưu còn ai bị thương nữa không? Lawhorn trả lời có. Sau khi lấy thêm nhiên liệu, họ lại bay trở lại chỗ đang đánh nhau. Chiếc máy bay bay là là trên các đám ruộng ngoài rìa thị trấn, Lawhorn chạy lui núp phía sau máy bay. Súng còn nổ, và TQLC chạy ngược lui phía đường lộ, mang theo người bị thương. (Báo cáo hôm đó nói phía TQLC có 10 người bị thương nặng; phía CSBV có 12 chết). Chiếc máy bay lại bay lên. Khi đó Lawhorn tìm được tiểu đội của anh và toàn thể đại đội rút lui phía QL 1. Họ vẫn còn tiếp tục chiến đấu rất căng và vững nhưng không thể cầm cự lâu được, do đó, đại đội trưởng Harrington yêu cầu tiểu đoàn cho rút lui.

                Họ đi bộ khoảng hai hay ba cây số trở lại căn cứ hỏa lực và tối đó, ngủ qua đêm ở đó, nhìn đạn đại bác nổ liên tiếp ở phía Thừa Lưu. Buổi sáng ngày 4 tháng Hai, họ lại xuống QL 1 và lại bắt đầu từ đầu. Quân CSBV từ trong làng và ở những chỗ đất cao bắn ra và nã súng cối tới. TQLC bỏ đường lộ, núp trong các đám ruộng hai bên bắn trả. Họ nghe tiếng còi của địch thổi bên phía hông khi địch cố bao vây đại đội. Harrington lại gọi pháo binh phản pháo. Lại gọi thêm súng cối, đại bác và Hải pháo bắn vào làng, kêu trực thăng tới tải thương. Lần nầy thì có báo cáo nói phía TQLC có 7 bị thương và 11 CSBV bị giết. TQLC lại trải qua một đêm nữa ở căn cứ hỏa lực và biết rằng hôm sau lại phải trở lại Thừa Lưu. Mọi người cố nuốt sợ, chuẩn bị lại hành trang, nhưng có một anh TQLC, một anh da đen tên là Campbell, mới tới Việt Nam, bắt đầu nói chuyện với Lawhorn, cứ nói đi nói lại hoài rằng anh ta chẳng sợ chút nào cả.

                Đêm đó, họ quay lại ngôi làng, lặng lẽ tiến ngang qua làng và cuối cùng nhận ra rằng quân CSBV đã rút đi. Họ rút đi, để lại ngôi làng bị súng đạn tàn phá. Đại Đội Delta vượt qua con sông nhỏ, chỗ gần cây cầu đã bị đánh sập và tiếp xúc được với đơn vị của tiểu đoàn đang tiến xuống hướng nam để tăng cường cho Đại Đội Delta.

                Tới trưa, họ quay trở lại tuần tra đường phố, tiểu đội của Lawhorn đi theo các bụi cây bên đường, giữ an ninh mặt hông thì bỗng có một tiếng nổ kinh hồn trên đường, mọi người sẵn sàng nhưng không nghe súng nổ. Vì vậy, Lawhorn núp bên bờ đường nhìn theo dọc đường đi. Có làn khói cuộn lên cao trong không khí. Lính TQLC và y tá đang chạy lòng vòng. Lawhorn thấy có vài TQLC nằm lăn trên đất, bị thương. Có một TQLC khác nằm ngang mặt đường, nhiều mảnh áo quần thấm máu, chân một đường, tay một nẽo. Anh ta đạp nhằm một trái mìn chống tăng – 50 pound thuốc nổ TNT. Đó chính là anh lính mới: Campbell.

                Sau trận đó, Đại đội Delta bắt tay cùng các đơn vị còn lại của tiểu đoàn trong các cuộc tuần tiểu quanh Phú Lộc, đụng đầu với các tay bán sẻ, pháo kích, đánh nhau trong những ngày mưa gió ở một đất nước mà nhà nhà phân cách nhau bằng những thửa ruộng lúa.

                Có tin đồn Đại Đội 1/ 5 sẽ được đưa lên phía bắc để giúp giành lại thành phố Huế. Lawhorn hy vọng việc ấy không có. Trong đời, anh ta từng gặp nhiều trận đánh quá rồi.

    &

                Ngày 10 tháng Hai, 1968, có lệnh cho đơn vị 1/5 tảo thanh quân địch ở Thành Nội Huế. Cho đến lúc đó, binh lính Nam VN đang đánh nhau với quân CSBV ở Huế. Đại đội 1/1 và 2/5 đang tảo thanh quân địch ở khu Huế-nam. Tướng Trưởng, Tư lệnh Sư đoàn 1 Bộ Binh đang chỉ huy binh lính của ông chiếm lại Đại Nội.

                Buổi sáng ngày 31 tháng Một năm 1968, trong khi TQLC đang củng cố an ninh ở MACV, tướng Trưởng và binh lính của ông ở Mang Cá, đã dũng cảm đứng vững được, bảo toàn doanh trại của họ. Đại đội Hắc Báo, do đại úy Trần Ngọc Huế chỉ huy, cố thủ ở phi trường Thành Nội khi CSBV tấn công. Quân đội Nam Việt Nam xử dụng hỏa tiển đè bẹp ngay cuộc tấn công mở đầu. Một tiểu đoàn khác của quân CSBV tấn công bộ tư lệnh của tướng Trưởng, chiếm tới khu vực đại đội quân y. Một sĩ quan tham mưu, trung úy Nguyễn Ái, mặc dù bị thương ở vai, đã chỉ huy cuộc phản công gồm toàn những binh sĩ văn phòng, đẩy lùi cuộc tấn công đầu tiên của địch. Tướng Trưởng ra lệnh cho đại đội Hắc Báo tiếp viện, đơn vị nầy cùng hai trăm nhân viên văn phòng phản công và bảo toàn được bộ Tư lệnh.

                Việc tướng Trưởng tiên liệu cho tập họp ban tham mưu tại Bộ Tư Lệnh đã giữ được cấu trúc Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn. Từ Bộ Tư Lệnh đang bị bao vây nầy, ông ta đã ra lệnh cho bộ binh, nhảy dù, thiết giáp trú đóng ở bên ngoài Huế tiến vào và tăng cường cho Bộ Tư lệnh. Đối đầu với cuộc tấn công dữ dội, chịu tổn thương và thương vong quá nặng, các đơn vị Quân Đội Việt Nam Cọng Hòa đánh cận chiến với quân địch để tiếp ứng cho Bộ Tư Lệnh. Đến khi trận đánh chấm dứt, lực lượng của tướng Trưởng gồm các đơn vị sau đây: Đại Đội 1 và Đại Đội 2, (Trung Đoàn 1), Tiểu Đoàn 4, (Trung Đoàn 2, Trung Đoàn 3), Đại Đội Hắc Báo và Đại Đội Thám Sát; Chi Đoàn 1, Chi Đoàn 2 và Chi Đoàn 3 thuộc Thiết Đoàn 7 Kỵ Binh; Tiểu Đoàn 2, Tiểu Đoàn 7 và Tiểu Đoàn 9 thuộc Sư Đoàn Dù, Tiểu Đoàn 1, Tiểu Đoàn 4 và Tiểu Đoàn 5, thuộc Sư Đoàn TQLC/ VNCH; Tiểu Đoàn 21 và Tiểu Đoàn 39 Biệt Động Quân. Từ Bộ Tư Lệnh, họ dã có những cố gắng mãnh liệt để chiếm lại Thành Nội. Đối với binh lính Nam Việt Nam, chiến đấu trên đường phố là cuộc chiến cực kỳ khó khăn mà họ chưa quen. Nhiều người gia đình họ ở ngay trong thành phố, nên việc chiến đấu lại khó khăn thêm. Trong nhiều trường hợp, họ phải bắn sập nhà của họ để đánh đuổi địch quân ra khỏi nơi chúng ẩn náu.

                Đó là một thời kỳ giết chóc ghê gớm. Nhà nhà đều đóng chặt cửa nẻo, chỉ bị mất khi quân CSBV tấn công đêm bằng cách quăng giây qua tường để leo lên. Các tiểu đoàn Quân đội VNCH bị cắt đứt tiếp tế, phải tự chiến đấu trong nhiều ngày để bắt tay với Bộ Tư Lệnh. Không Quân Việt Nam được lệnh của tướng Lãm cho oanh tạc ngay Thành Nội, nhưng quân CSBV vẫn còn dai dẳng bám chặt vị trí của chúng. Ví dụ về một trong những trận đánh dữ dội ấy là trận xảy ra ngày 5 tháng Hai, Tiểu Đoàn 4, (Trung Đoàn 3) vượt qua sông Hương, tấn công 7 lần vào Thành Nội mà không thành công. Một đơn vị thiết giáp gồn 12 thiết vận xa vào Huế, tám chiếc bị bắn cháy. Cuối cùng, binh sĩ Quân Đội Nam Việt Nam bắt đầu mất tinh thần, ngay trong tuần đầu. Thật ra, họ muốn củng cố phòng thủ để chờ lệnh. Tướng Trưởng không phải là người chểnh mảng nhiệm vụ. Ông ta nhỏ con, ốm nhưng lại hoàn toàn có khả năng. Ông ta nhận nhiệm vụ Tư Lệnh Sư Đoàn năm 1966 trong tình hình suy sụp vì cuộc đấu tranh của Phật Giáo, và chấn chỉnh sư đoàn thành một đơn vị tác chiến giỏi. Tướng Wesmoreland đánh giá cao tài ba của tướng Trưởng. Nhiều sĩ quan Mỹ còn nói rằng họ tin tưởng tướng Trưởng, ông có thể chỉ huy một đơn vị quân đội Mỹ. Dù sao, việc Thành Nội bị địch chiếm đã làm cho Sư Đoàn 1/ BB mất năng lực chiến đấu. Chiến đấu với kẻ thù có nghĩa là vấn đề tiếp tế phải được đều đặn, binh sĩ được tăng cường bởi những người có tinh thần và sức chiến đấu còn cao, không yểm không bị hạn chế vì thời tiết xấu, không chịu thương vong nặng nề, không thiếu những vũ khí dùng để tác chiến trên đường phố như đại bác 106 ly không giật, và trên tất cả là một sức mạnh ý chí như TQLC Mỹ ở khu Nam Huế. Thiếu những điều kiện đó, Quân đội Miền Nam VN phải chuyển từ thế tấn công qua thế phòng ngự.

                Thiếu tá Swenson, sĩ quan liên lạc TQLC đã chiến đấu ở khu MAC.V sau đó được trực thăng đưa vào bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 1 giải thích tình hình lúc đó như sau:

    “Tôi hết sức ngưỡng mộ tướng Trưởng và sĩ quan trong sư đoàn. Sư đoàn có các trung đoàn trưởng xuất sắc và họ chỉ huy rất giỏi, nhưng không phải lúc nào cũng được vậy. Tướng Trưởng là một vị tư lệnh cứng cỏi, khiêm nhượng và biết lắng nghe ý kiến người khác. Tuy nhiên, tôi có thể dám chắc với quí vị là chỉ có TQLC/HK, chỉ có họ mà thôi mới có thể chiến thắng ở Huế. Mặc dù Quân Đội Nam VN chịu nhiều hy sinh và nhiều đơn vị chiến đấu hết sức tài ba, tới ngày thứ tư của trận đánh, số thương vong của họ còn thấp và các cuộc hành quân tạm thời của họ vẫn được xem như dậm chân tại chỗ, và số thương vong không gia tăng thêm.”

                Quân Đội VNCH muốn nắm lấy vinh dự giải tỏa Thành Nội Huế, nhưng đến ngày 9 tháng Hai tướng Trưởng buộc phải yêu cầu Hoa Kỳ giúp đỡ. Liên tiếp nhiều bức điện gởi tới cho tướng LaHue ở Phú Bài và cuối cùng quyết định Đại Đội 1/ 5 nhận nhiệm vụ giải tỏa Thành Nội Huế.

                Thành Nội Huế trở thành nơi biểu diễn tác chiến của TQLC/ Hoa-Kỳ. Thiếu tá Robert Thompson là sĩ quan chỉ huy Tiểu Đoàn 1, Trung Đoàn 5. Ông ta 37 tuổi, to con, gầy giơ xương, tính tình tốt và nghiêm nghị, có gia đình và mấy con, quê ở Corinth, Mississippi. Ông ta nắm tiểu đoàn hôm 2 tháng Hai vì thiếu người chỉ huy chứ không có gì khác. Khi trung tá Whalen, một người bạn cũ của ông ta, bị thương khi làm trung đoàn trưởng trung đoàn 1 thì đại tá Bohn (có biết Thompson), ra lệnh ông ta rời chức vụ sĩ quan hành chánh tiểu đoàn để nắm chức vụ mới. Thiếu tá P.A. Wilson đang giữ quyền chức vụ nầy. Lúc đó, thiếu tá Thompson ở Việt Nam đã được 6 tháng, phục vụ tại bộ chỉ huy III MAF tại Đà Nẵng. Mỗi tối, ông ta uống bia lạnh, thịt nướng lò. Ngày đầu tiên ông ta ở mặt trận với Đại Đội 1/ 5 hoàn toàn trái ngược với cuộc sống thoải mái của ông ta ở Đà-Nẵng. Khi bước ra khỏi chiếc trực thăng chở hàng tiếp tế tới Phú-Lộc, quân CSBV đang pháo kích, và ông ta phải mất 5 phút đầu tiên của thời gian chỉ huy ở đây để chúi đầu vào hố cá nhân đầy bùn mà đồ trang bị cùng với mấy TQLC đang nằm chồng nhau để tránh pháo kích.

                Thompson chỉ có một tuần để tìm hiểu đơn vị của ông ta trước khi nhận lệnh tác chiến ở Thành Nội. Một tiểu đoàn thuộc sư đoàn 101 Không Kỵ chuyển tới căn cứ của họ ở Phú Lộc, các TQLC bắt đầu nhảy như nhảy cóc từ phía bắc tới Phú Bài trong các ngày 10 và 11 tháng Hai, các đại đội chia thành từng trung đội hay tiểu đội di chuyển bằng trực thăng hay xe GMC. Tới Phú Bài là họ được chuyển đi Huế ngay. Hai trung đội thuộc Đại đội Bravo do đại úy Fern Jennings chỉ huy được chở bằng trực thăng thả xuống trong khuôn viên bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 1, nhưng chiếc Sea Knight chở Trung đội 3 bị trúng đạn, phi công bị thương nên phải quay lại Phú Bài. Thiếu tá Thompson tới Phú Bài hôm 11 tháng Hai bằng xe, tới ngay bộ chỉ huy của tướng LaHue để nhận lệnh mới. Tướng LaHue cho biết Đại Đội 1/ 1 và 2/ 5 do đại tá Hughes chỉ huy đã hoàn thành nhiệm vụ của họ ở khu Huế-nam, nhưng quân đội VNCH ở trong Thành Nội tiến rất chậm. Ông ta nói về phía Nam VN có rất ít tin tình báo và Thompson phải đưa đơn vị vào Thành Nội tác chiến, dưới sự hướng dẫn của đại tá Hughes. Tướng LaHue nhấn mạnh với Thompson là anh ta phải nhận mệnh lệnh từ đại tá Hughes chớ không phải từ tướng Trưởng. Để anh ta khỏi bị mặc cảm nặng từ vị tướng Việt Nam Cọng Hòa, LaHue phong cho Thompson hàm đại tá. Thompson từ chối, cho rằng việc ấy không cần thiết. Ông ta không mang loon trên người. Nếu tướng LaHue đồng ý, khi gặp Trưởng, ông ta sẽ tự giới thiệu là đại tá. Tướng LaHue đồng ý, chúc Thompson may mắn và hy vọng chỉ trong ít ngày Thompson sẽ đuổi quân CSBV ra khỏi thành phố Huế.

                Các Đại Đội Alpha, Charlie, Delta bắt đầu vận chuyển đến Huế-bắc. Thompson giã từ thiếu tá Wilson, chỉ huy hậu cứ tiểu đoàn ở Phú Bài rồi cùng ban chỉ huy nhỏ của ông, đi theo các đại đội bộ binh và trung đội còn bị kẹt lại. Xe GMC thả họ xuống ở MACV khu nam Huế. Thompson vào báo cáo cho đại tá Hughes. Hughes ra lệnh cho họ vượt qua sông Hương, và thực hiện một kế hoạch ngắn: Thompson cùng Đại Đội Alpha và Charlie, bắt tay với hai trung đội thuộc đại đội Bravo đã đến trước hiện ở trong thành Mang Cá (Bộ Tư Lệnh Sư đoàn 1), tiến xuống phía nam, đẩy quân CSBV về phía sông Hương. Cùng lúc đó, Đại đội Delta tiếp tay với Đại đội 2/5.

                Buổi tối, họ dự trù chiếm đóng một vài tòa nhà chung quanh MAC.V, những nhà đã bị bắn lỗ chỗ. Thompson đang bận bịu công việc thì bỗng có một thiếu tá quân đội Mỹ xuất hiện. Ông nầy đội nón sắt, mặc áo giáp, mang súng Colt .45 bên hông, tự giới thiệu là linh mục McGonigal. Tên đầy đủ ông ta là Thiếu tá Aloysius P. McGonigal, tuyên úy Công Giáo Quân Đội Mỹ, 46 tuổi, quê ở Philadelphia, một người đeo kính cận, thích giao thiệp, tình nguyện qua Việt Nam và hiện làm việc ở MAC.V.

                Linh mục McGonigal nghe nói đại đội 1/5 không có tuyên úy nên ông ta xin với cấp chỉ huy ở MAC.V cho ông ta đi theo đại đội vào Thành Nội. Thompson không kiểm chứng ông ta có được phép hay không nhưng hoan hô ông ta cùng đi. Hôm đó, khu vực quanh MAC.V yên tĩnh.

                Buổi sáng không thấy mặt trời lên. Trời xám, mù sương và lạnh. Thiếu tá Thompson đi xuống bến tàu cùng ban chỉ huy, sắp xếp đưa đơn vị của ông vào Thành Nội. Họ chờ cả mấy tiếng đồng hồ để có tàu đổ bộ LCU qua sông. Nhưng mỗi khi họ thử bắn qua bên kia bờ để thăm dò tình hình, thì súng của quân CSBV bên sông bắn trả dữ dội. Quân CSBV bắn chừng vào bến tàu. Có khi lại có tiếng nổ lớn, có lẽ là B-40.

                Cuối cùng, tới chiều, tiếng súng bớt đi, và tàu đổ bộ tới. Thompson cùng ban chỉ huy, một trung đội của Đại Đội Bravo, các Đại Đội Alpha và Charlie chen nhau xuống tàu. Tàu tách khỏi bến, hướng theo phía hạ lưu, vòng theo khúc sông uốn cong để cập vào chỗ phía bắc Thành Nội. Quân CSBV núp trong các bụi rậm trên bờ bắn xuống. Đạn chéo nhau phía trên tàu, hỏa tiễn nổ, khói trắng tỏa ra. TQLC trên tàu bắn lại. Cũng may, trên tàu không ai bị thương.

                Tàu đổ bộ cặp vào Bao Vinh, chẳng bắn một phát súng. TQLC tập trung, đi dọc theo bờ thành hướng tây-bắc, trước mặt tiền nhà cửa dân chúng, các bụi rậm, đi về hướng Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 1, Thompson đi đầu. Toán binh lính đi xuống đường. Vài người Việt Nam tiến gần tới Thompson, đưa tay vẫy chào và nói chuyện với TQLC bằng một thứ tiếng Anh không sỏi. Họ chỉ cho TQLC thấy phía xa, có một toán CSBV đang phục kích ở đó. Thompson cũng không biết rõ còn có con đường nào khác nữa không. Người Việt Nam nầy dẫn TQLC đi theo con đường vào cửa sau Bộ Tư Lệnh (cửa Trài – ngd). Tại đây, họ gặp đại úy Jennings, đại đội trưởng đại đội Bravo và vài sĩ quan Việt Nam.

                Thompson nói ông ta muốn đưa binh lính ông ta vào trong thành. Sĩ quan VN không đồng ý, họ không thể để cho binh lính Hoa Kỳ vào trong thành được. Điều đó có thể làm cho Bộ Tư Lệnh bị Cọng Quân pháo kích. Thompson trả lời nếu cửa thành không mở, ông ta sẽ cho binh sĩ trèo thành vào. Một lúc sau, cửa thành mở, TQLC tiến vào.

                Thompson gặp tướng Trưởng cùng đại tá Adkisson, cố vấn Sư Đoàn 1 Bộ binh để tìn hiểu tình hình tại chỗ. Tướng Trưởng và đại tá Adkisson cho biết hiện quân CSBV đang bao vây bộ Tư Lệnh và khu thành tây bắc (cửa An Hòa – ngd), nơi Đại Đội 1/ 5 vừa mới tiến qua. Quân đội VNCH và TQLC đang chiến đấu dọc theo thành tây-nam (cửa Hữu, của Sập tức cửa Nhà Đồ – ngd). Quân CSBV hiện đang giữ chặt thành đông-bắc (cửa Đông Ba – ngd) và đông-nam (cửa Thượng Tứ – ngd), ở đó có khu Đại Nội. Cờ Cọng Sản còn treo trên cột cờ Ngọ Môn. Tin tình báo cho biết Cọng Sản có hai tiểu đoàn trong Thành Nội và một tiểu đoàn ở phía tây để bảo vệ đường tiếp tế của họ. TQLC Hoa Kỳ có thể củng cố an ninh khu thành đông-bắc (Mang Cá), tương tự như các chỗ khác, dài khoảng 250 thước, cao 20 bộ, bề rộng thay đổi từ 50 đến 200 bộ.

                Theo phóng đồ hành quân, lực lượng Nhảy Dù VNCH đang tiến dọc theo bờ thành đông-nam, giữa bộ Tư Lệnh và khu Đại Nội. Với tin tức như thế, Thompson thực hiện kế hoạch của ông ta. Ông ta cùng ba đại đội, cố gắng bắt tay với quân Nhảy Dù VNCH, và từ điểm xuất phát đó, mở cuộc tấn công. Đại Đội Alpha bên trái, tiến dọc theo bờ thành. Đại Đội Bravo tiến dọc theo những ngôi nhà bên phải, và Charlie là thành phần trừ bị. Thành phần còn lại của Trung Đoàn 3 BB sẽ tấn công bên phía phải, dọc theo thành tây-nam.

    Tướng Trưởng và cố vấn Adkisson đồng ý kế hoạch nầy.

                TQLC nghỉ qua đêm trong Bộ Tư lệnh. Lại một đêm yên tĩnh.

                Hôm sau, thứ Ba, 13 tháng Hai, 1968, họ bắt đầu kế hoạch chiếm lại Nội Thành.

    &

                Vào lúc 8 giờ sáng, đại úy J.J. Bowe và Đại Đội Alpha đi trước tiểu đoàn, tiến về phía những con đường khu thành đông-bắc, nơi quân Nhảy Dù VNCH đang trấn giữ.

                Đến 8giờ 15 sáng chiến sự bùng nổ dữ dội.

                Thompson đang đi với ban chỉ huy, đằng sau Đại Đội Alpha thì súng nổ. Tình trạng hết sức bối rối. Tiếng súng AK-47, hỏa tiễn B-40 nổ lộn xộn, lại thêm có tiếng súng cối phía sau dãy nhà dân và trên vọng lâu trên cửa thành bắn tới. Quân CSBV ẩn núp trên vọng lâu và ra dấu hiệu cho đồng đội khi thấy Đại đội Alpha tiến lên. Thompson lấy làm lạ, tự hỏi: “Quân nhảy dù VNCH ở đâu? Họ đã rút rồi chăng?” (Sau nầy, mới biết họ đã rút. Vì có TQLC/ HK tới nên bộ Tổng Tham Mưu QĐ/ VNCH rút các đơn vị nầy về Saigon. Đó là sự thất bại lớn trong việc điều hành thông tin Việt Mỹ). Quân CSBV tiếp tục tấn công Đại đội Alpha. Thompson ra lệnh phản công. Một toán súng không giật được lệnh tiến lên phía trước, bắn dọc theo con đường bên bờ thành, Đai Đội Alpha rút lui về phía con đường sau lưng họ. Cuộc chạm súng kéo dài cở 10 phút. Đại úy Bowe bị thương nặng, được chuyển ra phía sau, các thiếu úy đều bị thương hết cùng với 30 TQLC. Hai người chết còn nằm trên đường. Đó là phần Đại Đội Alpha, suốt buổi chiều còn lại là lo tải thương, đưa về trạm cứu cấp đặt trong Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 1/ BB Thompson gọi máy cho trung úy Scott A. Nelson, chỉ huy Đại Đội Charlie, ra lệnh cho đại đội nầy tiến lên bên hông Đại đội Bravo của đại úy Jennings. Sau trưa một chút, họ lại cố tiến lên phía trước. Quân CSBV lại nổ súng một lần nữa. Hai chiếc xe tăng của TQLC tiến lên hỗ trợ, bắn vào vị trí địch nhưng chẳng ai tiến thêm được tấc đất nào.

                Khi mọi người bị thương, Thompson ra lệnh cho họ trở lại điểm xuất phát. TQLC rút lui thì CSBV tiến lên chiếm ngay vị trí TQLC mới rút. Súng lại nổ tiếp, đến 2giờ 55 chiều, Thompson nhận được lệnh của đại tá Hughes đang chỉ huy qua máy truyền tin:

    “Giữ lấy tình trạng hiện tại, củng cố vị trí, tái tổ chức đơn vị, chuẩn bị kế hoạch tấn công với pháo binh yễm trợ tối đa. Những kế hoạch đề nghị tiếp tục tấn công là rất cần thiết và đặc biệt quan tâm.”

                Không giống tình trạng khu Huế-nam, áp lực địch bị hạn chế vì việc xử dụng vũ khí hạng nặng, TQLC trong Thành Nội có yễm trợ pháo binh cần thiết. Chẳng có cách nào khác. Năm phút sau khi nhận được yễm trợ hỏa lực, thiếu tá Thompson trả lời:

    “Kế hoạch hiện tại tiếp tục tấn công căn cứ trên kế hoạch yễm trợ hỏa lực toàn bộ, pháo trước và bộ binh tiến theo sau. Pháo yểm là cần thiết và rất quan trọng. Pháo binh 8 inch và 155mm kết hợp cùng hỏa tiễn sẽ được xử dụng để phá thành. Xử dụng hơi cay trong khu Đại Nội.”

                Trong vòng nửa tiếng đồng hồ, sau khi một TQLC của Đại đội Bravo bị bắn chết bên bờ thành, pháo binh tác xạ dữ dội khu phía trước tiểu đoàn. Không thấy báo cáo về thiệt hại địch. TQLC Hoa Kỳ cố thủ qua đêm tại khu nhà được xem là nơi quân Nhảy Dù/ VNCH đã cố thủ đêm hôm trước.

    &

                Buổi tối ngày 13 tháng Hai, đại úy Harrington được lệnh đưa đại đội của anh vào Bộ Tư Lênh Sư Đoàn 1/ BB. Lúc đó, toàn bộ đại đội không có mặt đủ với anh ta. Trung đội 3 được biệt phái giữ an ninh cho đoàn xe vận chuyển Phú Bài – Huế. Vì vậy, anh ta đem hai Trung Đội 1 và 2 còn lại xuống bến tàu. Ở đây có 2 chiếc tàu đổ bộ LCU. Người và trang bị cùng xuống tàu. Harrington chỉ có thể tìm cho anh ta cùng ban chỉ huy và một tiểu đội một phòng nhỏ. Tàu đổ bộ thả họ xuống phía bắc Thành Nội, rồi quày đi.

                Đám lính TQLC ngồi chờ giữa những ngôi nhà trên bến tàu. Harrington gọi điện cho hai trung đội còn lại để di chuyển chuyến kế tiếp. Họ đang chờ trên bến tàu Tòa Khâm, Landry cùng những người khác trong toán súng cối đang chuyện trò. Hai chiếc tàu đổ bộ LCU cập bến, rồi rời khỏi bờ sau khi mọi người lên hết. Bất thần quân CSBV trên thành cao bắt đầu nổ súng xuống. TQLC bắn trả bằng súng cối và đạn hơi cay. Ra tới nửa sông, hai chiếc tàu phải đổi hướng quay trở lại bến. Cửa tàu vừa hạ xuống thì TQLC đổ dồn ra, thở và nôn mửa, có người thì khóc la đến cuồng loạn trong khung cảnh hết sức kinh hoàng. Hơi hay do họ bắn ra đã bị dội ngược lại tàu của họ mà TQLC lúc đó chưa chuẩn bị kịp mặt nạ. Landry và bạn của anh ta chạy lên bãi, kéo một số người vào trốn trong một căn nhà nhỏ, quạt cho họ, và đưa họ ít mặt nạ để có thể thở không khí sạch. Một người trong toán súng cối, hạ sĩ Raby, nắm lấy một viên thiếu úy đang la hét om sòm và tát vào mặt anh ta, mắng anh ta là đồ tồi, biểu lo tập họp trung đội lại.

                Từ phía thành bên kia sông súng lại nổ. Vài TQLC nằm dài ra trên đường, hoảng sợ và ho sặc sụa, bắn một cách điên cuồng vào một ngôi nhà trống. Landry la to lên, yêu cầu một viên thiếu úy ra lệnh cho binh lính anh ta rời khỏi đường lộ. Họ bắt đầu kéo lui. Một người trong bọn họ đi cà nhắc vì bị thương ở chân. Khi Landry đưa anh ta vào bên trong một căn nhà, anh ta rên rỉ: “Mày có thể tin… cục cứt nầy được không, chỉ còn 5 ngày nữa là tao hết thời hạn ở đây.”

                Thủy thủ trên tàu đổ bộ LCU miễn cưỡng cho tàu quay lại làm cho Đại đội Delta bị kẹt. Phía bên kia sông, Harrington vẫn còn ngồi chờ, rủa mình là đã tự tách ra khỏi đơn vị.

    Ngày hôm sau, Đại Đội Delta lại ra bến tàu chờ được di chuyển. Trung sĩ Berntson đã chiến đấu ở Huế 14 ngày và ở Việt Nam được 10 tháng. Anh trung sĩ 22 tuổi nầy, một người trẻ lanh lợi, quê ở tiểu bang Idaho, có cách nói chuyện kín đáo nhưng chân thật theo cung cách của người Mỹ vùng đồng quê. Anh ta tới Việt Nam lần nầy là lần thứ hai. Bỏ học ở trường đại học khi TQLC/ HK đổ bộ lên Đà Nẵng năm 1965. Anh ta thấy trách nhiệm của mình và gia nhập TQLC vì ông chú yêu mến của anh là người từng chiến đấu trong đơn vị đánh chiếm Guadalcanal, Saipan và Tinian. Chú của anh ta chẳng bao giờ nói chuyện chiến tranh, chẳng bao giờ khoác lác chuyện đánh chác nhưng Berntson thì biết ông từng phục vụ trong TQLC/ HK. Tất cả ý nghĩa là ở đó. Sau khi huấn luyện, anh ta đã chiến đấu ở Việt nam một năm. Anh ta rời quân đội, cưới vợ. Chính sau khi lấy vợ, anh và vợ thấy cần xây dựng gia đình nên anh ta lại có kế hoạch qua Việt Nam một lần nữa, với loon hạ sĩ.

                Anh ta được chỉ định làm phóng viên cho phòng thông tin Sư đoàn 1/ TQLC. TQLC là những người có tính độc lập, khó trị, họ thấy mình như là sự kết hợp một nửa là Ernest Hemingway và một nửa là John Wayne. Berntson hợp sức với một viên trung sĩ trẻ để theo Trung đoàn 5 trong cuộc hành quân Liên Kết II. Họ đáp ngay xuống bãi đáp trực thăng nóng bỏng, chạy lung tung trong khi súng nổ lách cách trong khu vực đổ quân. Berntson lúng túng không biết phản ứng như thế nào, lặng người đi, đứng thẳng người trong lưới đạn thì một trung sĩ nắm tay anh ta kéo xuống, núp phía sau một bờ ruộng. Anh ta nằm đó, bất thần sợ muốn chết và run lẩy bẩy. Viên trung sĩ nói với anh ta: “Đây là vậy. Đây là Việt Nam.” Sáu ngày sau, trận đánh kết thúc, Berntson bay trở lại Đànẵng, nôn mửa tới hai lần, cái cảm giác tê dại đó cứ đeo đẳng anh ta hoài. Đó chỉ là trận đánh đầu tiên. Berntson và các phóng viên của lực lượng TQLC/ HK phải trải qua 27 ngày một tháng trên chiến trường. Họ lặn lội từ chiến trường nầy qua mặt trận khác, với những lệnh di chuyển chung chung để viết từng câu chuyện về lương thực binh lính Mỹ trên chiến trường hoặc bằng cái máy chữ hư hỏng, nhét vội bài viết vào túi một xạ thủ nào đó trên một chuyến quân xa, hoặc bằng bất cứ phương tiện nào kiếm được. Họ không viết về những trận đánh lớn, điều đó dành cho những người dân sự viết tin, những người, như Bertson mô tả, tới trận địa bằng máy bay, quay phim năm mười phút, rồi chui lên một chiếc trực thăng khác bay đi mất. Berntson viết về những trận đánh của TQLC mà anh ta biết rõ. Nếu quí vị không phải là người lính TQLC, quí bị sẽ chẳng viết được gì. Phương cách viết về họ, phải là một người trong bọn họ. Vì vậy, Berntson phải lê chân với họ qua những đám ruộng nước, giúp họ vác đạn dược, kéo những người bị thương, bị chết ra chỗ bãi đáp chờ trực thăng chuyển đi, đứng thẳng lên và bắn vào kẻ thù lúc súng đã nổ. Anh ta sống sót được sau trận bao vây ở Cồn Tiên, sau không biết bao nhiêu lần chạm súng với địch, và anh trở thành một người cứng cỏi, bất khuất, chai lỳ mặc dầu trên thân mình có biết bao nhiêu vết sẹo vì đạn, quên đi vợ con đang chờ đợi ở quê nhà. Anh ta đã bắt đầu viết những tác phẩm về thời gian anh quay trở lại Việt Nam. Anh ta nói rõ thêm về tình chiến hữu, những cam kết với bạn bè mà lúc ấy tuồng như mạnh hơn với những gì đã hứa hẹn với gia đình. Ở đây anh ta có biết bao nhiêu bạn tốt, những người như Tom Young, được kéo ra từ một cái hầm gần một căn nhà đang cháy, và Dale Dye.

                Berntson đến Huế với trung sĩ Dye, đi cùng lực lượng phản công 1/1 mà không biết rõ đang làm việc gì đây. Họ cố gắng gắn bó với nhau trong những ngày còn lại của trận đánh, cùng Đại đội Hotel 2/5 tấn công vào ty Ngân khố, tòa Hành Chánh tỉnh và tuyến phòng ngự của đại úy Christmas bị thương. Nhưng tới ngày 13 tháng Hai, mọi sự trở nên yên tĩnh, Đại đội Hotel trấn giữ dọc theo sông An Cựu, và Berntson quyết định đi quan sát mọi nơi trong thành phố Huế.

                Khoảng chạng vạng, anh ta bắt đầu trở lại MAC.V, đi dọc đường Lê Lợi (đường chạy dọc bờ sông Hương, phía tả ngạn – ngd), ngang qua những ngôi nhà chỉ còn trơ lại bốn vách tường, hết sức lo lắng sợ bị bắn sẻ. Tại MAC.V có một số TQLC thuộc Đại đội 1/5. Anh ta không thể tin được quang cảnh nơi nầy đang chờ anh: Walter Conkrite, bu chung quanh là một đám phóng viên báo chí và quay phim, đại tá Hughes đang đứng trước một máy vi âm. Ông ta phủ nhận việc TQLC có hành vi cướp bóc và cho biết họ đã làm hết sức mình để bảo vệ dân thường, v.v… Berntson nghĩ ông ta đúng đấy. Chúa ơi! Sau những hành động tàn ác của Cọng Sản thì TQLC là những ông thánh. Sau khi đạn súng cối bắn cháy một ngôi nhà, chính anh ta thấy TQLC chạy vào nhà để cứu một bà già Việt Nam, cũng chính anh ta thấy một y tá TQLC đã cứu một em bé gần tòa Hành Chánh trong khi súng đang nổ dữ dội. Và cũng chính anh ta thấy TQLC chia nhau chai rượu, miếng đồ ăn và đôi khi là máy ghi âm, máy ảnh. Tuy nhiên, bên cạnh những người chết đang nằm quanh đó, cũng thật là lạ nếu như còn ai đó quan tâm tới những thứ tài sản tầm thường đó.

    Cuối cùng, anh ta rời chỗ ông đại tá cùng với đám phóng viên, đi tìm khẩu phần lương khô buổi tối và những y tá thuộc Đại Đội 2/ 5 mà anh từng quen. Họ tìm một chỗ xa đám người đang chen lấn nhau ở chỗ phỏng vấn. Họ ngồi trong góc phòng, nghe tiếng mưa rơi trên mái nhà, nói chuyện nhỏ với nhau, chia nhau mấy điếu thuốc lá mà một y tá xoáy đâu đó. Xong họ tuyên bố có quyền hưởng hai cái giường nhỏ mà anh y tá tìm ra trong một phòng nào đó để ngủ qua đêm. Nếu như có ai muốn đuổi họ ra khỏi những cái giuờng nầy thì họ sẽ bảo anh chàng ấy phải lên giây cót cho căng mới làm được. Berntson nghĩ chắc ngủ được vài giờ đồng hồ trên cái giường khô ráo ấy, nhưng vì hai cái giường nầy lấy từ phòng bên cạnh, người ta đã để xác chết lên trên ấy, thành ra có mùi hôi, và cũng làm cho Berntson tưởng tượng chuyện chết chóc không hay.

                Họ đang nói chuyện thì có một TQLC thuộc Đại Đội Delta 1/ 5 vào. Berntson đã gặp anh ta hôm trước khi Đại đội Delta tạm thời tăng phái cho Đại Đội 2/ 5. Anh ta là người đen, nguyên là trùm một nhóm băng đảng ở Philadelphia, biệt danh Philly Do. Anh ta là xạ thủ súng M-79, mà TQLC thường gọi là tay quấy phá. Philly Dog đi vào, rõ ràng như có cái gì làm cho anh ta hào hứng lắm.

                Anh ta gọi Berntson:

                – “Nầy, anh chàng viết báo, anh có muốn đi với bọn tôi ngược sông Hương không?”

                – “Anh nói chuyện quái quỷ gì vậy?”

                – “Có chiếc tốc đỉnh kéo mấy chiếc ghe theo đưa chúng ta đi khỏi đây. Tôi và toàn thể đại đội đi ngược sông và đổ bộ lên đâu trên ấy, đá đít mấy thằng dơ dáy ra khỏi đây.”

    -“Ai đi?” Berntson hỏi.

    -“Đại đội Delta, thêm một nhóm bên Đại đội Alpha. Có thêm lính VNCH. Chúng nó chẳng làm gì tốt.”

                Berntson suy nghĩ: “Ngủ lại đây qua đêm với các xác chết hay đi theo Đại Đội Delta 1/ 5 tấn công vào Thành Nội.” Anh ta chọn cái sau, lôi ra một thứ kiếm được: Bản đồ thành phố Huế dành cho du khách tìm thấy trong đống gạch vụn ở cơ quan CORDS. Anh nhìn vào khu Thành Nội. Muốn tự tử hay sao mà vượt qua sông Hương chỗ gần bờ thành. Anh ta vạch ra một con đường đi theo hào thành, vượt qua được vị trí quân CSBV rồi từ trên mà tấn công xuống. Biết việc ấy có khó khăn, nhưng anh ta cũng đã thấy lá cờ Việt Cộng treo trên cột cờ Ngọ Môn đã hai tuần lễ và thấy thích thú nếu như hạ lá cờ ấy xuống được. Philly ở bên cạnh anh, tuồng như cùng hứng thú về việc đó.

                Philly Dog lại nói với anh ta:

                – “Nầy! Anh đi với tụi nầy, có muốn thành tay súng M-79 không?”

                – “Không.”

                – “Tôi đang kiếm thêm một xạ thủ M-79 nữa. Tôi giữ phía bên nầy, tại sao anh không giữ phía bên kia. Anh bắn M-79 được mà.”

    - “Ấy, chắc chắn rồi. Tao bắn M-79 được. Berntsonừng bắn M-79 chính xác nhiều lần.”

                Philly Dog đi tìm một cây súng M-79 khác, áo vét đựng đạn rồi họ cùng đi.

    &

                Trời tối đen, khoảng nửa đêm. Lúc đó, Đại đội Delta tập trung ở bến tàu. Khoảng mấy phút, có chiếc tốc đỉnh (chiếc nầy thuộc loại tàu PT của Hải quân, gắn đại liên 50) bì bỏm vào bến, đèn tắt hết, kéo theo ba chiếc thuyền gỗ của người Việt. Cột buồm và mui thuyền bị gở hết để lính có thể ngồi chen chúc trong thuyền. Tàu đi vào một cái hào rộng có một chiếc tốc đỉnh khác đi sau để hộ tống. Berntson và Philly Dog đi chiếc đầu. Một thủy thủ ngồi xổm đằng sau một công sự trên tàu làm bằng bao cát cao ngang cây đại liên 50 hai nòng. Anh ta ra dấu cho hai người kia núp xuống sau các bao cát. Berntson đứng bên trái, Philly Dog dứng bên phải. Tàu đi dọc theo hào thành, đèn tắt hết, không ai nói chuyện, sợ tiếng máy tàu làm cho địch nã súng xuống. Cái hào hẹp khoảng năm chục mét kể từ bên nầy tới bờ bên kia. Bên phải Berntson có thể thấy dãy nhà dân, cây cối và thuyền bè chen chúc nhau, một con đường phẳng, một nghĩa địa. Bên trái là bờ thành cao, in hình đen lên trên bầu trời đêm. Berntson nhìn chằm chằm lên phía bờ thành, biết chắc rằng mấy thằng con hoang có thể nã đạn xuống anh ta bất cứ lúc nào. Anh ta hy vọng sẽ không có gì xảy ra vì anh ta không biết chắc cách xử dụng cây súng M-79 mà anh đang ghì chặt trong tay.

                Khi họ bắt đầu qua khỏi nghĩa địa thì súng cối nổ. Quân CSBV đặt súng cối khoảng phía ruộng phẳng, bắn vào hào thành. Rồi đạn lửa bay ra xé rách màn đêm đen. Philly Dog la lên: “Bắn đi.” Anh thủy thủ quay cây súng và bắt đầu nhã đạn. Người trưởng tàu tống ga mạnh thêm, chiếc tàu chồm lên phía trước, kéo ba chiếc thuyền gỗ theo sau. Lính TQLC cúi đầu xuống, nắm chặt nhau. Philly Dog nã mấy phát đạn, Berntson cũng nã tiếp theo, chẳng cần nhắm mục tiêu: Mở cơ bẩm, cho đạn vào và đưa cao lên, hướng về phía địch, bóp cò. Họ bắn khoảng mười quả đạn. Chiếc tốc đỉnh hộ tống chạy bên cạnh, giữa họ và bờ phải, hướng mũi súng về phía nghĩa địa nổ ầm ầm.

                Khoảng mười phút, tiếng súng ngưng. Chẳng ai bị thương.

                Trong vòng hai mươi phút kể từ khi họ rời bờ phía nam, đoàn thuyền nhỏ tới cầu tàu, nơi đại úy Harrington đang đợi. Berntson thấy chỗ nầy trông chẳng giống một bến tàu chút nào cả, nó chỉ có mấy cây cột mà người Việt dùng để phơi lưới đánh cá. Chiếc tầu cố vào cho thật gần bờ rồi rút giây để mấy chiếc thuyền gỗ lại, TQLC dùng chèo chèo thuyền vào bờ. Họ lên bờ rồi chèo thuyền lui. Berntson, Philly Dog và các TQLC khác trên tàu lội bì bõm vào bờ. Họ gặp lại đại úy Harrington rồi tập trung trên sân một dãy phố nhỏ. Mặt trời vừa ló dạng ở chân trời. Họ bắt đầu đi vào cửa hậu thành Mang Cá, trên con đường bị pháo loang lỗ, hy vọng không còn bị pháo kích nữa.

                Phía trước, Berntson thấy bên đường có một đống đen lù lù, tới gần thấy rõ hơn, thì ra đó là một chiếc xe GMC bị cháy rụi, ca-bin xe bay mất. Tới gần hơn nữa, anh ta thấy có mùi hôi thối không chịu được. Có năm hay sáu xác lính VNCH nằm quanh xe, có xác nằm ngay bên hông xe, có lẽ là chỗ họ rơi ngay xuống đó. Mấy xác người khác thì cháy thành một đống đen. Có lẽ quá bận rộn nên người ta chưa có thì giờ dọn dẹp chỗ nầy.

                Ít phút sau, có tiếng súng nổ trên đầu, mọi người nằm rạp xuống. Có người la to súng từ lính VNCH bắn. Berntson bắn báo động về phía toán TQLC đi tiên phong. Một thông dịch viên la to bằng tiếng Việt về phía các người lính VN đang núp phía trong doanh trại. Berntson nằm sát đất, tự hỏi: “Nhóm đặc trách liên lạc làm việc quái gì thế nầy.” Hai sĩ quan VNCH xuất hiện ở hàng rào kẽm gai, la to qua lại cùng thông dịch viên. Một thông dịch viên là trung úy TQLC, chầm chậm đi tới hướng cổng, súng lắc lư bên hông, hai tay giang ra. Hai bên trao đổi với nhau ít câu qua hàng rào kẽm gai. Cuối cùng, cổng mở ra, mọi người đi vào.

                Berntson theo đám TQLC đi vào, nhìn quanh bộ Tư Lệnh, thấy một cái sân bóng nhỏ, mấy gian nhà lầu xây, trang trí theo kiểu Pháp, mấy hàng cây cọ, một cái hồ nước trong. Rồi anh ta đi qua phía trái, chỗ tường thành đông-nam giáp ranh với bộ Tư Lệnh. Phía lưng các dãy nhà đều bị đạn phá hỏng. Mọi thứ đều bị vết đạn bắn thủng, mấy chiếc xe bị hư nát kéo bỏ ngoài sân.

                Phía trong, Harrington gặp đại úy Jennings, đại đội trưởng Đại đội Bravo, kể chuyện đơn vị anh ta ở gần cổng thành, bị tấn công lần thứ hai. Anh ta nói: “Chắc ngày mai anh cũng làm vậy thôi.”

                Harrington chẳng thấy gì hơn ngoài lòng tự hào.

                Đại Đội Delta ở lại suốt buổi chiều trong bộ Tư Lệnh, nghỉ ngơi một chút và tổ chức lại, trong khi Đại đội Bravo và Charlie đánh nhau với địch trên đường phố. Trung úy Nelson của Đại đội Charlie bắt được một lính CSBV trốn trên đường. Do đó, bằng xe tăng và súng cối, họ hủy được một vị trí bắn hỏa tiễn của địch, giết sáu tên. Một TQLC thuộc toán hỏa lực cùng Đại đội Bravo của đại úy Jennings bắn hạ hai Việt Cọng nhưng đại đội lại bị địch bắn sẻ, một chết và bốn bị thương. Suốt cả ngày chiến đấu, hai đại đội tiến khoảng được một trăm thước, súng ở vọng lâu trên cổng thành bên trái bắn xuống rất dữ. Thompson ra lệnh cho binh lính rút lui. Pháo binh lại bắn. Trời u ám và mưa nên họ lại nghỉ một chút. Mấy chiếc máy bay phản lực của TQLC bay đến bắn hỏa tiễn, thả bom lửa và hơi cay xuống tường thành. Tất cả đều trúng mục tiêu nhưng rõ ràng phía địch chỉ bị thiệt hại nhẹ mà thôi.

                Qua ngày thứ hai, Đại đội 1/ 5 vẫn chưa có gì tiến triển. Chiều hôm đó, Harrington đến ban chỉ huy tiểu đoàn nằm ở căn nhà lợp ngói bên ngoài bộ Tư Lệnh. Thiếu tá Thompson nói với anh ta ngày mai đến phiên Đại Đội Delta tấn công vào cổng thành.

                Suốt cả buổi sáng, súng đại bác, súng cối và đại pháo Hải Quân từ biển bắn vào ầm ầm. Vọng lâu trên cổng thành rung rinh vì những tràng đạn đại bác bắn yễm trợ. Từng phần vọng lâu bị bắn vỡ rơi xuống chỉ còn lại bức tường đứng chơ vơ. Cát gạch ào ào đổ xuống trên đường. Những ngôi nhà cạnh cổng thành trở nên bình địa hay chỉ trơ lại bốn vách tường. Mưa dầm vẫn từ trên bầu trời xám rơi xuống khiến máy bay phản lực không hoạt động được. Harrington đã thấy một lần oanh kích khi đại đội anh ta còn ở khu Huế-nam, tiến hành càn quét địch cùng với đại úy Christmas nay đã bị thương. Đại Đội Delta đã đánh dẹp được một khu vực, khi hai chiếc phản lực F-4 bất thần bay đến bỏ bom khu vực đó, xa chỉ khoảng năm trăm mét, chẳng có sự hợp đồng nào hết. Tuy nhiên, cái vọng lâu trên cổng thành bị đánh phá hư hại thêm.

                Mưa và gió lạnh. Các binh lính TQLC nôn nóng chờ đợi tại ban chỉ huy. Cuối cùng, cuộc pháo kích chấm dứt, Harrington ra lệnh tiến tới. Hai trung đội của đại đội Delta tiến trước, dọc theo hai bên đường. Họ khom mình xuống, vượt qua các đống vữa, gạch, gỗ vương vải khắp nơi. Từ trên vọng lâu, súng AK-47 bắn xuống. Trung sĩ Berntson cùng với cọng sự của anh ta, trung sĩ Dye và một người trong tiểu đội, đi men bức tường lỗ chỗ đạn. Súng nổ từ phía trước và hai bên, các TQLC đi đầu lật nhào. Berntson và Dye cùng với mấy TQLC nép sát vào bờ thành. Đạn bắn kêu lụp bụp vào gạch và xi-măng quanh họ. B-40 nổ. Mảnh đạn cùng gạch đá bay lung tung. Các TQLC đi đầu gọi to y tá. Dye ló đầu lên một chút, thấy mấy cái bóng nhỏ núp phía sau vọng lâu đã bị sập. Có một tên địch ló đầu cao lên, đang xử dụng một cây súng tự động, hai bóng người lấp ló hai bên, đang nã hỏa tiễn xuống khiến binh lính TQLC nằm im không nhúc nhích được.

                Một chiếc xe tăng ầm ầm chạy lên. Đại bác 90 ly nổ. Súng CSBV ngưng bắn một chốc. Lợi dụng cơ hội nầy, Berntson, Dye và mấy TQLC phóng lên phía trước. Họ nắm lấy mấy người TQLC bị thương, cột giây vào áo giáp, vào chân, cổ tay rồi họ phóng lui chỗ bờ thành gần nhứt để núp. Súng đại bác trên chiến xa vẫn nổ, họ lựa cách kéo mấy người bị thương và chết vào sát bờ thành. Một anh y tá trẻ có gắn hình con nhện độc tarantula bằng cao su trên mũ sắt, vội vàng băng bó hết người nầy đến người nọ.

                Chiếc xe tăng tiến lên gần hơn, xạ thủ trên pháo tháp bắn đại liên 50 về phía địch. TQLC đẩy mấy người bị thương lên xe. Người y tá nhảy lên theo. Chiếc xe tăng rú ga quay xuống đường chạy về phía trạm cấp cứu.

                Tiểu đội tiếp tục tiến tới. Khẩu đại liên ở vọng lâu trên cổng thành lại nổ lạch cạch. Các TQLC nằm rạp xuống hay núp trong các lỗ hõm bên bờ thành. Dye nhìn xuống đường thấy hai TQLC đang chuẩn bị một cây đại bác 3.5inch để bắn. Súng nổ quanh họ khiến họ phải nhảy qua bên nầy đường. Họ nạp đạn vào súng rồi nhưng không thấy rõ mục tiêu nên không bắn được. Họ lại phóng qua bên kia đường, nhưng Dye và các người khác la to biểu họ cứ ở bên ấy. Họ chạy xuống đường, đạn rớt chung quanh, tự lấy súng 3.5 để bắn lấy, bắn ba phát, cây súng trên vọng lâu im tiếng.

                Lawhorn và tiểu đội của anh tiến tới từng tấc đất một. Anh ta trụ lại nơi trú ẩn trong khi đạn từ phía quân CSBV bắn vèo vèo qua đầu. Anh ta lại tiến xuống đường. Các TQLC khác bò phía sau các bức tường gạch và các ngôi nhà đổ nát, vừa bắn như mưa vào vọng lâu trên cổng thành vừa tiến tới. Lawhorn lùi lại, chạy và trượt chân, phóng tới chỗ núp sau bức tường gạch kế cận. Anh ta lại té, mồ hôi toát ra, thở không ra hơi. Anh ta thấy sợ, đạn và mảnh đạn bay tung tóe khắp nơi. Mọi người hô xung phong, bắn như điên. Anh ta chẳng biết có chuyện gì phía trước, sau lưng, ai bị thương, ai còn sống. Lawhorn ló đầu lên khỏi vách tường, nhìn qua lớp gạch vữa, tới nóc mái nhà phía trước. Anh ta thấy địch di chuyển qua đống gạch vụn trên vọng lâu, quăng các băng đạn AK rỗng về phía anh ta rồi lắp băng đạn mới. Chưa bao giờ anh thấy vậy. Chúa ơi! Mấy thằng xỏ lá láu cá. Cái vọng lâu cách khoảng một trăm mét phía trước nhưng Lawhorn tưởng như xa cả trăm dặm. Anh ta nắm cây M-16, bắn như điên vào mấy cái bóng nhỏ trên đó.

                Đại úy Harrington cùng với Trung đội 1 chạy lom khom qua đống gạch ngói vụn. Trong những phút tấn công đầu tiên, vì trung đội trưởng Trung đội 2, một trung sĩ và hiệu thính viên bị thương vì đạn B-40, nên trung đội lộn xộn. Anh ta chỉ còn Trung đội 1 ở bên trái. TQLC tiếp tục bò gần tới vọng lâu trên cổng thành. Cuối cùng, Harrington lọt vào được trong một ngôi nhà đã bị bom phá hủy ở ngay ngã tư đường, sát cổng thành. Anh ta gọi điện yêu cầu súng cối ngưng bắn vì binh lính của anh ta tới sát mục tiêu. Một tràng đạn bắn vào căn nhà anh đang núp, gạch đá gỗ bay lung tung. TQLC núp trong nhà tiếp tục bắn. Harrington gọi một xe tăng lên trợ chiến. Tiếng xe chạy rầm rầm bên cạnh ban chỉ huy tạm của anh ta. Trưởng xa tiếp xúc với anh bằng truyền tin, bắn ầm một phát đại bác theo hướng anh ta chỉ.

                TQLC bắn như mưa lên vọng lâu. Quân CSBV không còn bắn căng như trước.

                Trung đội 2 lúc nảy không người chỉ huy bây giờ được sắp xếp lại, do viên trung sĩ bị thương chỉ huy. Anh nầy là trung sĩ thuộc ban tham mưu, rất can đảm, tên là Robrt L. Thoms, cho trung đội tiến lên hỗ trợ cho Trung đội 1. Harrington gọi điện cho thiếu úy Jack S. Imlah, ra lệnh anh nầy đem một nhóm binh sĩ bò sát vách tường, tiến lên phía sau vọng lâu, trong khi Harrington cùng toàn thể Trung đội 1 và Trung đội 2 tấn công vào mặt tiền quân CSBV. Imlah đem một tiểu đội tiến theo bờ thành đông-bắc, tìm đường vượt qua các đống gạch vụn và hàng rào làm bằng cây xén, quăng lựu đạn vào toán quân CSBV đang đang lom khom phía sau các lỗ tường để bắn sẻ. Vừa bò, vừa chui, TQLC tới phía sau vọng lâu. Phía dưới đường, trung sĩ Dye bất thần nghe tiếng la to: “Chúng nó vào được bên trong.” Vô số kể tiếng M-16 nổ bên trong vọng lâu. Rồi lặng im.

                Harrington và lính của anh ta tiến tới cửa thành, trong đám khói thuốc súng và gạch cát mù mịt. Có xác chết địch trong đám gạch cát đổ nát ấy, có xác chết đã hai ba ngày trước, cứng đơ và sình, hôi thối khó chịu. Sau gần ba tiếng đồng hồ tấn công, bây giờ TQLC mới chiếm được vị trí. Harrington ra lệnh cho binh lính rút khỏi đống gạch ngói và họ bắt đầu chuẩn bị vị trí ngủ qua đêm trong những căn nhà đã bị đạn bắn hư hỏng ở gần cửa thành.

                Vọng lâu trên cổng thành là một địa điểm quan sát tốt. Đứng ở đây người ta có thể thấy rõ phía ngoài Đại Nội. Vì vậy, binh nhì Dennis S. Michaels, 21 tuổi, thuộc Trung đội 1 được lệnh chỉ huy một toán 5 người lên đó. Chờ trời tối, họ tìm đường lên vọng lâu trên cổng thành, tìm một cái hố giữa đống gạch đá ximăng để canh phòng qua đêm.

                Trời đen như mực – khoảng hai giờ sáng – bốn quả lựu đạn được quăng vào điểm quan sát. Quân CSBV xâm nhập. Một trái rơi vào lưng Michaels đánh huỵch một tiếng. Một trái khác rơi trúng chân. Anh ta sợ quýnh lên, nhìn vào hai trái lựu đạn, hoảng hốt cầu nguyện. Lựu đạn không nổ. Một anh TQLC khác thì chụp ngay hai trái lựu đạn ném ngay ra ngoài. Một trái khác nữa, nổ, khiến hai TQLC bị thương. Họ bò ra phía ngoài và bắn về phía địch quân đang bò qua các đống gạch vụn.

                Tại các ngôi nhà bên dưới, đại úy Harrington lo lắng khi bất thần thấy bóng người chạy quanh bên ngoài vọng lâu. Khoảng gần một trung đội quân CSBV nổ súng AK vào vị trí của toán Michaels và xuống vị trí của Harrington. Các lằn đạn lửa xanh đỏ bay chéo nhau trong bóng đêm. TQLC cố kìm toán CSBV giữa hai vị trí của họ. Địch vẫn bắn. Một phát đạn đại bác không giật của quân CSBV nổ trên mặt đường đi lên vọng lâu. Michaels và toán anh ta nằm rạp xuống vị trí tránh đạn. Có bóng người chạy lom khom trong đống gạch. Michaels lại thấy có một bóng đen nhỏ hiện ra trên rìa cái hố của anh ta, ném hai trái lựu đạn rồi biến mất. Hai trái nầy bị lép. Michaels cũng còn ngồi ngay tại chỗ, cám ơn Chúa!

                Súng còn nổ qua lại một lúc nữa, nhưng tới sáng thì ngưng hẵn. Toán của Michaels bò ra khỏi chỗ núp. Có khoảng 15 xác quân CSBV bỏ lại giữa hai vị trí của Michaels và Harrington. Chẳng có thì giờ để đếm xác. Pháo binh lại nổ, dọc theo tường thành, xa hơn một chút dọc theo con đường dài mà lá cây cau bị đạn xén như xắt lát vậy. Mấy chiếc xe bỏ hoang. TQLC lục soát quanh vọng lâu rồi tìm chỗ núp, hút thuốc và lấy muỗng nhắm phần C lương khô lạt lẽo, chờ khi pháo binh ngưng thì lại tiến tới.

                Điều đầu tiên thiếu tá Thompson chú ý hôm thứ Sáu ngày 16 tháng Hai là thời tiết. Hôm ấy trời tốt, không có nắng nhưng đủ sáng để máy bay phản lực oanh kích vài phi xuất, bỏ bom dọc tường thành, nghiền nát địch, rồi thả bom lửa. Hải pháo lại tiếp tục nã đạn vào. Các đại đội bộ binh tiến lên, giành thêm khoảng 150 mét.

                Cuộc chiến đã qua ngày thứ tư, đánh nhau từ bình minh cho tới hoàng hôn.

                Quá chiều, Thompson đang ở tại ban Chỉ Huy liên lạc truyền tin với Đại Đội Alpha. Họ lại gặp khó khăn. Đại đội nầy chưa được tăng cường đầy đủ sau ngày binh sĩ bị hao hụt hôm 13 tháng Hai. Đại úy Bowe bị thương và di tản, thêm nhiều người khác chết và bị thương, binh sĩ mất niềm tin nên Thompson cố giữ họ làm thành phần trừ bị, không tham gia những trận đánh chính. Một toán TQLC của Đại Đội Alpha tiến gần bờ thành khu Đại Nội thì bị cắt đứt và cầm chân. Vài người bị thương, chẳng có một ai trong Đại đội Alpha – gồm cả viên trung úy quyền đại đội trưởng trở lui được phòng tuyến bạn.

                Thompson đang cố vạch kế hoạch đem họ ra khi trung úy Patrick D. Polk vừa tới ban chỉ huy. Trung úy Polk gầy, cao, tóc vàng, sắp quá tuổi 21, quê ở Oshkosh, tiểu bang Nebraska. Anh ta là một người trẻ hết sức yêu nước mà thân sinh là một TQLC trong Thế Giới Chiến Tranh Thứ Hai. Hai người anh từng phục vụ ở Việt Nam. Anh ta là một sĩ quan tác chiến tuyệt hảo, hai lần bị thương, cá nhân hạ nhiều địch khi giữ nhiệm vụ trung đội trưởng ở Đại đội Charlie 1/5 và là sĩ quan liên lạc tiểu đoàn với binh đoàn TQLC Rồng Xanh của Nam Triều Tiên. Anh ta đã tới ngày về nước, nhưng vẫn còn hoạt động hâu tuyến, giữ nhiệm vụ phụ tá sĩ quan hành quân cho Đại đội 1/5.Đang ở Phú Bài thì anh được lệnh đưa một nhóm TQLC đi Huế. Mặc dù anh có thể từ chối vì đã đến ngày hồi hương nhưng anh ta lại đồng ý đi; viết thư cho bố mẹ, xin họ cầu nguyện cho anh ta, rồi lên xe cùng với một toán binh sĩ tạp nham phần nhiều là binh sĩ mới ra viện còn đi đứng được, TQLC mới đi phép về và một xe vận tải. Biết rõ số binh sĩ, và là sĩ quan duy nhứt, Polk xem xét lại các trường hợp phải xử dụng lựu đạn. Họ tìm đường vào Thành Nội. Polk bơi qua hào thành cùng với lựu đạn cầm tay (nên có biệt danh là Polk lựu đạn cầm tay). Các TQLC khác theo anh ta, chỉ bị bắn chút ít, rồi họ bắt đầu tìm tới Đại đội 1/5.

                Đối với thiếu tá Thompson, sự xuất hiện của Polk làm ông ta mừng như được của trời cho. Ông ta giải thích ngắn gọn tình hình đại đội Alpha cho Polk nghe. Viên trung úy không thiếu can đảm nhưng rõ ràng tình hình đó vượt quá khả năng anh ta. Anh ta được giao nhiệm vụ chỉ huy Đại Đội Alpha và tìm cách cứu các TQLC đang bị mắc kẹt. Polk tới đại đội mới bằng một chiếc xe do một TQLC da đen ngang tàng lái, chạy ào vào giữa trận tuyến. Binh sĩ Đại đội Alpha đang trụ lại trong vị trí của họ và chẳng ai nghĩ ra cách nào để phản ứng đang lúc bị địch cầm chân.

                Thompson báo tin cho sĩ quan chỉ huy biết việc Polk giữ chức đại đội trưởng. Polk là trung úy mới thăng chức. Người anh ta thay thế là một sĩ quan trẻ mang lon sớm hơn anh ta một tháng, bối rối không biết tại sao anh ta bị thay. Dù sao, Polk cùng đã gặp binh sĩ và khuyến khích họ có sáng kiến, đừng than van khó khăn đang gặp mà phải khẳng định: “Mẹ kiếp, tao phải đưa binh sĩ ra khỏi đây.” Vài người sẵn sàng muốn đi, vài người còn lưỡng lự. Cuối cùng, có tám người tình nguyện: một trung sĩ tham mưu, một hạ sĩ súng cối và hiệu thính viên, một tiểu đội trưởng và toán hỏa lực của anh ta.

                Polk và toán của anh tiến lên, vừa bắn vừa mở đường, toán còn lại vẫn nằm tại chỗ để bắn che. Họ tiến vào một căn nhà đúc. Khoảng hai chục thước phía trước là toán TQLC đang bị mắc kẹt, nằm kê lưng với nhau dọc theo bức tường gạch. Họ có 5 người, bốn bị thương. Từ phía hàng cây bên kia, quân CSBV đang bắn qua đầu họ. Polk gọi súng cối 81 ly bắn tới, quân CSBV ngưng nổ súng. Polk và binh sĩ của anh chạy xông tới, kéo mấy người bị thương lui lại ngôi nhà đúc. Tới hoàng hôn, tất cả họ an toàn trở về phòng tuyến cũ.

                Họ đã cứu được người bị thương mà không ai bị thương thêm. Sau vụ nầy, Thompson thấy tinh thần họ thay đổi, tin tưởng trở lại, có cấp chỉ huy giỏi. Khoảng một tuần sau, Polk bị mảnh súng cối ở cổ và vai, nhưng anh ta vẫn ở lại với Đại Đội Alpha.

                Đại đội Delta bắt đầu một ngày di chuyển bên phải để hỗ trợ cho Đại đội Alpha. Quân CSBV đục lỗ bên vách tường dọc theo các tòa nhà, các vách tường bọc sân trong và bệnh viện (Thành Nội – ngd) để làm chỗ núp tác xạ. Các TQLC bò từ nhà nầy qua nhà khác, bắn, quăng lựu đạn vào từng vị trí một của địch. Họ kéo mấy xác chết Cọng Sản ra khỏi các lỗ tường đục đó, quăng súng AK-47 của họ bên cạnh xác chết, tiếp tục di chuyển theo bờ thành, vượt qua một vọng lâu bị đổ nát.

                Họ tiến qua từng nhà, trong khi quân CSBV bắn vào mặt tiền đại đội, làm cho TQLC bị thương vài người, nên phải đưa số binh sĩ còn lại lên bắn che. Trung sĩ Dye núp trong một căn nhà bên trái con đường trong khi có người gọi to y tá. Anh ta thấy y tá Rhino, một anh chàng to con, tóc đỏ, ít nói, núp sau một cánh cửa, chuẩn bị phóng lên dưới lằn đạn để tới chỗ người bị thương. Dye hoảng kinh khi thấy anh ta gục ngay khoảng giữa đường anh đang vượt qua. Rhino cố trườn mình tới. Vừa chống tay và đầu gối để vươn chạy thì một loạt thứ hai nổ, bắn gục anh ta xuống vỉa hè.

                Lawhorn nghe tiếng la “Rhino chết rồi”. Anh ta bị xúc động và không tin. Y tá Rhino, đối với toàn bộ binh lính trong trung đội, có ý nghĩa: Không bao giờ bỏ lơ đồng đội. Bây giờ anh ta bị địch giết chết. Một trong những TQLC biết rõ Rhino bỗng nhiên đứng thẳng dậy, bắn như điên về phía địch, vừa bắn vừa la. Lawhorn choáng váng nhìn người lính bắn hết một băng đạn qua bức tường gạch về phía địch, la to lên và run rẩy đến khi hai binh sĩ khác nắm lấy anh ta kéo xuống. Lawhorn không bao giờ thấy người ấy nữa.

                Mấy phút sau, hai TQLC chạy băng qua lằn đạn, kéo xác Rhino về chỗ ban chỉ huy trung đội. Họ không thể bỏ anh ta lại đây được. Đại úy Harrington đề nghị tưởng thưởng cho anh ta Hải Quân Chiến Công Bội Tinh, nhưng trước khi chết, anh chưa nhận được huy chương.

                Trước khi nghỉ qua đêm, Dye cùng ba người trong toán hỏa lực thuộc Đại đội Delta đi tuần thám các ngôi nhà bị đạn hư hại phía tây bờ thành. Họ bắt đầu đi quanh qua ba đống gạch đổ. Nhìn qua phải, Dye bỗng giật mình thấy một lính CSBV nằm sau đống đất đắp cao, một tay thì để trên cây súng AK-47, mắt mơ màng nhìn vào khoảng không. Dye đưa cây súng M-16 lên và bắn một tràng. Hai TQLC khác đang núp quanh đó bắn bồi thêm. Người lính CSBV oằn người xuống quằn quại.

                Họ vừa tiến đến gần xác chết, vừa nói thầm thiệt là may mắn. Anh ta có thể bắn họ trước. Họ đá cái xác chết qua một bên và tò mò nhìn vào chỗ người lính nằm. Chúa ơi! Cái gì của anh ta đây? Anh lính Cọng sản nầy gặp chuyện gì đây?

                Một lát sau họ thấy câu trả lời. Nơi nầy có nhiều lỗ vách tường đục. Có mấy xác Cọng Sản bị TQLC bắn chết. Khi họ nhìn vào những cái lỗ và mấy cái gói, họ tìm thấy nhiều gói đựng chất gì màu trắng như đường. Nhìn kỹ, hóa ra bạch phiến. Họ tìm thấy ống chích, diêm quẹt, muỗng cong có dấu bị cháy xém dưới đít, thứ giống như của một nhóm dân thành phố nghiện ma túy. CSBV luôn luôn chiến đấu một cách tài tình, và Dye không thể nào hình dung ra tại sao một số người trong bọn họ chiến đấu hết sức chai lì dù biết họ sẽ bị đánh bại hoàn toàn. Cuối cùng, Dye nhìn ra câu trả lời: Họ biết họ không có cơ may chạy trốn. Họ biết họ sẽ chết.

                Giả thuyết của trung sĩ Dye có thể đúng.

                Vào lúc 9giờ 50 tối, đêm 16 tháng Hai, thiếu tá Thompson nhận được điện của đại tá Hughes. Bức điện viết:

    “Tin nhận được từ tin điện của địch cho biết, chỉ huy trưởng lực lượng địch tại Huế gởi cho các chỉ huy cao cấp biết rằng chỉ huy trưởng cũ đã chết, nhiều chỉ huy khác hoặc bị giết, hoặc bị thương. Họ đề nghị nên rút lui nhưng viên chỉ huy cao cấp ra lệnh cho chỉ huy trưởng mới của lực lượng tại Huế vẫn giữ vị trí và chiến đấu.”

    Chương 8: Thành Nội – Phần Hai: Đại Nội


    Chàng lính trẻ, phía sau là cửa Thượng Tứ vào Đại Nội, Huế

                Ban chỉ huy tiểu đoàn đóng bên ngoài Mang Cá, trong một biệt thự xây theo kiểu trang trại của người Norman dễ làm cho người ta nhớ lại khung cảnh của một phần tư thế kỷ trước. Có đèn cầy và bát hương trên bàn thờ, mấy chai rượu vang đặt trên một cái kệ đã bị hỏng và đầy bụi. Một cái thánh giá to nặng có trang trí treo trên vách tường.

    Thiếu tá Thompson ngồi trong gian nhà nầy, mơ hồ nghe những ngọn gió lạnh và súng nổ chung quanh, nhìn đi nhìn lại bản đồ Đại Nội. Ông ta và ban tham mưu cố gắng thực hiện một nhiệm vụ khó khăn: Làm thế nào để đánh bật một lực lượng cố thủ một cách vững chắc trong Đại Nội mà binh sĩ không phải hy sinh nhiều. Chẳng có cách nào khác. Thompson nghĩ: Tình thế thật căng thẳng, một tình thế gay go và hao tổn không ít cho đơn vị.

                Trận tuyến hầu như có lợi thế cho quân CSBV. Thành Nội là nơi phòng thủ hoàn hảo. Nhiều dãy nhà Tình thế thật căng thẳng, một tình thế gay go và hao tổn không ít cho đơn vị.

                Trận tuyến hầu như có lợi thế cho quân CSBV. Thành Nội là nơi phòng thủ hoàn hảo. Nhiều dãy nhà một tầng, vách tường dày nằm thành từng hàng liền nhau, ở giữa là những con đường hẹp, hoặc là các con hẽm, xe tăng hay xe thiết giáp khó hoạt động. Sân thì có tường bao quanh, nhiều cây già gốc to, có hàng rào, cách xa khoảng hai chục mét là không thấy được rõ. Bức tường thành phía đông-bắc bên hông trái của lực lượng TQLC được xây bằng gạch, thành đất, chạy thẳng lên đầu thành, lại có tường góc lan can, thỉnh thoảng có nhiều bụi rậm, nhiều cây cối. Quân CSBV chiếm khu nầy đã hai tuần, chuẩn bị sẵn chiến trường để chờ TQLC tới. Khu Thành Nội thuận tiện cho họ. Họ đào hầm kiểu hang chuột dọc theo bờ thành đất và hàng rào, có nhiều cửa sổ hay gác nhỏ để núp ở đó bắn lén được. Họ đào chỗ ẩn núp trên tường thành, có hàng trăm chỗ ngụy trang một cách tự nhiên, khó phát hiện và họ hỗ trợ tác chiến cho nhau được. Có nhiều vị trí vững chắc, nhiều vị trí đặt súng máy tốt có thể cầm chân toàn cả đại đội TQLC.

                Phía ngoài Thành Nội, bên kia hồ sát bờ thành đông-bắc, quân CSBV chiếm nhiều ngôi phố lầu bốn hay năm tầng. Từ ngoài phố đó, họ có thể bắn qua đầu bức thành để che cho binh lính họ. Phía trước TQLC và bên phải là Đại Nội đã bị CSBV chiếm và cột cờ Ngọ Môn, có lá cờ Cộng Sản treo trên cao. CSBV đặt súng cối trong Đại Nội, đặt súng máy trên đầu tường cao bắn xuống mà TQLC khó phản ứng mạnh được. Lệnh ban ra thì cấm làm hư hại cung điện có tính lịch sử và tinh thần dân tộc mạnh mẽ. Tuy nhiên, Quân Đội VNCH thì được phép bắn súng cối vào Đại Nội nhưng họ lại thiếu hợp đồng tác chiến toàn diện với TQLC/ HK khi thực hiện cuộc tấn công nầy.

                Thời tiết cũng chẳng thuận lợi gì. Cơn lạnh kéo dài, mưa phùn, mây thấp, hạn chế không yễm. Máy bay phản lực không hoạt động được và trực thăng khó bay vào ra Bộ Tư Lệnh Sư đoàn 1/ BB, là nơi có bãi đáp trực thăng. Hàng tiếp liệu không đến được, thương binh khó chuyển đi. Chỉ còn một phương tiện di chuyển duy nhất là tàu, nhưng CSBV chiếm nhiều vị trí dọc sông đào và sông Hương, làm cho việc vận chuyển của Hải Quân gặp khó khăn. Các TQLC tử trận bị kẹt lâu dài trong thành Mang Cá, người bị thương nặng phải chờ, chỉ có những người bị thương nhẹ, được băng bó xong lại ra đơn vị.

                Tuy nhiên, Thompson và Hughes thành công trong việc đề nghị bải bỏ lệnh hạn chế hỏa lực. Phụ tá tướng Wesmoreland là tướng Creighton Abrams, ngày13 tháng Hai, thiết lập thêm một bộ Chỉ huy Tiền phương của MAC.V tại Phú Bài, đồng ý cho III MAF đưa loại đại bác Howitser 8 inch tới Phú Bài rồi đem xử dụng ở Huế. Tướng Oscar E. Davis, Phụ tá Tư Lệnh Sư đoàn 1 Không kỵ, vào cuối trận đánh, thiết lập một văn phòng trong Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 1/ BB để điều hòa hỏa lực hỗ trợ giữa TQLC Mỹ, Quân Lực Mỹ, Quân Lực VNCH và TQLC Việt Nam. Tuy thế, vẫn còn nhiều vấn đề. Hỏa lực Hạm đội 7 ngoài biển Đông Hải (bắn xa 26 ngàn yards) hết sức chính xác nhưng đạn lại rớt bên ngoài khu thành đông-bắc hoặc sái mục tiêu hàng trăm thước. Chỉ có pháo binh bắn từ Phú Bài bằng các loại đại bác 8 inch và 155ly, hầu hết là của các đơn vị 1/11 và 2/11, với khoảng cách 8 dặm là chính xác. Các đại bác 8 inch bắn rất trúng mục tiêu (Đại úy Harrington điều chỉnh cho nổ cách vị trí của anh ta chỉ có 25 mét, và các sĩ quan của anh ta, ở trên các nhà cao tầng hai bên hông đường tiến quân cũng điều chỉnh cho bắn rất chính xác). Tuy nhiên vị trí của Đại đội 1/ 5 nằm ngay trên đạn đạo, khá nguy hiểm. Do đó, hai đại đội nhiều khi tiến cách nhau có mấy thước. Tiền sát viên khôn khéo và láu lĩnh khi gọi pháo binh tác xạ. Nhà cửa dày đặc làm cho họ nhiều khi không thể quan sát viên nạn nổ mà lại đoán chừng bằng cách nghe tiếng nổ mà thôi; phương pháp nầy thiếu chính xác. Các đơn vị súng cối 81 ly cũng bắn hết sức chính xác, nhưng với loại đạn súng cối, địch quân trốn tránh trong các hầm hố không tác hại gì. Hai toán súng cối 4.2 inch của đơn vị Whiskey 1/11 đặt ở MAC.V bên kia sông Hương bắn trúng vị trí địch trong Đại Nội, nhưng việc tiếp tế đạn lại khó khăn.

                Trên bộ, hỏa lực của TQLC thuộc quyền thiếu tá Thompson chỉ huy đạt vài thắng lợi. Bốn chiến xa hạng nhẹ có trang bị đại bác và các toán đại bác 106 ly không giật của tiểu đoàn luôn luôn ở tuyến đầu, hỗ trợ cho bộ binh. Trung đội 3 của Đại Đội Alpha và Chi Đoàn Chiến Xa số 1 do trung úy Ronald Morrison, một người rất can đảm, chỉ huy, gồm tám chiến xa M-48 đạt thành công lớn. Suốt ngày, và trong toàn bộ trận đánh, các chiến xa nầy đến ngay các vị trí do Thompson yêu cầu. Trung úy Morrison, người được thưởng Anh dũng Bội tinh Ngôi Sao bạc vì những chiến công của anh, xử dụng chiến thuật từng cặp: Một chiến xa nhỏ hoạt động kèm một chiến xa lớn mỗi khi bộ binh yêu cầu hỗ trợ. Các chỉ huy bộ binh báo cáo ngắn gọn cho người chỉ huy chiến xa biết vị trí địch. Vậy là chiến xa tiến lên ngay phía trước, có bộ binh bắn yểm trợ để nã đại bác 90 ly vào mục tiêu, rồi chiến xa thụt lùi, nhường chỗ cho chiến xa hạng nhẹ lên, nổ ngay một loạt 6 viên đạn của 6 cây đại bác 106 ly không giật, làm cho mục tiêu hoàn toàn tê liệt. Tuy nhiên, chiến xa gặp khó khăn khi di chuyển trên những đường phố hẹp, binh sĩ trên xe dễ chết hoặc bị thương. Trong suốt trận đánh, mỗi chiếc bị địch bắn ít nhất một chục quả hỏa tiển B-40. Mỗi đêm, các chiến xa nầy lại rút về thành Mang Cá, sửa chữa, tiếp tế và trang bị để sáng hôm sau lại lên đường tiếp tục chiến đấu.

                Bên cạnh vấn đề địa hình, thời tiết cũng như tất cả những trở ngại khác, vấn đề khó khăn của cuộc chiến trong Thành Nội thực ra là binh lính CSBV. Họ được trang bị tốt và tiếp tế đầy đủ, và họ cũng là những người lính can đảm. Có nhiều phúc trình của Quân Đội VNCH cho biết có 3 lính CSBV bị giết khi họ bị xích chân vào nhau và vào cây đại liên của họ. Dẫn một trong những tù binh CSBV về ban Chỉ huy, vài TQLC nói với Thompson họ thấy người nầy không hoàn toàn tỉnh táo, bị bắt khi đang núp ở trong hố cá nhân. Anh CSBV nầy bị thương vài lần, vết thương nhiễm độc và hôi thối, và có thể chết ngay nếu TQLC không tìm thấy anh ta kịp thời. Thompson suy nghĩ: CSBV không quan tâm đến cái giá họ phải trả. Đó là điều thấy rõ trong cuộc đụng độ đẫm máu ở Thành Nội. Đối với TQLC, việc CSBV không quan tâm đến tính mạng binh sĩ của họ cũng chẳng có ý nghĩa gì với họ, nó chỉ làm TQLC thêm mệt mỏi mà thôi. Họ bị tiêu hao khi phải đánh từng nhà, qua những đống gạch vụn, đếm từng tấc đất giành được. Thiếu tá Thompson thất vọng và e ngại, mọi người cũng thế.

                Hỗ trợ cho Đại Đội 1/ 5 trong Thành Nội, và hai tiểu đoàn TQLC khác ở Khu Huế-nam là một sự hỗ trợ có tính giây chuyền của Hải, Lục, Không Quân từ Phú Bài, Đà-Nẵng và ngay cả Saigon, do bộ chỉ huy Sư đoàn TQLC số 1 điều hành, bộ chỉ huy Lực lượng Chiến thuật, bộ Chỉ huy Hoạt động Hỗ trợ Hải Quân ở Đà-Nẵng. Bằng bất cứ phương tiện nào có được như xe tải, trực thăng, thuyền bè, vấn đề tiếp liệu ưu tiên cho các đơn vị TQLC ở Huế là đạn được (1). Trong suốt trận đánh, 104 chuyến vận chuyển giữa Phú Bài và Huế đã được thực hiện, nhiều chuyến bị phục kích ngay trên sông An-Cựu. Mặc dù bị tấn công bằng súng cối và súng thường tại bãi đáp, trực thăng TQLC và quân đội Mỹ đã vận chuyển 525 tấn tiếp liệu và 270 phi vụ, chuyển một nghìn người bị thương và chết. Hầu hết hàng tiếp liệu cho TQLC trong Thành Nội là được vận chuyển bằng tàu đổ bộ LCU, gồm cả súng 106ly không giật cùng với tốc đỉnh hộ tống cho binh lính. Mặc dù bị phục kích và bắn sẽ từ hai bên bờ sông, cản trở việc di chuyển, các thủy thủ đã chuyển vận đến 400 tấn tiếp liệu.

                Cái giá phải trả cho công việc tiếp tế nầy, trong thành phố có sáu chục trực thăng bị bắn hay bị rớt, nhiều chiếc trở về căn cứ với phi hành đoàn bị thương hay chết. Tệ hại nhứt là cho các thuyền Hải Quân di chuyển trên sông Hương. Quân CSBV đã dùng hỏa tiễn, mìn, và phục kích khi tàu vào ra Huế. Sức tấn công của CSBV dày đặc đến nỗi vào đầu tuần lễ thứ ba của trận đánh, tướng Abrams yêu cầu thành lập một toán hải quân hợp đồng tác chiến với các tàu di chuyển trên sông. Do đó, dưới sự kiểm soát của III MAF, lực lượng đặc nhiệm tên là “Dọn sạch Đường Sông” được thành lập, do đại úy Gerald W. Smith chỉ huy. Lực Lượng Đặc Nhiệm gồm thuyền tuần phòng trên sông, trực thăng, máy bay, pháo binh và tuần tiểu bộ. Tuy nhiên, các cuộc phục kích của CSBV không bao giờ hết được. Trên đường vận chuyển tiếp liệu cho Huế, một tàu LCU chở đạn và hai tàu chở nhiên liệu bị bắn cháy.

                Điều quan tâm lớn nhứt của thiếu tá Thompson là binh sĩ của ông. Binh lính CSBV chiến đấu giỏi nhưng TQLC của ông tài giỏi hơn. Đánh cận chiến từng nhà một là một loại chiến tranh của hàng binh sĩ, những người lính trẻ khi được giao nhiệm vụ, xông vào từng nhà như điên, kéo người bị thương hay người chết ra dưới lằn đạn địch, chiến đấu từ ngày nầy qua ngày khác. Trong chiến thuật nầy, cấp chỉ huy ít phải ra lệnh, có đôi khi lầm lẫn; lòng can đảm thì không thể tưởng tượng được. Đại úy Harrington hết sức xúc động vì tinh thần người lính TQLC của hai hạ sĩ trẻ, một người được tưởng thưởng Anh dũng Bội tinh Ngôi Sao bạc, người kia thì Ngôi Sao đồng. Sau khi tiểu đội trưởng của họ bị thương, Harrington buộc chia hai người chiến đấu riêng ra. Cả hai muốn cùng chiến đấu bên nhau trong cùng một tiểu đội.

                Tiểu đoàn trưởng Thompson nói:

    “Tôi không bao giờ quên lòng dũng cảm chiến đấu của hai người bạn trẻ nầy. TQLC chiến đấu rất cừ, không phải hoàn toàn vì tài ba nhưng chính vì lòng can đảm vô cùng của họ, vượt qua những trở ngại không thể tưởng được trong khi hoàn thành nhiệm vụ. Hai người có lòng kiên quyết đáng nể trọng. Tuy nhiên, tôi không thấy bằng chứng nào về sự hèn nhát của họ, ngại ngùng khi thi hành nhiệm vụ. Đại úy Harrington và Đại đội Alpha anh dũng của ông ta đảm nhận vai trò chính trong cuộc tấn công địch. Họ chiến đấu hết khả năng cùng với lòng can đảm đặc biệt.”

                Thompson cho rằng có một TQLC trong trận Huế được coi là biểu tượng cho danh từ Sức Chiến Đấu của người lính TQLC. Anh ta là một thanh niên trẻ người da đen tên là Howard, người có dáng dấp như một công tử, nón sắt thì hay trật lui đằng sau, lưng áo giáp viết câu: “Howard Là Tên Tôi. Rắc Rối Là Trò Chơi Của Tôi.” Anh ta còn ưa đăng báo nữa. Một phóng viên báo chí nói chuyên đó với vài TQLC. Anh ta nói to: “Đưa tên tôi lên báo của anh.”

                –  “Tôi có thể nói gì về bạn?”

                – “Anh viết về hạ sĩ Raymond Howard, 18 tuổi, được biết là “Người Hay Gây Rắc Rối”, quê ở Minette, Alabama, tiểu đội trưởng, Trung Đội 2, Đại Đội Delta, Tiểu Đoàn 1, Trung đoàn 5, sẽ vượt qua sông đá bay tụi nó ra khỏi thành phố.”

                Ở Huế, Howard lái chiếc xe thớt nhỏ tại ban Chỉ huy Đại đội 1/ 5 và Thompson có thể ra lệnh cho anh ta chuyển vận đạn dược tới cho ai hoặc chỗ nào có người bị thương cần di tản. Anh ta gật đầu rồi thi hành, lái xe đi, chở tiếp tế tới cho đồng đội, chở người bị thương về, có khi phải chạy xe tới khu vực hai bên đang đánh nhau hay qua chỗ có thể bị bắn sẻ.

                Một trong các bạn đồng hành với Howard trên chiếc xe thớt nhỏ là hạ sĩ Brian S. Mayer, thuộc tiểu đội súng không giật, Đại đội 1/ 5. Anh nầy cũng 18 tuổi, ít nói, lùn, vào lính ngay sau khi rời trường cấp ba tại thành phố Nữu-Ước, chẳng phải vì anh ta quan tâm gì tới Việt Nam nhưng vì học dở. Anh ta chẳng tham gia đội bóng bầu dục của trường hay hoạt động thể thao gì khác, anh ta chỉ muốn chứng tỏ anh ta có điều gì đó hay, và hình như TQLC là nơi anh ta có thể thi thố được điều anh có.

                Mayer chẳng bao giờ có thể là một TQLC như trong phim ciné, lúc nào anh ta cũng cảm thấy giống như một thằng bé cố làm sao bắt kịp những người chung quanh. Khi còn ở trung học, anh ta làm công việc dọn bàn tại một nhà hàng đôi khi có mấy TQLC đến ăn. Trông họ mạnh khỏe và tự tín, Mayer ao ước được sống như họ. Nhưng sau khi qua khỏi trại huấn luyện, anh ta nghĩ rằng anh ta khó trở thành một TQLC thực sự. Anh ta vẫn còn tự thấy mình là thằng khờ. Cuối khóa huấn luyện, các huấn luyện viên làm một trò cười là cho anh qua giữ máy giặt quần áo. Anh ta được tái huấn luyện làm lính có nghề chuyên môn rồi được lệnh qua Việt Nam. Anh ta sợ tới xương, bèn viết thư cho mẹ và cho dân biểu địa phương nhờ can thiệp. Cuối cùng, anh ta đành bỏ cuộc, sợ rằng người ta cho là điên và làm phiền gia đình.

                Vậy là Mayer lên đường đi Việt Nam, cố gắng sống ngày qua ngày, chấp hành mệnh lệnh chẳng chút thắc mắc, cố gắng làm việc giỏi vì anh không thể sống trong cảnh đơn độc. Nhiều lần đi hành quân ở miền quê, và khi chỉ mới tới Việt Nam có hai tháng, anh đã được thưởng Chiến thương Bội tinh. Tuy nhiên, Mayer nghĩ, chưa bao giờ anh gặp cảnh tệ hại như ở Huế. Đó là nơi tệ nhất. Có khi anh ta nghĩ, mình làm gì ở đây nhỉ? Viên trung sĩ ở ban chỉ huy sai anh ta đi đâu đó, thế là anh nhảy lên chiếc xe thớt lái đi. Đó là cách sống tới đâu hay đó, làm những gì làm được, đi những đâu tới được, bởi chỉ vì là người lính TQLC. Nhưng nó không có nghĩa không biết sợ là gì. Những điều tệ hại bao giờ cũng có thể xảy ra được. Các tay bắn sẻ Cộng Sản trên đường phố, đâu cũng có hỏa tiển B-40. Các toán bộ binh và bắn sẽ phải luôn luôn cảnh giác phía trên đầu tường thành, thỉnh thoảng có tiếng la to di chuyển và hai bên bắn nhau. Suốt ngày, chẳng có phút nào được nghỉ; đêm tối chợp mắt chút đỉnh. Một lần, Mayer đón vài TQLC dọc đường để đi nhận lương khô, nghỉ chút ít. Bỗng súng cối nổ trên đường, và chiến trận lại nổ ra. Lúc ấy, có nhiều phóng viên báo chí đang ở với họ. Khi súng nổ dữ, họ nói họ muốn lên phía trước cùng TQLC. TQLC biểu họ im đi và ngồi xuống tại chỗ. Trí óc Mayer choáng váng, các tay phóng viên nầy làm như đang đóng phim hay biểu diễn trò gì đó vậy.

                Anh ta chưa bao giờ thấy một cán binh CSBV nào khi đang đánh nhau, nhưng có rất nhiều bạn bè anh ta bị thương, một anh bộ binh bị thương ở lưng được anh ta dìu lên xe thớt. Anh còn tiếp tục giúp nhiều bạn thân khác bị thương. Một buổi tối, có một anh lái xe thớt, trông còn vẻ như là một sinh viên chăm học, mang kiếng trắng, râu mép lưa thưa, trước trận Huế còn làm thư ký cho đơn vị, giữ nhiệm vận chuyển người bị thương ở đại đội Charlie. Trên đường về, anh bạn bị lạc trên đường sá ngang dọc lung tung, quẹo lộn đường nên bị CSBV bắn chết tại chỗ. Tử trận trong khi hoạt động (KIA). Mayer nghe nói CSBV dựng xác anh bạn bị chết lên để làm bia bắn thực tập. Mayer còn nghe tin hai thằng bạn chết cùng một ngày. Hôm ấy có chiếc xe tăng chạy vào trong một doanh trại của quân đội miền Nam VN bỏ trống. Tám người lính bộ binh quây quần chung quanh chiếc xe, vừa hút thuốc vừa nói chuyện, rồi mọi người đi quanh, còn Mayer thì đi ngang qua sân tới chỗ các thùng giấy đựng lương khô, tính tìm chút gì để ăn. Bỗng anh ta nghe có tiếng đạn rít trên đầu và nổ ngay bên cạnh. Hai người lính còn đứng bên chiếc xe tăng bị thương. Một người, tính hay đùa, bị một mảnh đạn vào cuống họng và chết tức khắc, mắt còn mở, miệng hé ra, như đang cười. Mayer hết sức xúc động. Người kia là một người ít nói, đang nằm trên đất, rên xiết, nhiều mảnh đạn đâm vào mình anh ta. Người ta kéo người bị thương vào trong và gọi y tá. Chỉ mấy phút sau người lính ấy chết. Mayer khó tin được hai người bạn chết chỉ vì một viên đạn quái quỉ như thế, chẳng đâu vào đâu! Mayer chờ tới lượt mình. Thế nào cũng tới lượt anh ta!

                Mọi người rồi ai cũng vậy thôi. Cuộc chiến vở tan từng mảnh nhỏ, từng chút một, chẳng ai biết việc gì sẽ xảy ra trước.

    &

                Thiếu tá Swenson trở lại thành Mang Cá khi một trong những chiếc xe tăng của TQLC lắc lư chạy về, chiếc xe bị bắn thủng mấy lỗ, có người thương vong. Ông ta ra lệnh cho toán xe tăng chùi rửa sạch sẽ vết máu của người trưởng xa đã tử trận. Đó không phải là điều mà người ta muốn nói tới.

                Một hôm, Berntson đi xuống đường khi thấy linh mục McGonigal, tuyên úy MACV, đi về phía anh ta đang ở tuyến đầu. Ông ta thường đi ra tuyến đầu. Hai người chào nhau. Vị linh mục dặn Berntson cẩn thận. Berntson nói đùa là các tay bắn sẻ tốt lắm. Linh mục McGonigal cười và đi lên phía trước. Berntson nghĩ ông ta thiệt là người tử tế.

                Sáu quả súng cối rơi xuống nổ ầm ầm. Anh phóng viên nhà báo Mike Herr nằm rạp xuống đất tránh đạn. Xong, anh ta nghe có tiếng la hốt hoảng ở phía sau và thấy ba người lính TQLC đang chụm lại với nhau, tay cầm nón sắt, hát: “Chúng tôi sẽ ra khỏi nơi nầy, nếu đó là điều cuối cùng chúng tôi làm…”

                Họ lại tiến lên trước, bên dưới tường thành, lom khom bò qua một chỗ bằng phẳng vì ngôi nhà bị đạn pháo binh bắn sụp, rải rác các mảnh tôn thiếc lợp nhà, gỗ và gạch đá. Lawhorn khom mình xuống, tay cầm cây súng M-16. Một hạ sĩ da đen, không đội nón sắt, đứng phía trước, tay quăng lựu đạn trông như người ta đang ném lao, giây đeo đạn lắc lư trước ngực. Bất đồ, có tiếng nổ phía sau và anh hạ sĩ té xuống. Y tá và hai TQLC kéo anh ta lui. Lawhorn nhìn anh ta, thấy cánh tay gảy, hình như có hai ngón tay bay mất. Anh ta nắm lấy cánh tay bị thương, vừa khóc vừa nhìn vào chỗ bị sưng. Một anh lính đen khác đi lom khom bên cạnh, trông có vẽ thân thuộc, nói giọng ganh tị: “Mày về Mỹ, chẳng có gì đâu, mày sẽ về nước thôi.”

                Thứ Bảy, 17 tháng Hai, trời sáng nhưng khắp thành phố, bầu trời còn xám xịt. Hôm nay không có không yễm, không có đạn tiếp tế cho đại bác 90 ly, cũng không còn đạn cho đại bác 106 ly không giật. Lựu đạn gần hết, lương thực chỉ đủ cho một ngày.

                Thiếu tá Thompson cho tiểu đoàn nghỉ. Hôm ấy không tác chiến. Lính được nghỉ, chỉ có ít người phải đi tuần phòng. Nhưng cuộc chiến đấu thì vẫn chưa ngưng lại.

                Đi lững thững phía trước, trung sĩ Berntson tách khỏi đại đội coi thử binh lính khác trong tiểu đoàn đang làm gì. Anh ta đi qua bên phải, chỗ nhà cửa đổ nát thì nghe tiếng súng nổ phía trước, không phải tiếng súng nổ loạn xạ mà giòn, lẫn lộn giữa M-60 và M-16. Tò mò, anh ta đi tới hướng đó, chỗ khúc quẹo, thấy một chiếc xe màu xanh đậu ngay giữa con đường dài. Hai TQLC núp trên mui xe với cây đại liên M-60. Có hai người nữa núp ở hai bên xe, nơi cái chắn bùn. Berntson lom khom chạy tới chiếc xe, núp phía sau vè xe, hỏi người lính:

                – “Quái gì xảy ra vậy?”

                Anh lính nhăn răng cuời:

                – “Này, bạn, tao đang tham gia lễ “Ngày Thi Bắn Gà Tây” lần đầu tiên ở Huế.”

                – “Mày nói gì vậy?”

                – “Đếch họ. Có mấy tên CSBV ở dưới đó, mấy thằng khùng nầy thỉnh thoảng chạy qua chạy lại trên đường. Có hai hay ba thằng chạy qua đường bây giờ. Bọn mình hạ chúng.”

                Berntson không tin, nói lầm bầm: “Mày dọa tao hả?”

                Người lính TQLC chỉ tới cuối đường, cách ba khu nhà, khoảng 150 mét. Berntson thấy bốn hay năm xác lính CSBV nằm chết chồng lên nhau giữa đường.

                Người lính nói:

                – “Canh chừng nhé, một chút nữa, có một tên chạy qua đuờng.”

                Vừa nói xong, Berntson thấy một bóng người chạy nhanh qua, ngang chỗ đống xác chết. Chờ bóng người ấy tới giữa đường, cả bốn TQLC đều nổ súng, nhưng anh ta chạy thoát. Berntson không thể tin điều anh ta thấy. Anh ta chồm sát tới cái vè xe và chờ. Vài phút sau, một anh lính CSBV chạy từ trong một ngôi nhà ra, tới giữa đường, bỗng thay đổi ý kiến, chạy ngược lui chỗ cũ. Tất cả TQLC đều nổ súng, anh ta té xuống, bò trên lề đường. Từ phía bên kia đường có hai anh nữa chạy ra, kéo người bị thương. Đại liên M-60 nổ, một người chạy mất, một người gục tại chỗ.

                Thật là điên khùng.

                Berntson hỏi:

                – “Chơi trò nầy bao lâu rồi?”

                – “Chúng tao phục đây đã bốn mươi lăm phút. Thiệt là hay! Bọn chúng cứ chạy lui, chạy tới, không bắn lại. Nầy, anh bạn, có muốn bắn một phát không?”

                – “Sao không?” Berntson nói, cầm cây M-16 lên.

                – “Đếm thử coi. Tao hạ hai, nó hạ hai. Mấy tay trên kia hạ ba. Coi, anh hạ bao nhiêu cho biết.”

                Berntson dựa vào vè xe, nắm chắc súng, nhắm vào đầu ruồi, nghĩ như là đi tập bắn hồi còn ở trại huấn luyện. Anh ta nhắm vào đống xác trên đường, nhìn hoài nhìn hoài cho đến khi chảy nước mắt sống. Rồi anh ta thấy một bóng người chạy qua đường, bóp cò, cho đi nguyên cả băng đạn. Người lính CSBV gục ngay, không một chút nhúc nhích. Đại liên M-60 lại nổ bồi tiếp vào tên địch. Ồ, bậy thật. Tao bắn nó rồi. Nếu tao biết chúng nó bắn tệ vậy, tao để cho nó chạy thoát.

                Người lính hỏi anh ta còn muốn bắn nữa không, Berntson nói “không”. Bắn nữa, anh ta sẽ bắn hụt. Anh ta chụp một bức hình mấy người lính nầy để kỷ niệm “Cuộc Thi Bắn Gà Tây” lần đầu tiên ở Huế, xong mang súng đi. Mấy người lính TQLC cười nói với Berntson báo cho mọi người ai muốn bắn thì ra đây. Anh ta lắc đầu bỏ đi. Chưa bao giờ anh ta thấy địch hoạt động ngu xuẩn như vậy. Họ chẳng bắn lại phát nào.

                Berntson tiếp tục đi quanh đến khi anh ta thấy một cái lỗ ở vách tường một ngôi nhà quay mặt ra đường. Anh ta biết đi qua một cái lỗ tường như thế không khác nào đi xuống địa ngục. Berntson làm đúng y, bắn vào cái lỗ tường ấy, rồi phóng vào một cái hố bên kia đường. Có hai TQLC thuộc Đại đội Bravo đang núp sẵn trong hố, một trung sĩ và một y tá. Viên trung sĩ nói có hai người bị thương phía trước, anh ta cần giúp đỡ để kéo họ về. Anh ta chỉ về phía họ. Trên đường, ngay giữa ngã tư, Berntson thấy có hai bóng người đang nằm, áo quần xanh và to con như TQLC vậy.

                Anh ta hỏi:

                – “Họ bị thương lúc nào?”

                Viên trung sĩ nói:

                – “Chỉ mấy phút trước. Tôi tới đem họ về. Đi đi.”

                Bỗng người y tá nói, chậm và chắc:

                – “Bob, họ chết rồi!”

                – “Không, họ chưa chết. Họ mới bị thương. Tao thấy họ còn động đậy. Tao biết họ chỉ bị thương. Mình đem họ về. Này, đi.”

                – “Bob! Họ chết rồi!”

                – “Mẹ! Mày không đi, tao đi một mình.”

                – “Bob! Họ chết rồi, họ bị giết từ tối qua.”

                Berntson bỗng nhiên nhận ra viên trung sĩ nhầm lẫn. Tiểu đội của viên trung sĩ bị phục kích tối hôm trước. Y tá có nói với Berntson bốn TQLC chết, chỉ có viên trung sĩ sống, kéo về hai xác. Quân CSBV biết thế nào TQLC cũng ra lấy xác. Bọn bắn sẽ đang chờ ai ra ngay ngã tư.

                Viên trung sĩ cắt ngang:

                 – “Mẹ! Mày biết rõ hơn chắc. Cả hai còn sống mà. Mày đúng là thứ gà mờ, mày không đi cứu bọn nó à?”

                – “Bob! Họ chết thật. Bây giờ đem họ về ngay cũng chẳng ích gì.”

                Viên trung sĩ nói:

                – “Tao đi.”

                Nói xong, anh ta lao ra khỏi hầm và chạy nhanh trên đường. Anh ta chạy được nửa đường thì bọn bắn sẻ nổ súng. Thêm hai TQLC nhảy vào trong hầm với y tá và Berntson. Họ bắn trả, cố bắn che cho viên trung sĩ. Anh y tá nói nhỏ: “Quỷ thiệt! Chắc thằng khùng bị bắn chết.” Nói xong, anh ta cũng phóng ra khỏi hầm, chạy chữ chi trên đường. Berntson và hai TQLC chạy theo anh ta, vừa chạy vừa bắn. Cả bọn cố chạy tới chỗ hai cái xác chết. Berntson và y tá nắm cổ chân một xác chết kéo mạnh anh ta lui, cái xác úp mặt xuống đất, bị kéo lê trên mặt đường. Viên trung sĩ và một TQLC thì kéo cái xác kia chạy theo sau. Cuối cùng, có một TQLC thứ năm chạy tới, bắn hết băng đạn nầy đến băng đạn khác vào các cửa sổ. Berntson và y tá lại nhảy xuống hầm, ngồi dựa lưng, thở hổn hển. Ba người kia cũng nhảy xuống sau lưng họ. Viên trung sĩ nhìn cái xác bị phù mặt do Berntson và y tá kéo về, la lên: “Chúa ơi! Bộ tụi bây kéo sấp mặt thằng chả hay sao vậy?”

                Khuôn mặt người chết bị thâm, sứt vì bị kéo lết trên mặt đường. Viên trung sĩ ngồi thụp xuống trong hầm, khóc hu hu, hai vai rung lên:

    “Tụi bây đừng kéo xác nó úp mặt xuống đường, mẹ nó nhìn không ra. Tụi bây làm hư mẹ cái mặt của nó rồi.”

                Anh y tá bò đến bên, ôm lấy anh ta: “Bob, bọn mình về đi. Mọi người bình an rồi. Về trạm xá đi.”

                Cả bọn họ đi chầm chậm về phía thành Mang Cá. Viên trung sĩ vừa đi vừa khóc nên y tá đỡ anh ta, dẫn đi lên đầu. Berntson và một TQLC theo sau. Mang cái xác thằng bé bị nát mặt. Vào trong thành, viên trung sĩ gặp y tá trưởng rồi họ ngồi xuống trong góc nhà. Có ai đó đặt cái xác bên cạnh anh ta. Khi Berntson quay lưng đi ra khỏi tòa nhà, viên trung sĩ vẫn còn ngồi bên cạnh xác người bạn thân của anh ta, hai tay úp mặt mà khóc.

                Hôm sau, ngày 18 tháng Hai, việc trở ngại tiếp tế vẫn chưa giải quyết xong nên tiểu đoàn hoạt động chỉ có một phần thôi. Trung sĩ Dye núp trong một căn nhà với mấy TQLC, cố nghỉ một chút, nhưng lại có một tay bắn sẻ CSBV núp đâu phía trước họ. Tay nầy có cây đại liên và bắn chặn ngang căn nhà, làm bay khúc gỗ trên đầu tường khiến mọi người sợ. Trung sĩ Dye còn gặp một chuyện rắc rối khác nữa: Đói cồn cào; hai ngày không ăn gì là một thời gian lâu dài. Có điểm tiếp tế phần lương khô ở phía đằng kia nhưng tên bắn lén bắn hoài nên không ra được.

                Cuối cùng, dạ dày của Dye làm anh ta nảy ra một ý hay. Anh ta nói: “Quái gì thế nầy. Mấy thằng con hoang nầy một là bắn tao chết hai là bị thương, nhưng nó không thể làm tao chết đói được.”

                Mọi người theo dõi, quan sát anh ta chạy qua mấy căn nhà, sau bức tường đá. Tên bắn sẻ nã đạn lách cách. Dye nghe tiếng đạn bay trên đầu, tiếng u u của một trái đạn đang bay và đụng vào bức tường trước mặt, nổ như sấm. Trái đạn súng cối nổ làm văng bụi đầy người anh ta. Anh ta phóng tới trước, nhanh hơn, tới được điểm tiếp liệu, ôm mấy hộp thực phẩm khô, chạy ngược về căn nhà cũ. Cả bọn họ ngồi trên đống gạch ngói đổ, ăn ngấu nghiến.

                Mãi sau anh ta nhìn vào chiếc nón sắt. Cái bông hoa màu vàng lớn Berntson lấy gắn vào đó khi anh ta tới một ngôi chùa Phật đã bị đạn bắn bay mất, vết đạn chỉ cách đầu anh ta có 1 inch. Khi anh ta chạy xuống bờ tường, tên bắn lén thấy rõ cái hoa trên nón sắt anh ta nên nó bắn ngay vào đó. Sau nầy, anh ta cứ nghĩ là nếu tên bắn lén bắn thấp hơn cở 1 inch thì thật là xui. Ở Huế, câu chuyện cái hoa nầy trở thành câu chuyện vui.

                Đại đội Bravo tiến qua từng nhà, khu vực sửa chữa xe hơi. Berntson đi với một tiểu đội. Họ đi vào một sân nhà kế cận, bò qua chỗ vòi nước cửa sau, quăng lựu đạn và bắn; rồi đá mạnh vào cửa sau cho cửa mở ra. Bất thần thấy ba lính CSBV đang núp trong đó, Hai bên thấy nhau, một giây kinh ngạc. Ai nấy bò lăn ra. Một tràng đạn bay ngang đầu Berntson, đụng thẳng vào vách tường phía sau, cát bụi bay ra che cho anh ta khiến địch không thấy. Anh ta bắn một băng M-16, một trong mấy người lính CSBV té ngay xuống ngưỡng cửa, người kia thì té giật lui sau, rơi xuống nền nhà. Các TQLC còn run. Cuộc chạm súng chưa tới ba giây.

                Họ kiểm soát cho nhau coi ai bị thương. Chẳng ai hề hấn gì hết. Mọi người cười ngất. Họ ngồi hút thuốc. Tiểu đội trưởng nói họ có thể ngồi nghỉ đến khi toán còn lại của đại đội di chuyển lên phía bên hông. Một TQLC kéo một cái xắc dã chiến của người lính CSBV đã chết, đổ đồ bên trong xắc ra giữa nền nhà, có ba cái gói bao lại rất gọn, bên trong là những miếng vàng sáng.

                Anh lính nhặt một gói lên, hỏi: “Nầy! Cái gì vậy nè? Nó nặng đấy. Gói nầy là cái gì?”

                Anh ta đưa cho Berntson. Đó là những miếng vàng mỏng. Anh ta chuyền quanh cho mọi người xem, quan sát. Mỗi miếng vàng có hàng chữ Pháp: “Vàng ròng”, Saigon, Danang, Hongkong, Bangkok.

                Berntson nói: “Trời ơi! Gói nầy là vàng đấy.”

                Anh lính trẻ thấy thế bèn với chụp một trong mấy gói đựng vàng, một anh TQLC khác chụp cái thứ ba. Berntson đếm được 20 miếng trong gói của anh ta. Anh ta lấy một miếng bỏ trong cuốn sổ tay. Họ bắt đầu tìm các gói khác, bất thần hai quản B-40 nổ trên đầu cửa sổ. Lửa bùng lên. Họ bò lui ra cửa sau. Trong khi đó thì một loạt đạn AK bắn vào cửa trước. Một quả súng cối nổ ngoài sân. Berntson vấp chân té xuống nền ximăng, cây M-16 rơi xuống. Anh ta cúi lượm thì gói vàng văng ra khỏi túi. Thêm hai quả súng cối nổ nữa. Anh ta phóng đi, tiếc hùi hụi, nhìn lại gói vàng còn nằm ngay chỗ rơi xuống. Sau khi tìm được chỗ núp, anh ta nhớ còn có lá vàng bỏ trong cuốn sổ, thấy đỡ tiếc một chút.

                Sau khi chia tay với Đại Đội Bravo, TQLC, Berntson tìm đường trở lại với các bạn cũ ở Đại Đội Delta. Anh ta đi ngang trạm cứu thương thì có mấy TQLC nhờ anh ta giúp một tay, đi lấy xác mấy TQLC chết về. Họ chỉ cho anh ta thấy một ngôi nhà thủng lỗ chỗ, Berntson thấy có 3 xác TQLC nằm kế nhau bên trong. Có người nói là họ ở qua đêm trong ngôi nhà đó và bị CSBV bắn B-40 vào nên có người bị tử trận. Berntson cúi xuống nắm xác một người lính trẻ và thấy có điều hơi lạ. Anh nầy mang đôi giày da màu đen, mang lon chuẩn úy còn mới tinh nơi cổ áo, mặc đồ quân sự tiểu bang, quần còn hồ cứng. Họ kéo ba người chết về trạm y tế.

    Berntson ngồi lại hút thuốc. Y tá moi trong túi người lính trẻ ra các đồ dùng do tiểu bang cấp phát và một xấp giấy viết. Anh ta đọc, và nói thầm: “Nầy, đọc đi.” Xong anh ta trao cho Berntson. Đó là giấy chứng nhận cấp bậc chuẩn úy của người sĩ quan trẻ, ký tại trại huấn luyện Pendelton, California, ngày 29 tháng Giêng/ 1968. Berntson nhớ lại có tin nói lính vừa tăng phái từ California qua, bay thẳng tới Đà Nẵng, rồi trực thăng chuyển từ Đà-Nẵng ra Mang Cá. Và đây là hậu quả. Berntson ngồi nhìn xác anh ta, cảm giác như tê cứng lại cho đến lúc anh ta buồn bã đứng dậy bước ra ngoài.

    &

                Thứ Hai, ngày 19 tháng Hai, ba quả súng cối 82 ly bắn từ trong Đại Nội, bay qua đầu TQLC và nổ tại điểm tiếp liệu của tiểu đoàn. Hai TQLC chết. Luật lệ cấm TQLC phản pháo vào Đại Nội.

                Buổi sáng trời lạnh, sương mù bốc lên che mờ mặt hồ dọc theo bờ thành. Lính TQLC ngồi trong đống gạch ngói đổ nát, đốt lửa lên, chen nhau sưởi ấm. Khoảng vài gờ sau, mặt trời lên cao, sương mù tan dần, Đại đội Delta bắt đầu di chuyển.

                Hai người đi tiền thám cùng với đại đội thuộc trung đoàn 5. Hạ sĩ David Morales và binh nhì Eric Henshall, cả hai vừa được Anh dũng Bội tinh Ngôi Sao đồng vì giết được sáu lính CSBV. Họ đang ngồi dựa lưng vào tường. Henshall lôi trong túi đồ ra một lá cờ Mỹ nhỏ anh đã mua một tuần trước Tết ở Phú Bài với ý định là các tay bắn sẻ của đơn vị sẽ ký tên vào đó để mang về nước làm kỷ niệm. Nhưng rồi anh ta nghĩ ra một cách khác hay hơn. Anh ta và các TQLC xoáy đâu đó một cây sào tre để cột lá cờ vào đó. Xong, Henshall, chẳng nón sắt mà cũng chẳng cần áo giáp, cột cây tre vào một chiếc ghế tìm thấy trong ngôi nhà hư, đem dựng lên tường thành cho các tay phó nhòm chụp hình chơi.

                Berntson bước tới nói với Henshall, tay cầm cuốn tập dành cho các phóng viên TQLC Mỹ:

                – “Này, Eric, mày kiếm đâu ra lá cờ nầy hay quá vậy? Tao sẽ viết một câu chuyện về lá cờ nầy mới được.”

                Henshal nhăn răng cười, tự hào về lá cờ của anh, nói, vừa khi Berntson ghi nhanh trên sổ tay:

                – “Mẹ kiếp! Chúng nó thấy lá cờ ở đây mà tại sao không bắn. Mình cột vào ghế dựng lên đây để chúng nó bắn vào chơi.”

                Lá cờ bay trong gió lạnh. TQLC đứng dựa lưng vào tường, la lối chưởi bới kẻ địch đang núp ở đâu dưới kia.

                Hai tay bắn sẻ CSBV núp ở cuối bức tường bắn lách cách vài phát. TQLC cúi đầu núp sau bờ tường. Viên đạn bay qua trên đầu khiến Berntson cảm thấy giận tên bắn sẻ. Hôm trước, anh ta đã giúp y tá đem một người bị thương ra khỏi bờ thành, trong khi một tên bắn sẻ bắn hai viên qua trên đầu anh, sát đến nỗi anh ta cảm thấy được hơi nóng của viên đạn. Anh ta chỉ la lên được: “Ôi! Chúa ơi!” rồi nhào xuống đống gạch ngói bể, nằm yên mười phút không dám nhúc nhích.

                Rồi lại có tiếng súng AK-50 nổ đâu đó phía trước, đạn dội vào tường. Cuối cùng, tiếng súng dứt. Cái ghế và lá cờ vẫn còn đứng nguyên.

                – “Anh viết truyện hả?”

                – “Vâng.”

                – “Trung sĩ, bữa nay anh ở đây với tụi tôi?”

                – “Vâng.”

                – “Vậy là hai mươi sáu.”

                Anh ta đếm tất cả được 26 người. Sau chín ngày đánh nhau ở Huế, quân số còn lại chẳng bao nhiêu!

                Các TQLC vẫn ngồi dọc theo bức tường dài, chờ đợi. Vài binh sĩ tới tăng cường đang đi về phía họ. Họ mới cạo râu láng bóng làm cho Berntson thấy không hợp tình hợp cảnh chút nào cả. Tất cả binh sĩ ngồi quanh đây, mắt ai cũng sâu, râu ria xồm xoàm, dơ bẩn, người đầy bụi cát gạch đỏ. Vài người vác các thùng lương khô. Mọi người đang ăn sáng. Đại úy Harrington tới gặp mấy binh sĩ vừa đến, họ thuộc Trung đội 3. Trước đây, họ được tăng phái theo giữ an ninh cho đoàn xe tiếp tế Phú Bài-Huế, nay trả lại cho đại đội, mới tới Thành Nội. Đi với họ có thiếu úy Dean Williams, sĩ quan hành chánh Đại đội Delta. Anh nầy đã từng chỉ huy trung đội sáu tháng nhưng vì bị thương nên được giao việc tại hậu cứ. Tới Huế, anh ta tình nguyện trở lại chiến đấu. Harrington biểu anh ta nắm Trung đội 1. Đại đội nay được tiếp tế đầy đủ nên họ lại tiếp tục cuộc hành quân dọc theo bờ thành.

                Khoảng sau 1 giờ chiều, Harrington ra lệnh tiến lên.

                Tại điểm nầy, tường thành hẹp lại. Lớp đất đắp vào phía trong thành bề ngang còn lại khoảng 40 fít. Thiếu úy Williams cùng với một tiểu đội bò lên trên đó. Từ đó, họ tiến về phía đống gạch ngói đổ, đi lom khom, và tiến nhanh hơn. Đại úy Harrington dẫn số còn lại, tiến qua các ngôi nhà nằm dưới chân thành. Một chiếc xe tăng chạy lách cách trên đường. Berntson nhìn vào chiếc xe ấy, thấy sung sướng. Ít ra, họ cũng được yễm trợ hỏa lực. Xe tăng bắn một viên đạn 90 ly, bỗng một quả B-40 nổ ngay chỗ tài xế, đèn xe bay mất. Chiếc xe tăng rú máy thối lui. Berntson nhăn mặt khó chịu.

                Đại đội đang tiến tới trước, cách khoảng nửa khu nhà, bỗng chạm súng dữ dội. Hoảng hốt vì đạn rải như mưa, TQLC lo tìm chỗ núp. Hai người đi đầu bị bắn chết ngay tại chỗ. Họ chẳng gặp may. AK-47 và B-40 bắn dữ dội chỗ khúc đường hẹp. Harrington, đang núp phía sau, cách khoảng bảy mươi lăm bộ, nhìn TQLC đang ở trên tường thành. Thiếu úy Williams, đang núp phía trước, bỗng người bị giật bắn lên khi chỗ đất quanh anh ta bị đạn bắn cày tung lên. Rồi anh ta té nhào xuống như một con búp bê rách. Anh ta bị một viên đạn vào cổ, hai viên vào ngực, mỗi chân một viên đạn. Harrington nghĩ: “Chúa ơi!” Và cảm thấy đau lòng vô cùng. Anh ta thấy tuyệt vọng.

                Berntson thấy có một thiếu úy đang bò xuống, ngang qua một bụi tre trong sân trước của một ngôi nhà, cùng một tiểu đội bò theo sau. Ở phía trước, súng đạn vẫn không ngừng gầm thét. Quả thật không thể nào nhúc nhích được. Các tiểu đội tiến từng bước một. Trước mặt là các căn nhà đổ nát, hàng rào cây, cây cối, tường gạch bọc quanh sân, gạch ngói ngỗn ngang. Berntson dùng cùi chỏ bò qua những chỗ đó, cố cách xa một toán M-60 đang bắn che từ phía sau. Anh ta thấy cần bắn mạnh hơn vào phía địch nên đưa cây M-16 lên quá đầu, anh ta sợ nếu ló đầu lên dễ lãnh đạn, rồi bóp cò cho nổ vào vị trí quân CSBV trên thành. Anh ta lại chạy nhanh về phía một hàng rào gỗ, phóng vào cái sân nhà bên cạnh, vội vàng núp theo bức tường đá, rồi chun vào cái nhà bên cạnh và lại núp sau một bức tường. Hai TQLC, một người cầm M-16 và một người cầm súng phóng lựu M-79, bò bên cạnh anh ta. Có ai đó ở bên kia bức tường la to: “Y tá, lên đây gấp.” Berntson nhìn quanh, chẳng thấy một người y tá nào hết. TQLC bắn qua bức tường đá vào vị trí CSBV phía trước. Berntson ló đầu qua bức tường kêu to: “Y tá.” Cách xa khoảng ba chục bộ, núp sau bức tường căn nhà kế, là hai người lính đội nón sắt, mặc áo giáp.

                Không cần suy nghĩ, Berntson phóng qua bức tường. Anh ta hạ cây súng M-16 và chạy thật nhanh về phía một toán TQLC. Anh ta cùng núp với họ trong khi súng quân CSBV đang bắn vào cái sân trước căn nhà, đất cày tung lên. David Greenway của tạp chí Time bị thương. Một người bị thương nữa là binh nhất Michels. Berntson nghĩ thầm: “Chúa ơi! Không phải Michels.” Thoát chết vì quả lựu đạn nơi vọng lâu trên cửa thành, bây giờ trúng đạn. Anh ta bị thương nặng, đạn vào ngay cổ, máu trào ra ở cuống họng, mắt trợn ngược, thở ngáp, tay chân xuội xuống. Berntson la to: “Y tá!” rồi nắm tay Michels kéo lui. Vừa lúc đó, y tá hối hả chạy tới, giúp Berntson kéo Michels lui, rồi họ chạy lui về phía bức tường đá, la to: “Bắn che cho tôi. Bắn che!” Các TQLC sau bức tường bèn nổ súng như điên. Súng quân CSBV còn gắng gượng bắn lại. Berntson và y tá chạy tới chỗ bức tường, thấy không thể chạy trở lại chỗ Michels nằm được. Cả hai phóng xuống đường, chạy dọc theo đường mương bên đường. Berntson nghe tiếng đạn nổ lách cách trên đầu và rít trong không khí.

                Họ chạy khoảng ba chục thước, rồi chui vào trốn trong một cái cổng sân bên trái. Berntson tuột quần, cắt mấy chỗ bị kẽm gai làm rách xơ ra. Anh ta bò lại chỗ Al Webb, phóng viên hãng thông tấn UPI, núp dưới bờ tường. “Chúa ơi! Al, giúp tao một tay. Thằng nầy bị thương nặng lắm.”

                Berntson, Webb, Greenway và cứu thương lại đến chỗ Michels, chạy qua bên kia đường. Có một chiếc xe tải do Pháp sản xuất bị bắn hỏng nằm một bên đường. Họ đến núp sau cái xe ấy, để Michels nằm phía sau bánh xe. Charles Mohr, một phóng viên của tờ Nữu Ứớc Thời báo (New-York Times) chạy lên phía trước cùng với vài TQLC nữa để giúp đỡ. Y tá lấy băng băng quanh cổ Michels, chỗ cuống họng bị đạn nhưng thằng bé bị ra máu nhiều quá nên nghẹt thở, y tá phải mổ họng. Mọi người núp phía sau xe tải, nhìn y tá đẩy một ống nylong vào khí quản Michels. Berntson thấy có cánh của sổ màu xanh rơi trên mặt đường, nên nghĩ có thể dùng cánh cửa ấy để làm cáng khiêng Michels đi được.

                Anh ta đứng dậy, một trái hỏa tiễn B-40 rớt nổ cách chỗ anh ta có 4 bước.

                Khi anh ta tỉnh dậy, thấy mình đang nằm sấp, cách chỗ anh ta đứng lúc nảy cỡ 12 bước. Anh ta không nghe được, hình như có tiếng gì như chuông rung trong tai. Miệng anh ta có vị thuốc súng, rồi anh ta thấy có vị máu từ trán chảy xuống miệng. Anh ta cố đứng dậy nhưng không nhúc nhích được. Tay bắt đầu thấy đau kinh khủng và khi nhìn xuống anh ta thấy một khúc vải dính vào ngay dưới vai. Tay anh ta tê dại, chân cũng vậy. Toàn thể thân mình lỗ chỗ mảnh đạn. Chỗ đau nóng đỏ lên. Anh cố nhìn, thấy Michel còn nằm bên cạnh, trên mặt đường, mình uốn cong lên vì viên đạn B-40 nổ lúc nảy. Anh ta nghiêng đầu nhìn ngang thì thấy Greenway, Webb, Mohr, và y tá cùng mấy TQLC đang núp dưới gầm xe tải. Webb và Greenway cũng bị thương. Một tràng đạn AK vãi xuống đường, cày một đường dài. Michels lại trúng đạn, giựt bắn người. Berntson lại nhìn mấy khuôn mặt núp dưới gầm xe: “Trời, nhờ ơn Chúa. Có ai đến cứu tôi. Xin làm ơn!”

                Y tá và Greenway vội chạy ra kéo anh ta vào dưới gầm xe.

                Hai người lính TQLC chạy lại chỗ Michels. Berntson nói nhỏ với y tá: “Lo cho nó trước, tao không can gì đâu, chăm sóc cho nó trước.”

                Webb cũng còn nằm tại chỗ. Mảnh đạn ghim vào chân và mắt cá anh ta. Berntson lại nói: “Lo cho Webb trước, tao không gì đâu!”

                Bỗng nhiên, anh ta nghĩ chắc mình có thể chết. Y tá chích cho anh một mũi morphine (thuốc giảm đau). Mấy TQLC chạy tới, nắm lấy cánh tay anh ta làm anh thấy đau tê tái. “Trời! Đau quá!” Họ mang anh vào trong một cái sân nhà, chỗ khuất lằn đạn. Tự nhiên Berntson hơi tỉnh một chút, nhớ lại mọi chuyện rõ một cách lạ lùng, mấy người lính TQLC cũng không quên dụng cụ của anh. Họ đưa máy chụp hình và cây súng Colt .45 cho Greenway, nói với anh ta là anh muốn giao tất cả lại cho văn phòng báo chí của Sư đoàn 1/ TQLC.

                Một chiếc xe thớt chạy lên. Anh lính TQLC bị thương ở vai trèo lên xe, ngồi, xong họ đem Berntson và Michels đặt nằm phía sau. Người y tá nhảy lên ngồi bên cạnh, cố gắng lo cho Michels. Chiếc xe thớt rú máy chạy về Mang Cá. Họ được đưa vào một trong những tòa nhà làm bằng nhôm theo kiểu trại lính, đặt bên cạnh những người bị thương khác. Vài bác sĩ và y tá chạy tới cắt áo anh ta ra. Bỗng một bác sĩ đắp mặt anh ta lại, nói: “Chết.”

                Anh ta sẽ chết. Rồi họ để anh ta vào góc nhà, tới lo cho những người bị thương khác. Chỉ có một cơ hội hết sức mong manh rằng Michels sẽ sống được, nhưng ở Huế, người bị thương thì quá đông mà bác sĩ thì ít quá và vì vậy, những ai bị thương nặng thì được chọn riêng nên những người gặp may sẽ được chăm sóc ngay. Các bác sĩ không muốn thế, thấy người bị thương gặp trở ngại, nhưng họ không thể chăm sóc đủ mọi bề cho thương binh.

                Berntson nằm ở đó, nhìn lên trần nhà và nghĩ tới Dennis Michels, nước mắt chảy xuống. Một lúc sau, anh ta mê đi, mọi thứ như chìm sâu trong sương mù dày đặc. Có ai đó cúi xuống nhìn anh ta và bỗng la lớn: “Chúa ơi! Lẹ lên, tới đây, anh ta bị xuất huyết nặng lắm.”

                Một mảnh đạn to bằng đồng đôla bạc, đâm vào động mạch nơi chân anh, máu chảy lan xống nền nhà. Người ta đắp thêm bông băng, chích thêm morphine. Y tá chích ống kim vào và treo phía trên mặt anh một bình nước biển.

                Có chiếc trực thăng Sea Knight hạ xuống. Người ta đặt Berntson trên cáng cùng với một cái poncho và đưa ra trực thăng cùng với những người bị thương khác. Cánh quạt trực thăng quạt gió làm cho poncho đắp lên mặt anh ta. Anh ta không thể kéo nó khỏi che mặt được. Chiếc máy bay bay lên mà không mang anh ta theo. Ít phút sau, có một chiếc khác đến, người ta đưa anh ta vào trong máy bay. Chiếc máy bay cất lên, Berntson nhìn xuống bãi đáp nhưng chỉ thấy làn khói trắng của chiếc máy bay trước dần dần xoắn theo hình trôn ốc ở phía bãi đáp khuất dần bên dưới.

                Berntson thức giấc ở trạm xá Phú Bài, thấy mình được đặt trên nền nhà cùng các TQLC khác. Một y tá cúi xuống cắt cái áo xơ xác của anh. Anh ta thấy y tá lục đồ trong túi, gom những đồ vật riêng tư, lấy mất tấm bản đồ thành phố Huế mà anh ta mang theo trong suốt trận đánh. Anh ta khóc, nói: “Cho tôi lại tấm bản đồ. Bản đồ của tôi.” Người y tá nói không được. Họ không được phép cho giữ tất cả những gì có tính cách tình báo. Xong, họ đem anh ta vào phòng quang tuyến X và cẩn thận đặt anh ta nằm xuống một cái bàn. Anh ta cảm thấy đau vô cùng, lạnh cóng vì trần truồng, nửa mê nửa tỉnh.

                Khi tỉnh, anh ta thấy có một TQLC đi tới, cho điếu thuốc, nói chuyện với anh ta, cố làm cho anh quên đau. Berntson hỏi anh ta thuộc đơn vị nào, anh ta trả lời là thư ký. Berntson nghĩ: “Thư ký thì biết cái mẹ gì.” Nhưng anh ta làm tốt việc của anh, và Berntson thật sự hoan nghênh việc ấy.

                Sau đợt di tản thương binh đầu tiên, Đại Đội Delta tiếp tục gia tăng sức ép tấn công địch qua từng nhà. Một chiếc xe tăng tiến lên, bắn đại bác vào mục tiêu. Chỉ trong vòng 10 phút, ba quả B-40 bắn vào xe tăng khiến nó phải thối lui. Súng cối trong Đại Nội bắn ra, rơi vào vị trí TQLC, làm họ phải ngừng lại. Harrington gọi máy ra lệnh ngưng cuộc tấn công. Harrington nhìn tới phía trước thấy hiệu thính viên, – lần thứ ba từ khi trận đánh bắt đầu – bò lui giữa đống vôi gạch đổ nát. Anh ta bị thương nơi cánh tay, mỗi khi tim đập thì máu phun ra. Harrington cùng với y tá vội vàng chạy lên băng bó cho anh ta. Nhờ có TQLC bắt đầu bắn che nên các người bị thương và chết được kéo vào bờ thành. Có người đem thiếu úy Williams vào. Anh ta vẫn còn tỉnh mặc dù bị thương tới năm chỗ trên người. Rồi người ta chuyển viên thiếu úy nầy về thành Mang Cá.

                Đại đội quay lại nghỉ qua đêm tại vị trí có lá cờ cột nơi cái ghế. Tới sáng, ngày 20 tháng Hai, họ lại đánh nhau từ sáng tới chiều tối. Họ củng cố vị trí tại những căn nhà hư dọc theo tường thành để nghỉ qua ở đó thêm một đêm nữa. Lawhorn và các bạn thân của anh ngồi nói chuyện nho nhỏ. Chẳng ai muốn ở lại thêm Huế chút nào. Họ quá mệt mỏi vì đánh nhau. Quân CSBV rất ngoan cố, và thật là tệ. Lawhorn thấy vui chỉ vì một điều. Đại úy Harrington luôn luôn sát cánh chiến đấu cùng binh sĩ. Trong suốt trận đánh, khi nào anh ta cũng ở tuyến đầu, tham gia cùng TQLC của anh. Mặc dù là người ít nói nhưng anh ta tận tình chăm sóc binh sĩ. Nhưng Chúa ơi! Anh ta là sĩ quan độc nhất còn lại của đại đội. Thiếu úy Green bị bắn ở Thừa Lưu, thiếu úy trung đội trưởng Trung đội 2 thì bị bắn ở cửa thành, một loạt đạn rải xuống như mưa trong một trận đánh gay go phía sau cửa thành khiến thiếu úy Imlah phải bị tải thương, thiếu úy Williams chỉ sống thêm được có một ngày. Viên trung sĩ nắm quyền chỉ huy Trung đội 1 bị thương trên một con đường phố nào đó và người tiểu đội trưởng phải lên nắm quyền thay. Y sĩ Rhino cũng đã tử trận. Lawhorn chỉ là một binh nhì mà bây giờ lên làm tiểu đội trưởng. Tiểu đội còn lại chỉ có sáu người. Lawhorn không ưa trách nhiệm. Đạn dược, lương thực còn lại ít. Ai cũng mệt mỏi, khổ sở và đói khát. Chiến đấu quá gian khổ mà mỗi ngày chỉ tiến được có mấy trăm thước. Tiến thêm nữa cũng chẳng ích gì! Pháo binh nổ tới, phản lực bỏ bom, quân CSBV cũng không chịu tháo lui. Tuồng như không thể nào diệt được chúng.

                Vài TQLC cũng nói đến việc ấy, tự hỏi họ sẽ làm gì nếu sáng hôm sau có lệnh tấn công nữa. Vài người có ý kiến là sẽ trả lời không khi có lệnh.

                Chỉ còn khoảng vài trăm thước là tới cuối bức tường thành. Lá cờ Cộng Sản vẫn còn treo trên cột cờ trước Đại Nội. Nhiều người thấy nản không còn ham tiến lên hạ lá cờ ấy xuống nữa.

                Thiếu tá Thompson thấy sự thay đổi trong tiểu đoàn. Họ đã mất hết nghị lực. Họ đang thất vọng, nhưng ông ta giận binh lính ông một chút ít thôi. Họ đã hăng hái chiến đấu nhiều tuần lễ mà không được nghỉ ngơi chút nào từ trước khi trận đánh Huế khởi sự. Trong tám ngày đánh nhau căng thẳng ở Huế, từ 13 tới 20 tháng Hai, tiểu đoàn có 47 tử trận, 240 bị thương nặng, 60 người khác bị thương nhưng vẫn tiếp tục chiến đấu. Cha tuyên úy McGonigal cũng qua đời. Từ ngày đầu, ông ta đã ở với các tiểu đội TQLC mặc dù Thompson muốn ông ở lại tuyến sau vì chính sự an toàn của ông. Đêm 17 tháng Hai, ông ta mất tích. Sáng hôm sau, người ta tìm thấy xác ông trong một căn nhà trống, đạn bắn ngay đầu. Có thể là có tay bắn sẻ nào đó bắn ông, nhưng có dư luận rằng ông đi lạc ra ngoài phòng tuyến và bị CSBV bắn chết.

                TQLC đã hạ một số địch gấp 4 lần hơn (đếm từng xác chết thì con số là 219 mạng) nhưng cả bốn đại đội đều bị tiêu hao mất một nửa khả năng chiến đấu của họ. Chỉ còn lại có ba thiếu úy chỉ huy trung đội, binh sĩ và hạ sĩ quan đảm trách chức vụ chỉ huy. Bốn trung đội trưởng của đại đội Bravo chỉ là hạ sĩ.

                Sức ép về mặt tinh thần có thể làm cho binh sĩ càng thêm dễ bị thương vong. Thompson biết vậy. Vì thế, ông ta thấy cần phải làm điều gì đó để binh sĩ lên tinh thần, thêm sức mạnh và tiếp tục chiến đấu. Giải pháp của ông ta là: Đánh đêm. Tối này 20 tháng Hai, ông ta triệu tập các đại đội trưởng họp để thảo luận chiến thuật nầy. Phía trước mặt, cách khoảng 300 mét là một công ốc lớn, hai tầng, có sân rộng, do CSBV chiếm đóng. Họ có xạ trường thoáng, dễ tác xạ khi TQLC tấn công. Một đại đội sẽ đánh chiếm ngôi nhà nầy bằng cách tấn công đêm, củng cố an toàn, làm bàn đạp để toàn bộ tiểu đoàn tiến lên tấn công địch. Harrington, Jenning và Nelson tất cả đều đồng ý với kế hoạch nầy. Họ hứa cố gắng nhưng Thompson biết họ không nhiệt tình lắm với kế hoạch của ông.

                Thiếu úy Polk cho biết đại đội Alpha sẵn sàng lên đường. Tuy nhiên, lúc đó, cả đại đội chỉ còn 81 người.

                Ngày 21 tháng Hai, trời còn tối, họ tiến quân. Trung Đội 2 do trung sĩ James Munroe chỉ huy, một tiền sát viên, và toán hỏa lực nhẹ. Họ bò vào căn nhà lầu và hai căn nhà phụ bên cạnh, không bắn một phát súng. Quân CSBV đã rút. Có một tiếng ho làm ai ấy sợ run, một người dùng đèn pin loại tí hon (để đọc bản đồ) rọi xem thì thấy có một ông già cùng ba đứa bé đang run lẩy bẩy ở góc phòng. Mặc dù biết những người dân nầy sợ hãi, TQLC cũng không đưa họ đi ngay được, biểu ngồi lại. Binh lính TQLC bố trí ngôi nhà mới chiếm được và chờ trời sáng.

                Tại ban chỉ huy, Thompson nói với các đại đội trưởng liên lạc thẳng với Polk, đề phòng nếu có gì khó khăn có thể có phản ứng kịp thời. Thật sự lý do của Thompson là ông ta muốn các đại đội trưởng thấy có niềm tin nơi viên sĩ quan trẻ làm cho họ sẽ hăng hái chiến đấu.

                Trời vừa sáng thì trung sĩ Munroe thấy một toán binh lính CSBV đang tới. Họ không một chút đề phòng, đi ngang qua sân trước để vào ngôi lầu. TQLC nổ súng, địch chạy tán loạn, có người gục tại chỗ, hoặc tìm chỗ núp, bắn lại. Tiền sát viên pháo binh hối hả gọi cho đơn vị pháo Whiskey 1/ 11 bên kia sông Hương, giọng phấn khởi: “Chúng tôi tấn công họ… họ đang ở chỗ trống… hết sức gần, năm chục mét,…  Nhanh lên, nhanh lên, nhanh lên với…” Họ bắn cả bốn khẩu cối cùng một lần, hai chục viên nổ liên tiếp, hết đạn chụp, họ xử dụng đạn nổ rồi cả đạn cay. Binh lính CSBV hoảng kinh bỏ nơi ẩn núp chạy ra ngoài khoảng trống. TQLC dùng loại súng săn kiểu 700 Remington bắn từng người một. Cuộc chạm súng kéo dài khoảng một giờ, mười chín xác địch để lại trên bãi cỏ.

                Thiếu tá Thompson ra lệnh tấn công. Mọi người – những ai mới hôm qua còn chưởi thề, sợ, ngại ngùng – đều nhất tề xông lên tấn công. Lawhorn sau nầy kể lại bây giờ anh ta tin tưởng cấp chỉ huy. Cũng bởi họ là những người lính trẻ, thất vọng khi chiến đấu trong Thành Nội Huế, nhưng không bao giờ hoàn toàn mất tinh thần. Khi một anh TQLC trẻ thuộc Đại đội Alpha bị thương vì một mảnh đạn súng cối, Polk gọi máy cho anh ta di tản thì anh từ chối: “Không, chúng ta đang chiến đấu gay go ở đây mà.”

                Cuối cùng, tiền sát viên làm xong việc với trung đội của Polk, cùng Landry tới một vị trí súng cối của Whiskey nghỉ một chút cho xương thịt thư dãn. Sáng nay, họ đã hoàn thành ba nhiệm vụ. Một cho Đại Đội 1/ 1, cách 800 mét về phía nam (Quân CSBV ở chỗ trống, đếm tại chỗ 9 xác); một cho tuần tra tiểu đoàn trinh sát, 2 ngàn mét phía hạ lưu sông Hương, rồi tới Đại Đội Alpha 1/ 5 gọi. Chẳng có bao giờ ngừng được. Landry và các người khác ngồi tựa lưng vào bờ tường làm bằng bao cát, mệt nhọc nói chuyện, hút thuốc và chờ nhiệm vụ tiếp. Vào khoảng 7 giờ sáng thì có điện gọi tới, yêu cầu bắn ít viên vào vị trí quân CSBV đang trấn giữ ngôi nhà trước mặt Đại Đội 1/ 1. Rồi lại có điện 2/5 gọi, yêu cầu tác xạ vào căn nhà có mấy quân CSBV núp bắn vào ban chỉ huy tiểu đoàn. Họ nã vào nơi yêu cầu ba quả.

                Landry lại nghe 2/5 gọi trong máy: “Bắn thẳng vào vị trí.”

                Đại đội 1/5 lại có yêu cầu mới: “Bắn đạn cay, làm cho địch sặc hơi cay phải bỏ vị trí.”

                Họ mới bắn được một số đạn thì Cọng Sản pháo bằng súng cối vào bến tàu, sau đó bắn thêm mấy tràng AK-47. Landry thấy một chiếc thuyền neo ở bờ bên kia sông Hương, bên phải, cách khoảng 8 trăm mét. Họ biết quân CSBV đặt súng trên chiếc thuyền ấy. Trung sĩ Reliss gọi cho đơn vị pháo 155 ly đóng ở Giạ-Lê, cách 6 dặm phía nam Huế. Yêu cầu pháo của viên trung sĩ bị từ chối vì tất cả các trọng pháo đang bận bắn yễm trợ hành quân. Quân CSBV bên kia cứ từng chặp bắn qua, đạn và mảnh nhiều khi trúng vào các bao cát đặt quanh các ụ súng cối. Bản năng tự nhiên của con người thúc đẩy người ta núp tránh sau chướng ngại, nhưng Landry biết họ không trốn tránh mãi được vì nhiệm vụ của một xạ thủ trọng pháo. Họ làm ngơ như không nghe tiếng đạn rít trên đầu và tiếp tục bắn pháo.

                Tiền sát viên thuộc Đại Đội 1/ 5 gọi, cho biết anh ta thấy hỏa tiễn bắn đi. Họ bắn mười quả qua sông và qua tường thành. Bất thần, có 4 trái nổ trên sông làm nước tóe lên, cách xa họ khoảng một trăm thước. Lệnh cho biết là đại bác howitzer ở Giạ Lê bắn tới. Reliss gọi máy báo cáo lại, yêu cầu ngưng bắn. Nhưng pháo binh báo cho biết họ đã bắn rồi. Quân CSBV bắn hỏa tiễn vào vị trí súng cối. Dù vậy, toán súng cối cứ tiếp tục bắn. Đại Đội Bravo 1/ 1 tiếp tục hành quân, yêu cầu bắn chỉ điểm vào vị trí súng cối địch; xong cho đạn nổ, vị trí tác xạ hết sức gần, nguy hiểm, chỉ khoảng 100 mét.

                Quân CSBV lại pháo súng cối và bắn sẻ. Một viên đạn súng cối nổ cách vị trí của Landry chỉ 10 thước. Vài người la lên. Hai TQLC của đơn vị chiến xa 1 đang sửa xe gần đó, viên đạn nổ ngay phía sau họ khiến một người bị một mảnh đạn, nhưng người kia thì bị nặng hơn và rơi từ trên pháo tháp xuống. Lúc đó chẳng có chiếc trực thăng nào sẵn cả. Mười phút sau có chiếc xe tải chạy tới và chuyển người bị thương vào trạm xá trong MACV.

                Súng cứ tiếp tục bắn đi từ chiếc thuyền neo trên sông Hương. Vài chiếc tàu đổ bộ LCU của Hải quân Mỹ chở hàng tiếp liệu đang đi ngược sông Hương buộc phải rút lui. Mười phút sau, hai chiếc tốc đỉnh của Hải Quân xuất hiện. Từ vị trí của mình, Landry có thể quan sát được toàn bộ khung cảnh khi hai chiếc tốc đỉnh tiến tới. Quân CSBV bắn vào hai chiếc tàu nầy. Hai chiếc tốc đỉnh phản ứng bằng đại bác 20 ly, bắn lên tường thành, lên bờ sông và nhà cửa trên bờ. Trung sĩ Reliss gọi cho MACV yêu cầu liên lạc với hai chiếc tốc đỉnh bắn vào chiếc thuyền trên sông. Không có kết quả. Mấy tên bắn sẻ CSBV lại tiếp tục nổ súng. Cuối cùng, toán súng cối la lên, đặt súng trên bao cát, bắn vào chiếc thuyền bằng chính súng M-16 của họ. Các thủy thủ trên tốc đỉnh vội vàng quay súng đại bác 20 ly và đại liên 50 nòng đôi bắn dọc theo bờ sông và vào chiếc thuyền neo trên sông.

                Và rồi bất thần, mọi sự im lặng. TQLC lại tiếp tục bắn pháo.

                Mười phút sau, họ thấy bóng người di chuyển trên cây cầu phía đông-bắc thành Huế (cầu Gia Hội – Ngd). TQLC không thấy rõ gì ngoại trừ thấy họ đội nón lá trắng. Landry nghĩ rằng có thể là quân CSBV đang xâm nhập nhưng thời gian nầy, ở đâu cũng có người chạy giặc nên cũng chẳng biết nói sao. Tuy nhiên, TQLC không bắn vào họ.

                Đại Đội 1/ 5 liên tiếp yêu cầu tác xạ. Nhiều lần trung sĩ Reliss biểu họ gọi cho các trận địa pháo đặt ngoại thành Huế. Một chút sau, đại bác hoạt động, tăng cường cho súng cối. Landry nghe M-16 và AK-47 nổ đủ mọi phía. Cuối cùng, khoảng 8 giờ rưởi, súng ngưng nổ. Một đoàn xe tải tới chở theo đạn dược. Cùng lúc, một toán dân thường chạy loạn xuất hiện trên đường phố, phía sau vị trí súng cối. Người dân lúc nào cũng làm cho Landry kinh ngạc, việc tác xạ sẽ trở nên khó khăn. Nhưng khi súng ngưng nổ thì họ lại bu tới coi như không có gì xảy ra. TQLC thường nghe chuyện binh lính CSBV giả làm dân thường nên họ cầm súng chỉa vào dân và la to lên. Các người dân chạy loạn lại chạy dạt đi. Một người lính TQLC đứng gần vị trí súng cối – anh nầy không mang lon lá gì cả, nhưng Landry nghĩ rằng anh ta là sĩ quan – gọi họ. Anh ta nói là binh lính sẽ bắn nếu họ lại liều lĩnh đến gần vị trí súng cối. Anh ta nói có vẽ hết sức nghiêm trang nên chẳng ai dám tới nữa.

                Quay trở lại nhiệm vụ tác xạ, họ bắn một loạt đạn do MACV yêu cầu nã vào vị trí tình nghi quân CSBV, che cho Đại Đội 1/ 5 vượt qua một con đường, cho một đơn vị thuộc trung đoàn 5/ TQLC ở ngoài thành phố, và Đại Đội 1/ 5 gọi bắn đạn cay vào vị trí quân CSBV – từ chối, bắn quá gần vị trí quân bạn làm họ e ngại. Đại Đội 1/ 5 lại gọi, xin tác xạ vào một vị trí súng máy địch, quá gần, chỉ 50 mét mà thôi.

                Tới chín giờ, nghỉ, ăn sáng bằng lương khô. Họ ngồi xuống đất, lấy muỗng múc đồ ăn ngọt thơm dịu, vừa ăn vừa nhìn tàu đổ bộ LCU vào bến. Tàu lũi vào bến chẳng màng tới việc các tay bắn sẻ đang nổ súng. Hai hỏa tiễn của quân CSBV bắn trúng vào bờ sông, mảnh đạn và bùn bay tung tóe. Đại bác 20ly và đại liên 50 nòng đôi trên tàu đổ bộ LCU bắn trả. Quân CSBV bắn theo một lúc rồi biến mất. Nửa giờ sau có lệnh kiểm soát tác xạ vì có không trợ. Có tiếng rít của mấy chiếc phản lực Phantoms từ phía sau vị trí súng cối, ầm ầm bay ngang qua trên đầu họ và bắn đại liên, thả bom 500-pound, rồi máy bay vụt biến mất. Cách vị trí súng cối cở mấy trăm thước (Landry và đồng đội đứng ngay hàng đầu quan sát), nhiều đoạn thành rung động và nổ tung, chấn động thật khủng khiếp, dội ngược về phía họ như gió đập qua cánh cửa xe đang chạy trên xa lộ.

                Mấy chiếc Phantoms lại quay trở lại và oanh tạc, rải đạn cay xuống trông như máy bay đang xịt thuốc ngày mùa. Tiếng súng quân CSBV im bặt. Tàu đổ bộ LCU lại vào bến. Một giờ sau, tàu LST của Hải Quân Mỹ chở đạn súng cối đến. Mọi người ai cũng nãn vì phải uống nước sông, vì thế trung sĩ Reliss nói với Landry và bạn thân của anh ta là Rabby đi tìm xem coi có thể chôm được ít nước ngọt và lương khô phần C từ chỗ mấy anh lính Mỹ trên tàu LST. Họ đi tới chỗ chiếc tàu neo, tay cầm phiếu mua hàng, đúng lúc có hai lính Mỹ đang đứng uống bia. Landry vừa định nói kiếm bia uống thì ầm, quân CSBV pháo kích. Anh ta té xuống sàn tàu một cú như trời giáng. Hông tàu lỗ chỗ nhiều vết đạn, thùng nước ngọt của tàu bay mất. Hai anh lính đang đứng uống bia chạy lẹ về vị trí đặt súng.

                Raby té xuống, nắm vào lưng của Landry la: “Tao bị rồi.” Landry thấy chân mình chảy máu – một mảnh nhỏ, không có gì nghiêm trọng lắm. Anh ta giúp Rabby đứng dậy trên sàn tàu, nơi có mấy người lính khác cũng bị thương. Chiếc tàu rú máy lùi khỏi bến để tránh tầm đạn địch. Landry không muốn ở gần số đạn mới vận chuyển tới, sợ bị bắn nữa, anh ta lại chẳng có súng ống gì trên tay cả, nên la lên biểu Rabby chạy xuống bến. Rabby bị thương nặng không chạy được. Landry vội nắm lấy tập phiếu mua hàng, phóng suống sông, nước ngang ngực. Anh ta vội vàng bơi vào bờ, phóng chạy rất nhanh qua khỏi chỗ các cây súng cối đang bị bỏ không, rồi vào một căn nhà đồng đội của anh đang núp ở đó.

    Một anh TQLC la to: “Thằng kia, mày may quá.”

    -“Hả?”

                – “Mày mới thoát một loạt đạn pháo.” Landry không tin, anh ta chẳng nghe gì hết. Anh ta chạy là chỉ vì sợ mà thôi.

                Một lát sau, tàu LST lại vào bến, dừng lại đó cho đến khi súng hết nổ. Rabby được đưa lên bờ. Toán súng cối lại tiếp tục hoạt động, bắn vào phía tây, yễm trợ cho một đoàn xe đang tiến về Huế, bắn về phía đông – vào Cồn Hến – vị trí quân CSBV ở đó. Pháo binh và máy bay Phantoms lại tấn công Thành Nội. Tàu đổ bộ LCU vào ra bến tàu. Sáu chiếc GMC liên tục vận chuyển đạn dược thêm. Một cuộc chạm súng xảy ra gần khách sạn nơi có nhiều người tỵ nạn đang ẩn náu. Trên sàn cao, phía trên đầu những người tỵ nạn, có ánh lửa của súng phát ra. TQLC lại nổ súng phản ứng. Từ trên thượng thành, quân CSBV lại nổ súng hỗ trợ. Các tài xế lái xe tải dùng đại liên 50 bắn trả quân địch, bắn qua sông Hương. Landry và đồng đội cầm súng M-16 bắn theo.

                Chiều hôm đó, thứ Tư, 21 tháng Hai, khu thành đông-bắc lọt vào tay TQLC. Họ hoàn thành sứ mạng, nhưng cuộc chiến cũng chưa chấm dứt. Trong khi họ chiến đấu giải tỏa khu Thành Nội thì quân đội VNCH chỉ ngồi chờ. TQLC/ Việt Nam tăng cường đánh chiếm được mục tiêu cuối cùng: Chiếm khu đông-nam Đại Nội, nhưng tình hình bên phía Việt Nam tiến triển rất chậm. Do đó, thiếu tá Thompson phải điều động đơn vị của ông qua phía phải để đảm nhận mục tiêu của Quân đội VNCH. Ông ta chỉ có một điều thuận lợi là có thêm một lực lượng tăng cường: Đại Đội Lima, Tiểu Đoàn 3, Trung Đoàn 5, Sư Đoàn 1/ TQLC/ HK do đại úy John D. Niotis làm đại đội trưởng.

                Trung sĩ Joseph L. McLaughlin, 24 tuổi, có gia đình, quê ở Braddock, tiểu bang Pennsylvania là hạ sĩ quan thuộc Trung Đội 1, Đại Đội Lima. Lần đầu tiên khi nghe tin đi Huế, anh ta tưởng được đi bồi dưỡng hàng năm, cho thế là hợp lý lắm. Đại đội Lima hành quân nhiều tuần vòng đai an ninh Đà-Nẵng. Vài binh sĩ của anh ta đã đi Huế, về khoe ầm lên về vẻ đẹp của thành phố nầy. Laughlin là người hoạt động rất hăng hái và được thưởng Anh dũng Bội tinh Ngôi Sao đồng vì chỉ huy hai tiểu đội giữ tiền đồn trong khu rừng trên cù lao Gò Nổi. Đơn vị anh ta bị địch tấn công dữ dội, máy bay trực thăng hỗ trợ bị bắn rớt. Laughlin chỉ huy 2 người đi cứu phi hành đoàn. Họ trốn qua đêm trong rừng, có bốn trực thăng yễm trợ; sau đó đánh cận chiến với địch.

                Ngày 20 tháng Hai, đại đội tới Phú Bài, ngủ qua đêm trong nhà bạt, sáng hôm sau thì lên xe GMC đi Huế. Mọi hy vọng được đi nghỉ đều tan biến. Họ đang trên đường ra mặt trận, có xe tăng dẫn đường và bọc hậu để giữ an ninh cho đoàn xe. Họ tới MACV, trên bờ nam sông Hương, và McLaughlin thấy những điều nghịch với anh ta suy nghĩ: Mọi thứ gì cũng có lỗ đạn, đường phố đầy gạch đá ngỗn ngang và vẫn còn đang đánh nhau. Anh ta gặp một người bạn cũ, anh nầy tới cùng với năm hay sáu TQLC thuộc Đại Đội 1/ 1.

                Anh ta nói đùa: “Này, mày tới đây chi vậy?”

                Người bạn nói: “Tất cả tao chỉ còn chừng nầy thôi.”

    McLaughlin biết mọi việc sẽ không có gì tốt đẹp đâu. Ba giờ chiều hôm đó, Đại Đội 3/ 5 được máy bay trực thăng đưa qua bên kia sông Hương, giữ vị trí nối tiếp với Đại Đội 1/ 5 ở phía đông-bắc Thành Nội.

                Thứ Năm, 22 tháng Hai, đại úy Niotis nhận lệnh tấn công cửa Thượng Tứ ở đông-nam Thành Nội. Hôm đó trời tốt hơn nên sau khi trời sáng, binh sĩ của anh di chuyển tới cửa Đông Ba để tiến tới mục tiêu. Trung sĩ McLaughlin, phụ tá cho anh ta cùng vài TQLC bắt đầu tiến trên đường. Phía trước, binh lính đi dàn ra hai bên đường, quan sát cẩn thận khi đi qua các ngôi nhà hai bên đường đi. Tới góc đường, họ tập trung để tổ chức lại đội hình. Chỗ hai con đường gặp nhau có hình chữ T. Ngay trước mặt là cửa Thượng Tứ, bên phải, cách vài trăm thước là con đường song song với tường thành mặt tiền Đại Nội.

                Viên phụ tá cầm ống nói từ hiệu thính viên gọi cho đại úy Niotis, trong khi McLaughlin đứng bên cạnh, chờ nghe lệnh. Tình hình lúc đó rất yên. Thình lình súng AK nổ, anh ta thấy một vệt trắng rơi bên cạnh. Các TQLC người thì té, người lao xuống đường. Anh ta ngồi xuống. Súng ngưng nổ liền tức khắc, mau như khi bắt đầu vậy. Hiệu thính viên té xuống đống gạch đá, chết tại chỗ, đạn xuyên vào áo giáp. Bên cạnh anh ta là hai TQLC bị thương. McLaughlin cùng hai TQLC chạy tới. Không có súng nổ. Họ vội vàng kéo những người thương vong lui đằng sau một ngôi nhà và gọi y tá.

                Họ bắt đầu bò lên phía trước.

                Có người la: “Chúng nó đây.”

                McLaughlin thấy vài binh sĩ của anh bắn vào một ngôi chùa Phật quá phía bên phải một chút, chỗ có mấy ngôi nhà nằm sâu vào phía trong đường. Cửa trước đóng, cửa sổ chỉ mở có một cánh, cách xa khoảng 9 bước. Vài TQLC chạy tới, nép sát tường, ra dấu cho một người tiến lên. Họ tống vào trong cửa sổ mười trái lựu đạn, nổ như giây chuyền. McLaughlin cùng vài TQLC chạy lên, đá cho cửa lớn mở tung, bắn mấy tràng đạn M-16 vào trong.

                Sau bàn thờ có hai CSBV nằm chết, xác banh ra vì lựu đạn.

                Họ tập hợp chung quanh ngôi chùa, chuẩn bị tiến về bên phải, dọc theo con đường khu cửa Thượng Tứ dẫn tới Đại Nội. McLaughlin đang ở đằng sau một ngôi nhà trong khi một phóng viên đài NBC đi tới, mang một dụng cụ kỳ quặc: Tòn ten trước ngực một cái gói có giây điện, bình điện, ông kính quay phim loại nhỏ, Anh phóng viên nói là anh ta sẽ đi tới khoảng giữa các ngôi nhà để quây vài cảnh Đại Nội.

                McLaughlin nói: “Chưa làm được. Tôi chẳng biết anh làm quái gì nhưng nếu anh bước ra khỏi đây với những dụng cụ kỳ cục như thế, mấy thằng cùi nghĩ là anh có vũ khí mới, nó sẽ dộng hết mọi thứ vào đây cho xem.”

                Anh nhà báo nhắm bộ không tin. McLaughlin đang giận, sợ và đau lòng vì những người vừa bị thương vong, bèn rút súng colt ra, nói với anh phóng viên: “Anh bước ra một bước là anh chết.” Anh chàng mang máy quay phim biến mất.

                Từ trong Đại Nội, súng bắn ra dữ dội. Đại đội phải thoái lui. McLaughlin dẫn một toán lên trên thành. Đó là chỗ đất cao, xây bằng gạch, có cây cối và bụi rậm, có hầm và xác chết quân CSBV. Lính bắt đầu tản ra. McLaughlin đứng lên, anh ta thấy đại úy Liotis, các sĩ quan và các hiệu thính viên đang nói chuyện vụ tấn công vào ngôi chùa lúc nảy. Anh ta quay lại và thấy sát chân anh là một cái hầm ngụy trang, một mũi súng AK đang ngọ ngoạy trong hầm. Anh ta sợ tái người, không dám nhúc nhích. “Ôi Chúa ơi! Quái quỷ thiệt, chắc tôi chết.” Mũi súng AK di chuyển xa ra, hướng về phía đường, chỗ ban chỉ huy Đại đội. Anh ta vội vàng chỉa súng vào miệng hầm bóp cò, rồi nhảy lui, mồ hôi toát ra, run lẩy bẩy. Người lính CSBV núp trong hầm chết ngay tức thì. Ba chiếc xe tăng rú máy chạy qua con đường và bắt đầu nổ súng bắn vào thành bao quanh Đại Nội. Quân CSBV cũng tiếp tục tác xạ và chỉ trong vòng năm phút, cả ba chiếc xe tăng đều bị trúng hỏa tiễn nên rú ga thối lui. Phía trước, cách khoảng một trăm mét của con đường trước mặt là một cổng thành hình cung ở phía đông-nam. Đại Đội Lima cố gắng vượt qua cửa thành ấy. McLaughlin cùng với mấy binh sĩ trong trung đội anh ta nằm ở bên sau một gốc cây ngang bức thành, đạn bay mù mịt khiến họ không dám đưa lên một ngón tay. Ngay bên dưới, anh ta thấy hai hay ba nhóm binh sĩ từ những ngôi nhà bên phải chạy băng qua đường, bổ nhào xuống đất. Tới lúc nầy, hai đại đội đã vượt qua được bức tường, khoảng một chục TQLC bị thương và chết.

                Một chiến xa loại nhỏ tiến lên, bắn che cho những người bị thương. Xạ thủ cho nổ hết cả sáu cây súng đại bác không giật, tài xế cho quay xe lại và đứng tại vị trí. Cửa chiến xa mở, toán binh sĩ bên trong nhào ra, khom xuống để tránh đạn, lại có tiếng đạn nổ. Những người bị thương cố gắng bò tới chỗ giữa con đường và bờ thành, chỗ nầy che đạn cũng không được kín lắm. Đạn vẫn bay tới như mưa.

                McLaughlin vẫn còn núp phía sau gốc cây, nhìn tới thấy một trong các tiểu đội trưởng, một hạ sĩ người Porto-Rico tên là Giullemo Collins đang bò ở một chỗ đất hơi lõm sâu, tại đây mấy người bị thương đang cụm vào nhau. Anh ta bò sát đất tới phía họ và cố cứu họ được chừng nào tốt chừng đó. Nhưng anh ta chẳng kéo ai lui được cả. Muốn kéo được, anh ta phải ngóc đầu cao lên chút ít nữa mà ngóc đầu cao có nghĩa chắc chắn là chết. Hạ sĩ Collins thất bại bò lui. McLaughlin thì nghĩ tại sao họ cố kéo những người bị thương ra để làm gì trong khi súng nổ dữ dội như thế nầy.

                Brian Mayer, tài xế xe thớt của Đại Đội 1/ 5 đang lái xe trên đường, khi anh ta quẹo phải ở góc đường để vào chỗ đại đội Lima đang đánh nhau thì thấy TQLC bắn như điên và chạy lung tung. Anh ta không biết chuyện gì xảy ra. Bỗng anh ta thấy mấy người bị thương chen nhau trong một cái hầm lộ thiên, cũng chưa biết chuyện gì xảy ra. Suốt trong mấy tháng huấn luyện, và trong tình chiến hữu, anh ta sống một cách tự nhiên nên anh lái thẳng chiếc xe thớt tới phía họ. Nhưng chỉ phút chốc, anh ta thấy sợ khiếp. Từ Đại Nội, súng bắn ra dữ dội. TQLC thì núp trong nhà dân bắn trả. Mayer thấy hình như có đạn rơi lụp bụp bên cạnh. Chiếc xe dội trên đường như khùng nên anh ta cho xe ngừng lại, nhảy xuống và chạy tới chỗ mấy người bị thương. Anh ta đưa mấy người đó lên xe rồi lái xe chạy đi. Súng bắn đuổi theo. Từ đầu chí cuối, súng cứ nổ về phía anh mà anh thì chẳng hề hấn gì cả. Mayer nhìn lui, thấy một TQLC đang quì trên cái gờ của xe thớt. Anh ta la to cho những người khác giúp kéo người ấy lên hẵn trên xe. Xong anh chạy thẳng về trạm cứu thương. Trên tường thành, McLaughlin kinh ngạc nhìn và nghĩ rằng chẳng có cách nào mà người ta có thể sống được trong cảnh lửa đạn như thế nầy. Quả vậy, trong khi anh ta lắc đầu kinh ngạc, và nghĩ làm cách nào để đưa những người bị thương ra khỏi đây thì thấy chiếc xe thớt quay trở lui. Thớt xe trống, sẵn sàng đón thêm người bị thương khác. Anh ta nhìn người tài xế ngồi chóc ngóc trống không, lái xe chạy vào chỗ đạn bay qua lại như đan chéo vào nhau, đưa người bị thương cuối cùng lên xe rồi lại chạy đi một lần thứ hai nữa. Thiệt không thể tin được. Anh chàng nầy là ai vậy? Dù anh ta là ai, thì cùng phải thưởng cho anh một Anh dũng Bội tinh Ngôi Sao đồng.

                Súng vẫn tiếp tục nổ. Một vài cố vấn quân sự Úc và quân đội VNCH tiến lên ngôi chùa bên cạnh, mang theo một cây súng đại bác 106 ly không giật, hòa chung âm thanh hỗn độn bằng cách bắn mấy quả vào tường thành Thành Nội. Mặt trời cao, trời sáng tỏ. Cuối cùng, cửa Thượng Tứ biến thành một mục tiêu hợp pháp để có thể bị tấn công bằng súng lớn. Do dó, đại úy Niotis gọi máy bay. Một phi đội Phantoms bay tới, bắn vào nóc vọng lâu và thả bom lửa vào tường thành. Bom thả xuống, lắc lư. Máy bay bay ngược lên. Phía trước mặt các TQLC, cách khoảng một trăm mét, lửa bùng lên cuồn cuộn, hơi nóng và khói lan tới tuyến đầu của tiểu đoàn. Quân CSBV bắn càng lúc càng yếu đi. Đại Đội Lima chiếm lĩnh mục tiêu.

                Trong khi Đại Đội Lima tấn công, thiếu tá Thompson xử dụng quân số còn lại tổ chức một cuộc tấn công đồng bộ khác. Thompson, ban chỉ huy tiểu đoàn, di chuyển vào một ngôi nhà thuộc cơ quan hành chính do Đại Đội Alpha chiếm được trong cuộc tấn công đêm và chỉ huy cuộc tấn chiếm mục tiêu cách khoảng vài trăm thước. Cuộc tấn công tiến triển tốt đẹp, theo một chiến thuật khá cổ điển, gồm bộ binh, thiết giáp và không quân. Một chiếc xe tăng do một trung sĩ chỉ huy, sẵn sàng bên cạnh, nã đại bác 90 ly vào nhiều mục tiêu khác nhau. Trong niềm hứng khởi và sự đa dạng của trận đánh, Thompson chú ý thấy viên trung sĩ quay mũi đại bác về hướng ban chỉ huy. Nòng súng quay đi nhưng một chốc lại nhắm vào mục tiêu, rồi bất thần súng nổ. Thompson và mọi người cúi xuống tránh đạn. Đạn nổ nhưng không ai can gì! Họ nhìn ra bên ngoài, một cửa thành vòng cung giữa họ và chiếc xe tăng vở nát, cát bụi bay tung tóe. Viên trung sĩ thấy mặt họ ở khung cửa sổ nên cho nã đại liên 50 tới, khiến họ phải cúi đầu tránh đạn. Mãi đến khi thiếu tá Lynn Wunderlich, sĩ quan hành quân tiểu đoàn, một người điềm tỉnh bậc nhứt mà Thompson chưa bao giờ thấy trong khi đang lâm trận, nắm lấy ống nói gọi cho viên trung sĩ hỏi anh ta bắn gì kỳ cục vậy thì chiếc xe tăng mới quay súng bắn về phía địch.

                Đại Đội Alpha tiến quân cùng với Đại Đội Lima ở khu thành đông-nam, chuẩn bị tấn công. Họ đang chờ ở chỗ có nhiều gạch đá vôi vữa tùm lum, thỉnh thoảng địch pháo đạn cối tới. Thiếu úy Polk tìm thấy một cây đàn ghi-ta bị bể bèn lấy đánh thử chơi. Người hiệu thính viên trẻ của anh ta nói chen vào: “Này, thiếu úy, tôi trèo lên trên tường trước.”

                Polk vừa tiếp tục đánh đàn vừa nói: “Nếu chú mày gan cùng mình thì cứ lên.”

                Bỗng có lệnh tấn công, họ tiến về phía địch. Tới một giờ trưa thì họ củng cố được vị trí trên cửa thành đông-nam. Một trong các binh sĩ của Polk, hạ sĩ James Avella, 21 tuổi quê ở New Jersey, lôi một lá cờ trong ba-lô của anh ta ra, cột vào một cây sắt nhỏ, trèo lên trên mái nhà thiếc, buộc vào cột điện thoại.

                Có lẽ hôm đó những người hạnh phúc nhất là binh sĩ của đại úy Jennings thuộc Đại đội Bravo. Trận mạc hầu như chấm dứt, và nhờ có Đại Đội Lima tăng cường, Đại đội Bravo, đơn vị TQLC đầu tiên hành quân trong Thành Nội, được đưa lên xe về nghỉ dưỡng quân và bổ sung quân số ở Phú Bài. Báo chí mô tả đơn vị được ra về như là kiệt sức, hao hụt quân số, nhưng tinh thần vẫn còn dũng cảm. Họ cũng may mắn. Đại Đội Bravo, cho tới ngày chót ở Huế, vẫn còn có người bị thương và chết, nhưng đến khi đại đội lên đường về hậu cứ, vẫn còn 61 người khỏe mạnh.

                Đại đội Lima bố trí ngủ qua đêm dọc theo bờ thành. Trung sĩ McLaughlin nói chuyện với hạ sĩ Collins, anh hạ sĩ trẻ được thưởng Anh dũng Bội tinh Ngôi Sao đồng vì đã cứu được ba đồng đội bị thương. Collins nói với viên trung sĩ về một trong những người bị thương là một xạ thủ đại bác không giật 3.5 inch, hạ sĩ Thomas E. Falk. Khi Collins tới băng bó cho anh ta, anh ta biểu đi lo cho người khác đi vì anh bị thương nặng lắm, có cứu cũng vô ích. Tới lúc anh ta đưa hết những người bị thương về tới trạm xá thì Falk qua đời.

                McLaughlin biết Falk toàn về những điều sai trái mà thôi, chẳng hạn như bắt gặp anh ta gác mà ngủ gục, mặc dù anh ta không phải là người thường gây phiền nhiễu cho đồng đội, nhưng mỗi khi có chuyện rắc rối thì bao giờ cũng có anh ta dính dáng vào. McLaughlin nghĩ có lẽ trước kia anh ta có một vấn đề gì đó, nhưng đến phút cuối, anh ta bèn đăng vào TQLC.

                Vì vậy, McLaughlin viết thư cho mẹ của Falk.

    &

                Lúc mười giờ sáng, McLaughlin đang ở với trung đội của anh, phía sau ba chiếc xe tăng đang nã đạn vào Đại Nội. Một phát đạn súng đại bác không giật 106 ly bắn tới, một hỏa tiễn B-40 bay ra và chỉ trong vòng mấy giây, cả ba chiếc tăng đều bị trúng đạn. Xe tăng rú ga tháo lui, bộ binh cúi đầu lom khom chạy theo, núp đạn bên hông xe tăng. Bất thần, lựu đạn nổ ầm ầm quanh họ. Quân CSBV núp dọc theo đường, bên trong những bức tường trong sân ném ra. Ai nấy vừa la vừa bắn, chạy tán loạn. Một quả lựu đạn rơi vào chân một TQLC, anh ta bèn nhảy ngược ra sau, ngay giữa đường trong khi xe tăng đang chạy tới, cán ngang người anh. Chưa chết hẵn, anh ta còn kêu la. Người bạn thân của anh, đang chạy bên lề đường, thấy thế chỉ biết khóc. Trong danh sách báo cáo thì nói anh ta bị xe tăng cán chết, nhưng trong thực tế thì McLaughlin đã bắn anh ta chết bằng một phát ân huệ để giải thoát cho anh khỏi cơn đau kinh khiếp đó.

                Vì có lệnh của tướng Lãm hạn chế hỏa lực bắn vào Đại Nội, nên một kiểm soát viên ngồi trên máy bay quan sát chiến thuật được xử dụng tại chỗ. Anh ta kiểm soát phi vụ của một chiếc A-4 sử dụng bom nổ và bom lửa để tấn công khu thành đông-bắc. Máy bay anh ta bị quân CSBV bắn rớt. TQLC cứu được quan sát viên, phi công tử trận. Các cuộc không tập bị đình hoãn.

                Đại Đội Lima bắt đầu tiến vào các dãy nhà trên đường tấn công, đánh chiếm từng nhà bằng lựu đạn, xông vào cửa. Họ vào một ngôi nhà và chuẩn bị tấn công ngôi nhà bên cạnh. McLaughlin bỏ súng xuống để lấy hai quả lựu đạn trong áo giáp ra, nói với binh lính chuẩn bị xông vào nhà sau khi nghe lựu đạn nổ. Anh ta nắm mỗi tay một quả lựu đạn, lấy răng cắn để rút hai cái chốt ở lựu đạn ra, tay giữ chặt mỏ vịt, đi nhẹ vào một con hẽm hẹp nằm giữa hai ngôi nhà. Khi anh ta vừa tới khung cửa sổ có chắn song gỗ thì chợt nhìn thấy ở cuối hẽm là một lính CSBV. Anh ta thấy rõ lắm vì bức tường chỉ cao tới thắt lưng. Người lính CSBV đang vác cây súng B-40 nhắm vào McLaughlin mà bắn. Anh ta nhào lui ra sau thì vừa lúc quả đạn B-40 bay tới, nổ vào hàng rào gỗ phía sau. McLaughlin ném một lần hai quả lựu đạn vào địch thủ rồi chạy ngược lại ngôi nhà cũ tìm cây súng.

                Trận đánh tiếp diễn. TQLC tiếp tục tấn công từng nhà một, quăng hàng chục lựu đạn, dùng M-16 quét từng phòng. Họ giết được mấy lính CSBV khi những người nầy từ một quán hớt tóc phóng qua bên kia đường. McLaughlin và vài TQLC xông vào quán, bắn lia lịa, diệt hết lính CSBV còn núp bên trong. Bên kia đường, cách khoảng năm mươi mét, vài quân CSBV còn bắn lóc chóc. TQLC đi vòng phía sau, bò sát xuống đống gạch ngói vụn, và nổ súng vào quân địch.

                Mọi người an toàn. Lúc đó, họ không thể tấn công binh lính CSBV bố trí phía trước quán được. Cuối cùng, một xạ thủ đại liên M-60, một anh chàng tóc đỏ, lực lưỡng, bỏ súng, nắm hai quả lựu đạn, chạy vào trong quán – quân CSBV có thể thấy được vì bị tấm gương soi phản chiếu hoàn toàn – chạy lên lầu hai, quăng lựu đạn vào vị trí địch. Lựu đạn nổ, McLaughlin và đồng đội cúi xuống tránh mảnh đạn cũng như gạch cát gỗ bay tung tóe. Khi bụi cát tản bớt, anh xạ thủ đại liên chạy về phía đồng đội, thở hổn hển, mắt anh ta sáng lên như muốn nói: “Tôi diệt được mấy thằng đó rồi.” Anh ta lại lấy thêm lựu đạn, chạy lên lầu hai. Lựu đạn lại nổ ầm ầm. Anh ta chạy xuống và tiếp tục quăng lựu đạn lần thứ ba. Xong, anh ta bò lui để tránh đạn vì quân CSBV bắn vào quán như mưa. Tuy nhiên, anh ta chẳng chợt một chút da. Địch ngưng bắn.

                Trung đội lại tập hợp bên trong quán. Khoảng một giờ sau, McLaughlin ngạc nhiên thấy một gia đình người Việt Nam đi qua chỗ gạch ngói đổ để vào quán hớt tóc. Người cha thì lo dọn dẹp kiếng bể, người mẹ và các con thì kéo xác lính CSBV chết ra ngoài, để ở phía sân sau. McLaughlin ngạc nhiên vì thấy thái độ lãnh đạm của họ trước cảnh chết chóc nầy. Anh ta nghĩ chắc họ cũng thường gặp cảnh trạng như vậy rồi!

                Ngày hôm trước, 22 tháng Hai, trung sĩ Dye bị thương. Anh ta đang tiến tới trước cùng Đại Đội Delta thì súng từ trong Đại Nội bắn ra dữ dội. Anh ta trốn sau bức tường đổ cùng nhiếp ảnh viên của TQLC, hạ sĩ J.C. Pennington, khi một quả B-40 nổ bên cạnh, làm cho đá cát và mảnh đạn bay tung lên. Penny bị thương nhẹ ở đầu còn Dye thì bị thương ở cánh tay trái, vai và chân. Họ băng cho nhau và quay lui tìm y tá. Xong, Dye trở lại tiếp tục chiến đấu.

                Bây giờ anh ta hành quân cùng với một tiểu đội của Đại đội Alpha tiến về phía Đại Nội. Họ cẩn thận di chuyển về phía trước, qua các ngôi nhà bị bắn phá hư hỏng, tiến sát bờ thành Đại Nội mà không bị địch phát hiện. Trên thành có nhiều lỗ hổng do xe tăng bắn thủng. TQLC trèo qua thành bằng những lỗ hỗng đó rồi tản ra. Phía trong lại có một bức thành nữa và một cái hồ. Quanh đó là những con đường hẹp, những cái lều lợp thiếc và cung điện. Khi họ đang lục soát những căn nhà nầy thì có một ông già từ trong một căn nhà khác chạy ra, hai tay đưa lên đầu. TQLC bao quanh ông ta hỏi: “Vixi đâu? Vixi đâu?” Người đàn ông chỉ về phía đông bắc, ở đó, quân đội VNCH đang giữ một phòng tuyến. Mọi người cũng đã vượt qua đó và quyết định không tiến về phía ông già chỉ.

                Kế là một cung điện mái lợp ngói, trang trí đẹp đẻ. Một tiểu đội cẩn thận tiến lên cầu thang. Họ dừng lại bên ngoài cửa, quả tình không muốn xem phía bên kia có gì. Nhưng Dye thì tò mò. Anh ta ló đầu qua cửa, chẳng thấy gì hết nên bước vào trong. Một người lính đi phía sau anh ta nói nhỏ: “Nầy, coi chừng bị bẫy.” Dye rón rén đi vào trong. Anh ta muốn xem thử có gì bên trong. Thực sự anh ta đã ở trong hoàng thành. Nó là cực điểm của toàn bộ trận chiến nầy. Anh ta lặng lẽ đi qua hết phòng nầy tới phòng nọ, nắm chắc súng M-16, sợ điếng người, mồ hôi ra như tắm. Anh ta đi xuyên qua một cái cửa khác và anh ta tới đây: Chánh Điện, nơi có đặt ngai vàng của hoàng đế. Tường sơn đỏ vàng óng ánh. Hai cái ngai vàng,  một cái lớn và một cái nhỏ, đặt trên bệ cao. (Có thể người viết sai ở chỗ nầy, trong Đại Nội chỉ có một ngai vàng của vua, không có ngai của hoàng hậu như bên Âu Tây – ngd). Anh ta e sợ nhìn vào cái ngai sơn son thếp vàng, chạm hình rồng và sư tử. (Năm 1950, tôi đã thấy cái ngai ở điện Thái Hòa. Ngai chạm rồng, không chạm hình sư tử – ngd). Anh ta như bị mê hoặc, tự hỏi các tay hiệp sĩ cảm nhận gì khi đã lọt vào một cung điện như thế nầy! Ánh sáng từ khung cửa sổ bên trái rọi vào, hai người lính CSBV nằm cạnh cửa. Dye cầm súng đi về phía cửa sổ, nòng súng chỉ thẳng vào hai người lính CSBV nhưng họ đã chết cứng tự bao giờ.

                Anh ta bỗng nhận ra tất cả TQLC đã vào bên trong điện cùng với anh. Anh ta cười, nói với binh lính là hình như có điều gì buồn cười và thiếu tôn kính. Các TQLC nhăn răng cười rồi họ quay ra ngoài.

                Đến sáng thứ Bảy, 24 tháng Hai, tiểu đoàn của thiếu tá Thompson thực hiện xong nhiệm vụ đánh đuổi quân Cộng Sản ra khỏi Thành Nội. Ba ngày trước, bốn tiểu đoàn của Sư đoàn 1 Không Kỵ cùng với không quân, pháo binh, hải pháo, và trực thăng vũ trang quét sạch Bộ Chỉ Huy Cao Cấp Quân CSBV và địa điểm tiếp liệu của họ ở phía tây Huế, thuộc khu rừng của làng La Chữ (Thuộc làng La Chữ – truy tìm và tấn công ngay vào bộ tư lệnh chiến trường, địch phải bỏ chạy. Đó là chiến thuật vẫn xử dụng trong chiến tranh Việt Nam như trận Dambe, trận Việt Cộng tấn công vào nhà máy Ximăng Hà Tiên năm 1974, tôi tham gia bên lực lượng phòng thủ và tấn công vào bộ tư lệnh chiến trường nên Việt Cộng rút chạy khỏi nhà máy ximăng – ngd).

                Lực lượng Mỹ cũng đã chận đứng được con đường tiếp liệu cho các đơn vị binh lính cuối cùng của CSBV trong thành phố. Ngày 23 tháng Hai, bộ chỉ huy địch, trung đoàn 6 CSBV ra lệnh rút lui. Họ bắt đầu rút xa khỏi các đơn vị TQLC, vừa đánh vừa rút qua vị trí của quân đội VNCH để đi về phía tây, cố tránh bị pháo kích liên tục trên đường trốn chạy.

                Chỉ có một con đường phía trước TQLC chưa được củng cố nằm kế Đại Nội. Đại đội Lima bố trí ở phía thành đông-nam, chuẩn bị tấn công. Ai cũng ngán bởi vì họ phải vượt qua một khoảng trống vài trăm mét giữa họ và tường thành Đại Nội. Họ e rằng sẽ có một cuộc tắm máu như ngày 22. Nhưng 15 phút trước khi khởi sự thì lại có lệnh quân đội VNCH đến thế chân họ. Thompson đã lập kế hoạch cho TQLC tấn công nhưng phía chính phủ Việt Nam thì muốn chính quân đội của họ đảm nhận nhiệm vụ nầy. Đó là vấn đề danh dự.

                Đại đội Lima ngồi quan sát đại đội Hắc Báo, do đại úy Coolican làm cố vấn và đại úy Huế làm đại đội trưởng, từ phía hông họ tiến lên, xông thẳng vào Đại Nội, vừa hô xung phong vừa bắn. Họ mang theo thang trèo tường hay chui qua các lỗ hổng do đại bác trên xe tăng đã phá sẵn. Từ chỗ úp an toàn, TQLC ngồi nhìn trận đánh, sẵn sàng nổ súng tiếp ứng nếu quân CSBV xuất hiện. Họ nói với nhau: “Coi! Mấy tay nầy làm chuyện nhảm không!”

                – “Vâng, nhưng họ đánh hay hơn bọn mình đấy!”

                McLaughlin cho là nhiều TQLC muốn chê Quân Đội VNCH nhưng quả thật những người lính Hắc Báo nầy chẳng biết sợ là gì cả!

                Quân Đội VNCH lọt vào trong Đại Nội, tiếp đó là hơn 200 lính của Tiểu Đoàn 2, Trung Đoàn 3. Súng chẳng nổ bao nhiêu. Quân CSBV đã rút, đêm trước, những kẻ sống sót sau cùng đã rút lui, vượt qua tuyến phòng ngự của Quân Đội VNCH. Họ để lại mấy quả đạn không nổ, vài thứ trang bị, xác chó và xác ngựa, bò mà họ đã ăn trong khi đói. Người ta cũng tìm được hai người lính trinh sát của Quân Đội VNCH. Họ bị mất liên lạc với đơn vị, và suốt trong thời gian trận đánh diễn ra, họ phải trốn bên trong vị trí của quân Cộng Sản. Trông họ hốc hác và gần như muốn điên vì mừng khi được Đại Đội Hắc Báo giải thoát.

                Lá cờ Cộng Sản treo trên cột cờ Ngọ Môn hai mươi lăm ngày thì nay bị kéo xuống và Đại Đội Hắc Báo treo vào đó lá cờ vàng đỏ của Việt Nam Cọng Hòa. TQLC/ HK và Quân Đội VNCH hoan hô vui mừng khi thấy lá cờ vàng được kéo lên. Thiếu tá Thompson nghĩ rằng Quân Đội VNCH đã kéo cờ lên kỳ đài, và ông ta thấy vui khi Đại Đội Hắc Báo được giao nhiệm vụ vinh quang ấy. Ông ta đã từng thấy đại úy cố vấn Cooligan cùng binh lính của ông khi chiến đấu. Cooligan cùng đi với họ, tham gia mọi trận đánh. Nhưng Thompson nghĩ họ phải biết một ngoại lệ: Tài liệu ở MAC.V cho biết Quân Đội VNCH, với sự hỗ trợ của Đại Đội 1/ 5 đã đánh đuổi quân Cộng Sản BV ra khỏi Thành Nội. Trong suốt trận chiến, ở MAC.V có những lời đồn nhảm nhí cho rằng Tiểu Đoàn 1, Trung Đoàn 5 TQLC/ HK đã đánh đuổi Cộng Sản ra khỏi Thành Nội, còn quân đội VNCH chỉ ngồi xem mà thôi.

                Cuối ngày hôm đó, Thompson và ban chỉ huy của ông đi thăm các đại đội, thấy có một đám lính Cọng Hòa Việt Nam không có cấp chỉ huy, đi cướp của trên đường phố. Bọn chúng phá cửa vào các quán tiệm lấy máy truyền hình, tủ lạnh bỏ lên xe GMC rồi chở đi. (Tiệm Việt Tuyến ở đường Trần Hưng Đạo bị cướp, hàng chở bằng xe GMC – ngd)

                Ngày 25 tháng Hai, p