Hạo Nam / Tạp chí Luật Khoa
20/6/2025
Bên trên một sạp báo thường thấy ở Việt Nam ngày nay, với những cái tên tòa soạn quen thuộc. Nguồn ảnh: Báo Lao động thủ đô.
Nếu tính từ cột mốc Gia Định Báo (1865), báo chí tiếng Việt đã có 160 năm lịch sử. Nếu xét bối cảnh ngày nay, cả nước có khoảng 820 cơ quan báo chí và chủ yếu là báo chí cách mạng. Nhưng nếu nhìn nhận từ những giá trị căn bản, cốt lõi, liệu ở Việt Nam có từng tồn tại báo chí đúng nghĩa?
Sự thật, độc lập, công bằng, nhân đạo và trách nhiệm giải trình là năm nguyên tắc cơ bản trong bộ quy tắc đạo đức của báo chí toàn cầu, do Hiệp hội Ký giả Chuyên nghiệp (SPJ) khởi xướng. [1] Đối với các tổ chức báo chí của bất kỳ quốc gia nào, đây là các nguyên tắc tối thiểu.
Nhưng, ở Việt Nam ngày nay, báo chí lại được định nghĩa theo một hướng khác với những nguyên tắc riêng biệt hoàn toàn: đó là một nền “báo chí cách mạng” với mỗi nhà báo là mỗi “chiến sĩ trên mặt trận tư tưởng của đảng”. [2]
Xét trong bối cảnh ấy ở Việt Nam, liệu một nền báo chí đúng nghĩa có thực sự tồn tại? Để trả lời cho câu hỏi này, ta cần phải tìm về ngọn nguồn của nền báo chí đó.
Khi nhìn lại lịch sử, nền báo chí Việt Nam được khai sinh trong giai đoạn người Pháp thiết lập một nền thuộc địa toàn trị ở Nam Kỳ.
Theo tác giả Đặng Thị Vân Chi, những tờ báo đầu tiên như Gia Định Báo, Phan Yên Báo ở Sài Gòn, đã hoạt động chủ yếu như là công cụ để tuyên truyền cho người Pháp hơn là chức năng thông tin hay truyền bá các tư tưởng cấp tiến lúc bấy giờ cho người dân. [3]
Chân dung Trương Vĩnh Kỹ và một trang trên tờ Gia Định Báo. Nguồn: libero.school
Người Pháp cũng đã sớm ban hành sắc lệnh để giới hạn các quyền tự do báo chí ở Đông Dương. Theo đó, chỉ quan toàn quyền Đông Dương mới có quyền cấp phép để một tờ báo được hoạt động, và phải theo các khuôn khổ do chính quyền thực dân quy định. Đồng thời, giấy phép cũng có thể bị thu hồi khi cần thiết và việc cấp giấy phép cũng rất khó khăn.
Như vậy, vào thời kỳ Pháp thuộc, trên thực tế không hề có tự do báo chí, mà chỉ có “lưỡi kéo của chế độ kiểm duyệt”. Điều này vô tình đã thiết lập tiền lệ cho một nền báo chí Việt Nam mang đậm bản chất là công cụ của nhà cầm quyền.
Đến thời kỳ Việt Nam Cộng hòa, mặc dù đang trong thời chiến, nền báo chí Việt Nam đã có bước phát triển, với sự ra đời của các tờ báo như Tự Do, Thời Luận hay Chính Luận v.v. Nền báo chí đó, dù chỉ tồn tại vỏn vẹn trong 20 năm, đã tạo được tiếng nói và lập trường chính trị riêng cho mình. Thậm chí, nhiều tờ báo như Sóng Thần, Điện Tín còn đóng vai trò là kênh phản biện xã hội và vận động phản chiến, khi đã nhiều lần công khai chỉ trích chính quyền Cộng hòa. [4]
Trang nhất của tờ Sóng Thần, số ra ngày 11/5/1974, với nhiều nội dung chỉ trích chính quyền Hoa Kỳ lẫn chính quyền Sài Gòn. Nguồn: Kho Sách Xưa.
Dẫn đến, chính quyền Cộng hòa đã nhiều lần gây áp lực lên các cơ quan báo chí vì lý do chính trị, thậm chí, là đình chỉ hoạt động của tòa soạn hoặc bỏ tù nhà báo có tiếng nói trái chiều – trường hợp từng xảy ra dưới thời tổng thống Ngô Đình Diệm. [5]
Do vậy, xét cho cùng, nền báo chí ấy vẫn là một nền báo chí bạo động, bị giật dây và vẫn còn bị giới hạn nhất định về các quyền tự do báo chí. [6] Đây cũng là một đặc trưng vốn có của báo chí trong thời chiến. [7]
Trái ngược với ở miền Bắc, phía Việt Nam Dân Chủ Cộng hòa, nơi đã không tồn tại bất kỳ một cơ quan báo chí nào để đưa thông tin chân thực về cuộc chiến hoặc đóng vai trò phản chiến, như điều nền báo chí miền Nam – vốn đang tồn tại song hành – vẫn xem như sứ mệnh. [8]
Tờ Cứu Quốc và tờ Cờ Giải Phóng, hai trong số những tờ báo cách mạng tiêu biểu của miền Bắc giai đoạn 1930 – 1975. Nguồn: Báo Cao Bằng.
Sau 71 năm thoát khỏi nền chính trị thực dân và 50 năm kết thúc cuộc nội chiến, báo chí Việt Nam trong thời bình, tưởng chừng sẽ mang trong mình những đặc tính như tự do, khách quan và minh bạch – tức những yếu tố cơ bản nhất mà nền báo chí thế giới đang theo đuổi. [9]
Thế nhưng, ngược lại, nền báo chí Việt Nam hiện nay đã thu mình trong định nghĩa “báo chí cách mạng”. Thuật ngữ này được nhiều cơ quan báo chí nhà nước dẫn lại từ lý tưởng đã đưa đến sự ra đời của tờ Thanh Niên, do Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh sáng lập vào ngày 21/6/1925 tại Quảng Châu, Trung Quốc. [10] Nhưng sâu xa hơn, thuật ngữ này có xuất phát điểm từ các tác phẩm của Lênin, được xuất bản vào những năm đầu của thế kỷ 20. [11]
Chân dung Nguyễn Ái Quốc và những tờ “báo chí cách mạng” buổi đầu do nhân vật này sáng lập. Nguồn: Báo Quân đội nhân dân.
Trong một bài chia sẻ của tác giả Nguyễn Việt Thanh, sau Cách mạng Tháng Mười năm 1917, Đảng Cộng sản Liên Xô đã bác bỏ tính phổ quát của tự do báo chí vì cho rằng “Tự do ngôn luận là một thiên kiến tư sản” (free speech is a bourgeois prejudice). [12] Thay vào đó, báo chí phải mang “tính đảng” trong việc truyền đạt ý chí của đảng cầm quyền đến tới người dân và xã hội.
Điều này cũng tương tự cách hiểu phổ biến ở Việt Nam hiện nay. PGS. TS Nguyễn Văn Dững, một giảng viên đã có nhiều năm đào tạo sinh viên báo chí, đã có định nghĩa về “báo chí cách mạng” trong một bài viết gần đây của ông. [13] Theo ông, “báo chí cách mạng là báo chí của đảng. Đảng mạnh thì báo chí mới mạnh”. Cũng tức là, báo chí Việt Nam ngày nay có tồn tại và phát triển được hay không, đều phụ thuộc vào sự có mặt của Đảng Cộng sản.
Trong một bài viết khác đăng trên Báo VOV, nhiều chuyên gia lý luận trong nước đã nhận định rằng báo chí phải kiêm cả hai vai trò gồm “lá chắn trên mặt trận tư tưởng của đảng” và vũ khí sắc bén trong “sự nghiệp phò chính trừ tà”. [14]
Không gian báo chí đã vô tình đã trở thành một trại lính, nơi mà mỗi nhà báo được xem như những chiến sĩ bảo vệ cho đảng. [15] Điều đó bộc lộ bản chất rằng báo chí chỉ như là một công cụ tuyên truyền hữu hiệu cho chính quyền.
Nếu xét về công cụ tuyên truyền, thì hiện nay, đảng đã sẵn có hàng loạt. Có thể kể đến như Ban Tuyên giáo, Hội đồng lý luận Trung ương, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và hơn 10.000 lực lượng tuyên truyền viên (số liệu năm 2017). [16] Con số này còn cộng thêm hơn 820 cơ quan báo chí, truyền thông thuộc nhà nước. [17]
Một sạp báo vỉa hè ở Việt Nam ngày nay, với hàng loạt các tờ nhật báo và tạp chí mà đa số là các kênh ngôn luận thuộc quản lý của các cơ quan, ban ngành nhà nước. Nguồn ảnh: Báo Đại Đoàn Kết.
Ở một khía cạnh khác, Luật Báo chí 2016 tuy được xem là cơ sở hoạch định đường lối hoạt động báo chí trong nước, nhưng lại chứa đựng những nội hàm đầy mâu thuẫn. [18] Đơn cử, Điều 4 của Luật có quy định “báo chí là cơ quan ngôn luận của đảng”, nhưng đồng thời cũng khẳng định báo chí là “diễn đàn thảo luận của nhân dân”. Thực tế, không thể tồn tại thứ vai trò kép này.
Hay trong Điều 13 của luật này có quy định: “Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để công dân thực hiện quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận” và “báo chí sẽ không bị kiểm duyệt trước khi in, truyền dẫn và phát sóng”.
Tuy nhiên, khái niệm “tự do” này ngay lập tức bị giới hạn bởi yêu sách “Không ai được lạm dụng quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận để xâm hại lợi ích của nhà nước, của tổ chức và cá nhân”.
Điều 9 của Luật Báo chí 2016 cũng liệt kê hàng loạt các hành vi bị cấm trong môi trường báo chí, chẳng hạn như: “Xuyên tạc, phủ nhận chính quyền nhân dân”, “phủ nhận lịch sử, thành tựu cách mạng”, v.v.
Có thể thấy, các yếu tố pháp lý trên đã vai trò hóa báo chí như một công cụ tuyên truyền, và cách làm này như ta thấy, đã bắt rễ sâu từ trong lịch sử. Đó là thiên lịch sử chung của một nền ý thức hệ nối dài từ Liên Xô đến Việt Nam, để rồi từ đó kiến tạo nên một số phận chung cho cả hai nền báo chí. Suy cho cùng, lịch sử báo chí của Việt Nam cho thấy, báo chí vẫn chưa thực sự thoát ra khỏi quỹ đạo nhất quán của tính công cụ. Nó chưa bao giờ trải qua một thời kỳ độc lập thực sự. [19] Nó chỉ tiến lên từ một công cụ của nhà nước thuộc địa, rồi trở thành một công cụ của nhà nước xã hội chủ nghĩa, do một đảng cầm quyền như hiện nay, với danh xưng là “báo chí cách mạng”.
https://luatkhoa.com/2025/06/bao-chi-co-thuc-su-ton-tai-o-viet-nam/https://luatkhoa.com/2025/06/bao-chi-co-thuc-su-ton-tai-o-viet-nam/
Không có nhận xét nào