Kinh tế trưởng ADB: Việt Nam sẽ đạt mốc thu nhập 17.000 USD/người nếu dám đầu tư mạnh mẽ vào đổi mới sáng tạo
Minh Anh /Người Quan Sát
16/7/2025
TS. Nguyễn Bá Hùng cho rằng, chỉ khi dám đầu tư mạnh mẽ vào hạ tầng tri thức, thể chế cạnh tranh và tư duy sáng tạo, Việt Nam mới có thể chạm ngưỡng thu nhập 17.000 USD/người/năm.
Chia sẻ tại Diễn đàn “Xác lập mô hình tăng trưởng mới cho Việt Nam giai đoạn 2026–2030, định hướng đến năm 2045”, ngày 15/7, TS. Nguyễn Bá Hùng – Chuyên gia Kinh tế trưởng Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) tại Việt Nam, cho rằng, thế giới đang bước vào giai đoạn cạnh tranh toàn cầu khốc liệt hơn bao giờ hết. Dư địa cho tăng trưởng truyền thống – vốn dựa vào lao động giá rẻ, khai thác tài nguyên và đầu tư cơ bản đang dần cạn kiệt.
"Trong bối cảnh đó, Việt Nam buộc phải trả lời câu hỏi lớn, chúng ta sẽ tiếp tục đi bằng con đường nào? Mô hình nào đủ sức dẫn dắt nền kinh tế vươn lên mạnh mẽ trong giai đoạn 2026–2030 và xa hơn nữa đến năm 2045?”, Chuyên gia ADB đặt vấn đề.
Dẫn lại khung lý thuyết tăng trưởng của Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF), ông Hùng cho rằng quá trình phát triển kinh tế của một quốc gia thường đi qua ba giai đoạn: Giai đoạn 1 là tăng trưởng dựa vào các yếu tố đầu vào như lao động, vốn; Giai đoạn 2 là tăng trưởng dựa trên hiệu quả – cải thiện năng suất, tổ chức và vận hành, và giai đoạn 3 là tăng trưởng dựa vào đổi mới sáng tạo – khi công nghệ, mô hình kinh doanh và sản phẩm mới trở thành động lực chính.
"Theo khung này, các quốc gia có thu nhập bình quân đầu người dưới 2.000 USD thường ở giai đoạn 1; từ 3.000–9.000 USD chuyển sang giai đoạn 2 và để vượt qua ngưỡng 17.000 USD/người/năm, thì buộc phải dựa vào đổi mới sáng tạo. Với mục tiêu đến năm 2030 tiến vào giai đoạn 2 và đến 2045 chạm mốc giai đoạn 3, Việt Nam cần thiết kế chiến lược tăng trưởng phù hợp ngay từ bây giờ", ông Hùng nói và cho rằng, chỉ khi dám đầu tư mạnh mẽ vào hạ tầng tri thức, thể chế cạnh tranh và tư duy sáng tạo, Việt Nam mới có thể chạm ngưỡng thu nhập 17.000 USD/người/năm.
Việt Nam cần 'chuyển tiếp linh hoạt', không sao chép
Dẫn chứng hai mô hình tăng trưởng tiêu biểu ở châu Á là Hàn Quốc và Đài Loan (Trung Quốc), TS. Nguyễn Bá Hùng phân tích, đây không chỉ là bài học kinh nghiệm, mà còn là gợi ý chiến lược giúp Việt Nam xác định lộ trình riêng, phù hợp với tiềm lực quốc gia và bối cảnh toàn cầu.
Hàn Quốc, theo ông Hùng, là ví dụ điển hình về cất cánh nhờ tiếp cận ranh giới công nghệ toàn cầu, sau đó chuyển dịch sang đổi mới sáng tạo. Thành tựu lớn nhất là hiện nay Hàn Quốc đứng thứ 4 thế giới về số lượng sáng chế được cấp bằng mỗi năm. Tuy nhiên, mô hình này cũng để lại điểm trừ là sự phát triển tập trung trong tay các tập đoàn lớn (chaebol), gây ra độc quyền tự nhiên, làm hạn chế sức bật của doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs).
Trong khi đó, Đài Loan (Trung Quốc) có cách tiếp cận ngược lại - doanh nghiệp nhà nước làm đầu tàu công nghệ, rồi chuyển giao cho khu vực tư nhân, đặc biệt là SMEs. Chính nhờ mô hình “lan tỏa công nghệ”, cộng thêm hệ thống hành chính công minh, không phân biệt đối xử, Đài Loan đã thúc đẩy được một hệ sinh thái cạnh tranh lành mạnh và bền vững.
TS. Hùng cũng lưu ý rằng cả Hàn Quốc và Đài Loan đến nay vẫn đang phải điều chỉnh. Hàn Quốc đang dịch chuyển sang các ngành tiêu dùng sáng tạo như làm đẹp, giải trí, trong khi Đài Loan tuy mạnh về công nghệ cao nhưng vẫn chủ yếu làm gia công (OEM) cho các thương hiệu toàn cầu như Apple.
Để thực hiện mục tiêu trở thành quốc gia phát triển vào 2045, Việt Nam phải vượt qua cả ba giai đoạn phát triển với nền móng vững chắc. TS. Hùng đề xuất 6 hướng đi chiến lược: Thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh, tránh để doanh nghiệp lớn chi phối chính sách, tạo không gian cho mọi thành phần phát triển; Hỗ trợ doanh nghiệp theo kết quả đạt được (performance-based), thay vì theo quy mô hay hình thức sở hữu.
Phát triển mạnh mẽ hệ sinh thái khởi nghiệp, không chọn ngành, để mở rộng sự đa dạng mô hình kinh tế; Tiếp thu công nghệ toàn cầu, đặc biệt từ doanh nghiệp nhà nước, tạo mạng lưới lan tỏa cho khu vực tư nhân; Nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế của ngành dịch vụ, dựa trên công nghệ và đổi mới sáng tạo; Từng bước đầu tư cho nghiên cứu cơ bản, để chuẩn bị tiệm cận giới hạn công nghệ toàn cầu trong dài hạn.
"Việt Nam không nên sao chép nguyên bản mô hình của Hàn Quốc hay Đài Loan, nhưng có thể học hỏi cách họ lựa chọn chiến lược phù hợp với từng thời điểm. Quan trọng hơn cả là khả năng thích ứng linh hoạt và đầu tư mạnh cho tương lai, từ con người đến công nghệ", TS.Nguyễn Bá Hùng nhấn mạnh.
https://nguoiquansat.vn/kinh-te-truong-adb-viet-nam-se-dat-moc-thu-nhap-17-000-usd-nguoi-neu-dam-dau-tu-manh-me-vao-doi-moi-sang-tao-231720.html
Bất chấp thuế nhập khẩu, hãng xe châu Á vẫn chọn Mỹ là đích đến
Đan Thanh / lifestyle.znews.vn
16/7/2025
Thị trường Mỹ vẫn là điểm đến lý tưởng của nhiều hãng xe châu Á. Ảnh: Reuters
Các hãng xe châu Á vẫn chọn Mỹ là thị trường tiềm năng bất chấp các khoản thuế quan khổng lồ.
Dù gặp khó bởi chính sách bảo hộ thương mại của Mỹ, Toyota và Hyundai vẫn không giấu ưu tiên: thị trường số một vẫn là Mỹ.
Theo Reuters, Toyota, Hyundai và nhiều hãng xe châu Á khác như Honda, Nissan vẫn xem Bắc Mỹ là nơi mang lại doanh thu quan trọng nhất. Tại Toyota và Hyundai, khu vực này chiếm ít nhất 40% tổng doanh thu toàn cầu.
Trong bối cảnh Trung Quốc, thị trường ôtô lớn nhất thế giới, đang bị thống trị bởi các hãng xe điện nội địa như BYD, Mỹ trở thành lựa chọn ổn định hơn với các thương hiệu xe lâu đời từ Nhật Bản và Hàn Quốc.
Các nhà phân tích nhận định, những thương hiệu có biên lợi nhuận tốt và dải sản phẩm hybrid đa dạng như Toyota, Hyundai, Kia và phần nào là Honda có thể chống chọi với thuế quan tốt hơn, thậm chí giành thêm thị phần từ những đối thủ yếu hơn như Nissan.
Tại một sự kiện ở Tokyo tuần trước, ông Noriyuki Takimura, Giám đốc điều hành Mazda, cho biết:“Chúng tôi đang đối mặt với môi trường ngày càng khắc nghiệt và khó đoán, bắt đầu từ thuế nhập khẩu của Mỹ. Mazda sẽ cân bằng giữa các biện pháp phòng thủ như cắt giảm chi phí và chiến lược tấn công như làm mới danh mục sản phẩm.”
Bốn lãnh đạo trong ngành ôtô gồm hai người từ Hyundai và hai từ các hãng Nhật tiết lộ họ không có kế hoạch thu hẹp hoạt động tại Mỹ, dù thừa nhận sẽ gặp nhiều thách thức. Cả bốn đều yêu cầu giấu tên.
Toyota bán 2,3 triệu xe tại Mỹ trong năm 2024 (bao gồm Lexus), chiếm hơn 20% tổng sản lượng toàn cầu. Về doanh thu, Bắc Mỹ chỉ đứng sau thị trường nội địa Nhật.
Với Hyundai, doanh thu từ Bắc Mỹ trong năm ngoái đạt mức cao nhất trong gần một thập kỷ. Theo chuyên gia Kim Changho từ Korea Investment & Securities, khoảng 60% lợi nhuận của hãng đến từ thị trường Mỹ, nhờ giá bán cao hơn.
Từng bị xem thường tại Mỹ vào thập niên 1980 vì chất lượng kém, Hyundai đã đầu tư dài hạn tại đây suốt hơn 10 năm qua, đặc biệt sau khi căng thẳng với Trung Quốc khiến hãng mất dần thị phần ở quốc gia tỷ dân.
“Mất nhiều năm nỗ lực, thương hiệu chúng tôi cuối cùng đã được người tiêu dùng Mỹ công nhận. Vì vậy, chúng tôi không thể buông thị trường này”, một lãnh đạo nội bộ Hyundai nói.
https://lifestyle.znews.vn/bat-chap-thue-nhap-khau-hang-xe-chau-a-van-chon-my-la-dich-den-post1568802.html
Để thoát bẫy thu nhập trung bình cần một cuộc 'đại phẫu'
MINH TRÚC / PLO
15/7/2025
Toàn cảnh diễn đàn sáng 15-7. Ảnh: MINH TRÚC
Chuyên gia nhận định Việt Nam không thể tiếp tục đi theo mô hình tăng trưởng cũ, dựa vào lao động giá rẻ và đầu tư vốn lớn; thay vào đó cần chuyển mình để có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao hơn.
Sáng 15-7, Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam, Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới phối hợp với các đơn vị liên quan tổ chức diễn đàn "Xác lập mô hình tăng trưởng mới cho Việt Nam giai đoạn 2026-2030, định hướng đến năm 2045”.
Sẽ tụt hậu nếu không chuyển mình
Phát biểu tại diễn đàn, TS. Đặng Xuân Thanh, Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, nhận định 3 động cơ tăng trưởng trong hơn 30 năm qua của Việt Nam là lao động giá rẻ, đầu tư vốn lớn và hội nhập thị trường thế giới đang dần giảm hiệu lực.
Minh chứng là tăng trưởng vẫn phụ thuộc nhiều vào đầu tư, trong khi hiệu quả sử dụng vốn chậm cải thiện. Năng suất lao động được nâng lên nhưng vẫn thấp hơn nhiều nước trong khu vực, chỉ bằng 1/11 Singapore, 1/5 Malaysia và chưa bằng 50% Thái Lan.
Các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài (FDI) đóng góp lớn cho xuất khẩu nhưng hiệu ứng lan tỏa về công nghệ sang doanh nghiệp trong nước còn rất hạn chế; chuỗi giá trị toàn cầu mà Việt Nam tham gia chủ yếu ở phân khúc thấp.
Kết quả là nền kinh tế dù không rơi vào tình trạng trì trệ nhưng cũng chưa bứt phá; không còn đói nghèo nhưng cũng chưa giàu mạnh.
"Đây chính là dấu hiệu của bẫy thu nhập trung bình - tình trạng mà hơn 100 quốc gia đang phát triển trên thế giới vẫn chưa thể vượt qua"- ông Thanh nêu rõ.
Từ bài học quốc tế, ông Thanh nhận định Việt Nam phải đi bằng một chiến lược thuần túy có thể rút ngắn nhưng không nóng vội.
Đặc biệt, trong bối cảnh thế giới ngày càng bất định và nhiều rủi ro, mô hình tăng trưởng không thể tiếp tục vận hành theo lối đơn tuyến. Thay vào đó, cần được thiết kế như một cấu trúc phức hợp, đa chiều, tích hợp giữa các yếu tố xã hội, công nghệ, môi trường, địa chính trị với những động lực phát triển mới.
Cụ thể là chuyển đổi số và kinh tế dữ liệu, robot và trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra những chuỗi giá trị, kiểm soát dữ liệu, chuyển đổi xanh và cam kết mục tiêu phát triển bền vững, buộc các nền kinh tế phải chuyển mình nhanh chóng, nếu không muốn bị loại khỏi sân chơi.
“Nếu Việt Nam không kịp thời chuyển đổi mô hình tăng trưởng, chúng ta sẽ tụt lại phía sau, bị kẹt lại ở những nấc thang thấp nhất trong chuỗi giá trị toàn cầu. Hậu quả là ngày càng xa rời mục tiêu trở thành quốc gia phát triển vào năm 2045” - ông Thanh lưu ý.
Cần một cuộc "đại phẫu" toàn diện
Còn theo TS. Lê Xuân Sang, Phó Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới, kinh tế Việt Nam đã duy trì được tốc độ tăng trưởng tương đối cao và ổn định từ năm 1986 đến nay. Tuy nhiên, trong suốt thời gian này, Việt Nam chưa từng đạt mức tăng trưởng kinh tế 10%/năm.
Vì vậy, để phát triển nhanh và bền vững, Việt Nam không thể tiếp tục đi theo mô hình tăng trưởng cũ. Thay vào đó, cần một cuộc "đại phẫu" toàn diện nhằm thay đổi thể chế, nâng cao hiệu quả điều hành và chuyển mạnh sang mô hình tăng trưởng dựa trên chất lượng, đổi mới sáng tạo và công nghệ cao…
Cụ thể, trong 5 năm tới, TS. Lê Xuân Sang cho rằng Việt Nam cần đẩy nhanh quá trình chuyển đổi từ tăng trưởng theo số lượng sang tăng trưởng theo chất lượng. Cụ thể, về thu hút FDI, cần ưu tiên vốn đầu tư công nghệ cao, thân thiện môi trường, có khả năng lan tỏa sang khu vực trong nước. Nhà nước cần hỗ trợ doanh nghiệp Việt nâng cao năng lực để kết nối tốt hơn với các nhà đầu tư nước ngoài.
Ngoài ra, tạo điều kiện cho DN tư nhân và DNNVV tham gia vào các dự án lớn, nhất là đầu tư công. Song song, cần siết chặt kỷ cương để tránh tình trạng “quan hệ- cánh hẩu”, nâng cao tính minh bạch và công bằng.
Về cải cách thể chế, cần thiết kế hệ thống “cây gậy và củ cà rốt”, vừa thúc ép đổi mới, vừa có cơ chế khuyến khích hiệu quả. Đồng thời, nâng cao chất lượng quản trị nhà nước và phối hợp giữa các cấp, ngành.
Về tái cơ cấu ngân sách và các quỹ tài chính cần ưu tiên vốn cho nghiên cứu, đổi mới sáng tạo, giáo dục-công nghệ. Cắt giảm mạnh các quỹ ngoài ngân sách hoạt động kém hiệu quả, đồng thời tăng vốn cho các quỹ đầu tư mạo hiểm và khởi nghiệp.
“Cải cách mô hình tăng trưởng cần giống như một cuộc đại phẫu, dũng cảm tháo gỡ những phần lỗi thời, đồng thời sắp xếp lại các thành tố mới một cách bài bản. Việc này không thể nóng vội, càng không thể làm theo cách chắp vá mà đòi hỏi sự vào cuộc chuyên nghiệp với lộ trình rõ ràng và có tính đến các rủi ro phát sinh” - ông Sang nhấn mạnh.
GS.TS. Trần Thọ Đạt, Chủ tịch Hội đồng Khoa học và Đào tạo (Đại học Kinh tế Quốc dân), cho rằng Việt Nam đang có thuận lợi về phát triển kinh tế số.
Tuy nhiên, khó khăn ở đây chính là các yếu tố như khoảng cách số, vướng mắc về thể chế, pháp lý chưa đồng bộ trong khi trình độ, kỹ năng số và nhận thức, quá trình đầu tư R&D của các DN còn thấp, vì vậy phụ thuộc nhiều vào các nền tảng nước ngoài.
Định hướng và giải pháp phát triển kinh tế số ở Việt Nam, GS.TS Trần Thọ Đạt đề nghị cần hoàn thiện thể chế và chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế số.
Trong đó, chú trọng phát triển hạ tầng số hiện đại, đồng bộ và an toàn cũng như tập trung phát triển nguồn nhân lực số và kỹ năng số cho toàn dân. Đặc biệt, cần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và phát triển hệ sinh thái công nghệ số nội địa.
Từ đó thu hẹp khoảng cách số giữa các vùng và đảm bảo tiếp cận bình đẳng kinh tế số.
https://plo.vn/de-thoat-bay-thu-nhap-trung-binh-can-mot-cuoc-dai-phau-post860492.html
Không có nhận xét nào