Header Ads

  • Breaking News

    Thực tài dòng dõi: hào quang bệnh tưởng

    Luận Cổ Suy Kim

    Đường Sơn – Lê Duy Việt

    1998

    Biết rõ thực tài của con mình không ai hơn Triệu Xa. Triệu Xa vì nhún nhường, lúc cầm quân biết nghe lời một người lính tên là Hứa Lịch mà thắng trận Ô Dư đẩy lui được quân Tần, giải cứu được nước Hàn. Vua Triệu Phong cho Triệu Xa làm mã phục quân, ngang hàng với Lạn Tương Như và Liêm Pha. Người lính Hứa Lịch biết quỳ dân bản “xin can” để khuyên Triệu Xa sửa lại chiến thuật của trận đánh được Triệu Xa đề bạt và vua Triệu cử làm quốc úy. 

    Duy có Triệu Quát, con Triệu xa từ nhỏ đã đọc binh pháp và thường nói chuyện trên trời dưới biển, không coi ai ra gì, ngay cả Triệu Xa cũng có lúc không vặn lại được cái lý sạo của con mình. 

    Khi Triệu Xa đau nặng gọi Triệu Quát lại trối trăn. “Binh chiến nguy “ người xưa vẫn răn như thế, đây không phải chuyện xạo chơi. Cha đây làm tướng được mấy năm trời, sắp chết mới mừng chưa qua cõi nhục thua trận chết cũng được nhắm mắt. Mày sinh ở của nhà tưởng nhưng không có tài làm tướng, chớ nên nhận cái chức ấy, kẻo mang vạ đến cửa nhà ! Dặn con rồi Triệu Xa vẫn chưa an tâm, lại gọi người mẹ của Quát đến nhắc nhở : “Sau này nếu vua Triệu có vời thằng Quát ra làm tướng, bà nên kể lại lời nói của ta mà từ chối. Làm tướng để mất quân nhục nước, tội ấy to lắm đó !”. Nói xong thì mất. 

    Vua Triệu nghĩ công của Triệu Xa lại phong ngay cho Triệu Quát nối chức Mã Phục Quân. 

    Nước Tần từ khi thua trận đã có ý báo thù cái nhục thua ở thành Ô Dư. Sau khi kết giao hòa hiếu với Tề và Sở, vua tần sai Đại tướng Vương Hạc đánh nước ở thành Thượng Đẳng. 

    Tướng giữ thành Thượng Đẳng là Phùng Đình biết thế không địch nổi, xin dâng Thành cho Triệu để nước Triệu đem binh đến cứu như xưa kia đã cứu được thành Ô Dư. Vua Triệu mừng lắm, lệnh cho Bình Nguyên Quân Triệu Thắng đem 5 vạn quân đến Thượng Đẳng để nhận thành. 

    Bình Nguyên Quân phủ dụ Phùng Đình lại xin phong cho Phùng Đình làm Thái Thú như cũ. Bình Nguên Quân vừa rút đi, Vương Hạc của Tần lại đánh phá. Phùng Đình đợi mãi chẳng thấy tướng Triệu đến giải cứu, đành bỏ thành chạy về Triệu. Khi ấy vua Triệu nghe lời của Bình Nguyên Quân, bèn cử lão tướng Liêm Pha đem 2 vạn quân đi cứu đến Trường Bình mới hay Thượng Đẳng đã thất thủ. Liêm Pha là một danh tướng, lâm trận không hoảng hốt, chia một vạn quân cho Phùng Đình giữ thành Quan Lăng, còn mình thì dựng thành đắp lũy dưới núi Kim Môn, lại chia quân số cho hai vị đô úy Cáp Phụ, Cáp Đồng giữ lại mặt đông tây của Chương Thành. Liêm Pha sai tì tướng  Ô Triệu Dã cầm 5 ngàn quân truyền đạo đi dò thám. Quân Tần cho Tư Mã Ngạnh vừa ập đến đánh tan tác tiền đạo quân của Triệu Giả. Liêm Pha nghe tin quân tiền đạo vỡ rồi, hèn hạ lệnh cố thủ, đào đất sâu vác trượng để chứa nước tính kế đồn giữ lâu dài. Đại quân Vương Hạc của Tần tiến đến đánh tan thành Quang Lăng, Phùng Đình thua chạy về Kim Môn. Cáp Phụ, Cáp Đồng cũng thua vỡ Chương Thành. Từ đó Liêm Pha cố thủ không ra đánh. 

    Vương hạt cho lính chặn nước Dương Cố để tuyệt đường nước của trại quân Liêm Pha ngờ đâu Liêm Pha đã đào sâu hào lũy cả trượng, mạch nước đầy đủ không nao núng ba quân. Đồn quân bao vây 4 tháng mà không hạ được Kim Môn, Vương Hạt bèn sang người về tâu với vua Tần. 

    Vua Tần vấn kế thừa tướng Phạm Truy : “Thừa tướng có kế gì trừ bỏ Liêm Pha đi được không?”. 

    Phạm Truy đuổi hết tả hữu ra ngoài rồi tâu mật kế : “Muốn trừ Liêm Pha phải dùng kế phản gián tốn kém ngàn vàng“ Vua Tần theo kế của Phạm Truy cho người đút lót tả hữu của vua triệu để phao lên khắp nơi rằng nước Triệu ngày nay chỉ còn Mã Phục Quân là tài giỏi. 

    Nếu cho Triệu Quát làm tướng thì quân Tần phải thua. 

    Liêm Pha đã buồn vì tin Triệu Giả chết trận, mấy thành thua mất, liền cho người ra Trường Bình thúc giục Liêm Pha xuất trận. Liêm Pha biết rõ quân tình, cố thủ đồn lũy. 

    Vua Triệu tin là Liêm Pha ngày nay già nua nhút nhát, Lạn Tương Như đã cáo bệnh hồi hưu, bèn đòi ngay Triệu Quát đến hỏi : “nhà ngươi có thể đánh được quân Tần không?”.

    Triệu quát được dịp khuếch trương khoác lác: “Nếu vua Tần sai Bạch khới thì tôi khó định được thua, còn như Vương Hạt thì mới lên tướng đánh dễ như trổ bàn tay. Chẳng qua Liêm nhát sợ, Vương Hạt mà chọi với hạ thần thì như lá úa mùa thu, phất cho một cơn gió là tơi tả. 

    Bạch khởi trước sau, ba lần đánh Ngụy, hai lần đánh Hàn, về nam đánh sở, qua sông đánh Triệu cả thảy chém chết nhận chìm trên bờ dưới nước 39 vạn quân, tôi gặp người này thì mới tốn công lo liệu!” 

    Sạo thôi, nghe theo không kịp, thế mà vua Triệu cả mừng cử ngay làm thượng tướng, ban cho vàng lụa, ai cắm cờ mao tiết việt dẫn hai chục vạn quân tinh binh đến thế chức Liêm Pha ở Trường Bình. 

    Triệu Quát duyệt xong quân hai mươi vạn. Cờ xí rợp trời. Lại cho người chở vàng lụa vua ban về nhà và chào bà mẹ. 

    Mẹ quát nói: “Cha mày sắp chết, có dặn không được làm tướng, sao mày không liệu lời từ chối!?” Quát trả lời: “Chẳng phải con không nhớ lời cha, ngặt vì trong triều, không còn ai bằng Quát này cả!” Mẹ Quát vội vã dâng thư can vua Triệu:” Quát chỉ la mọt sách không có tài thông biến, không làm tướng được, xin vua chớ tin cậy sai đi” Vua Triệu cho vời bà mẹ Quát đến vặn hỏi, bà nói : “Tướng công tôi khi còn làm tướng, được ban thưởng gì đều chia hết cho quân lính, ngày thụ mệnh tướng liền ngủ tại trong quân không hỏi tới việc nhà, cùng quân lính đồng cam cộng khổ, làm việc gì cũng bàn bạc cùng chư tướng không dám tự chuyên. 

    Nay Quát mới làm tướng, đã cậy chức ra uy, quân lính không dám trông thẳng mặt; vàng lụa vua cho, đều chở về nhà, làm tướng há nên như thế? 

    Tướng công tôi khi lâm chung đã dặn tôi : “Quát làm tướng tất mang hại cho nước”, lời dặn ấy tôi còn ghi nhớ, xin nhà vua chọn một lương tướng khác, chớ nên dùng Quát !” 

    A video game screen capture

AI-generated content may be incorrect.

    Vua Triệu vẫn không đổi ý, mẹ Quát lại nói: “Đại vương không nghe lời can, sau này nếu quân thua xin chớ bắt tội lây đến cả nhà thần thiếp” 

    Vua Triều y lời. Triệu Quát bèn trẩy quân đi. Tin Triệu Quát làm tướng bay đến Hàm Dương nước Tần. 

    Vua Tần liền hỏi Thừa Tướng Phạm Truy cách đối phó. Phạm Truy đề nghị phi Võ An Quân Bạch Khởi không ai có thể làm nổi. Tần lập tức cử Bạch Khởi làm Thượng Tướng, Vương Hạt xuống làm phó, truyền bí mật giữ kín việc đổi thay, ai hở môi tiết lộ thì phải tội chém. 

    Triệu Quát dẫn quân đến Trường Bình họp với quân hiện chiến cả thảy có gần bốn mươi lăm vạn, thu hồi binh phù tướng ấn của Liêm Pha, phá bỏ các điều ước thúc hành quân thủ trại của cựu soái, thay các tướng tá bằng người mới của mình, ai cản ngăn khuyên giải cũng không được. Bạch Khởi ra thị sát trận tiền, lập kế phá binh đội của Triệu Quát. 

    Triệu Quát mở trận thua liên tiếp, bèn đóng dinh giữa đường, sai người cầu thêm viện binh với vua Triệu và cử người về hậu trại tải lương thực, gạt bỏ các lời can ngăn của Phùng Đình. Bạch Khởi bao vây Triệu Quát bốn mươi sáu ngày, Vua Tần lại thân đi Hà Nội bắt tráng đinh từ 15 tuổi trở lên phải nhập ngũ, chặn tuyệt đường lương thảo của quân Triệu. 

    Bạch Khởi vây kín Triệu Quát hơn một tháng nữa. Quát phải thân hành mở vòng vây tháo chạy về Trường Bình. Vòng vây quá chặt, cung tiễn của Bạch Khởi bắn một cánh nhạn không bay lọt.. Triệu Quát trúng tên chết ở trận tiền. Phùng Đình tự vận. 

    Bạch khởi cho cắt đầu Triệu Quát đem đến các quân dinh Triệu để chiêu hàng. 

    Hai mươi nhăm vạn quân Triệu còn lại, vỡ mật tan hồn, buông đao bỏ giáp đầu hàng quân Tần. 

    Trước sau quân Hàn ở Thượng Đẳng, cộng với sĩ tốt ở thành Giả Vương và quân Triệu của Triệu Quát đầu hàng cả thảy gần bốn mươi vạn bị sự giám sát của quân Tần. 

    Bạch Khởi cho hai mươi vạn quân Tần kề cận với bốn mươi vạn hàng tốt của Triệu, cho giết trâu mổ bò ăn tiệc say sưa nhưng mật lệnh cho mười tướng Tần thống suất mười doanh, nửa đêm lấy một lính Tần cắt đầu hai lính Triệu. 

    Bốn mươi vạn hàng tốt của Triệu bị cắt đầu, thu chất đống trong lũy Tần cao thành núi gọi là núi Đầu Lâu. 

    Bạch Khởi tha cho hai trăm bốn mươi người còn ít tuổi được về lại Hàm Đan cho nước Triệu biết oai lực của nước Tần ! Kể đến trận Trường Bình, Võ An Quân Bạch Khởi đã chiến thắng giết hại tám mươi vạn nhân mạng thống lãnh bởi những tướng tá kém cỏi bất tài. Nước Triệu nghe tin bại trận, vua tôi run sợ, cả nước than khóc mất chồng, mất con, mất cháu. Máu đã chảy ngập Trường Bình mà nước mắt ướt cả mặt đất Hàm Đan. Duy có bà mẹ Triệu Quát không khóc còn nói : “Từ khi Triệu Quát được phong tướng, già này đã coi nó không phải là người sống nữa !” Vua Triệu cũng chẳng còn hồn vía nào trị tội gia đình Triệu Xa nữa, lại còn cho thóc lúa an ủi bà mẹ già của Triệu Quát. Vua Triệu lại thân đến tạ lỗi với Liêm Pha, rồi cho người sang kinh đô nước Tần, xin cắt đất 6 thành trì dâng cho vua Tần đổi lấy việc rút binh của Bạch Khởi đang vây kín Hàm Đan. Lời bàn của Đường Sơn:

    Thói thường, các nhà gia thế hay bao che nâng đỡ cho con cái làm điều xằng bậy. Cậy quyền cậy thế các công tử thường đi phá làng phá xóm hiếp đáp dân tình, làm ăn bất lương bất chính. 

    Các quí tử này tuy bất tài nhưng vẫn được gởi gấm vào các cửa quyền để “con vua thì lại làm vua” vì thế công quyền trở thành phương tiện hút máu hút mủ của dân. Triệu Xa là một biệt lệ. Ông tướng này biết con mình bất tài không thể nối dõi nghề cha làm tướng được. Triệu Xa chẳng những nhận định đã chính xác mà công tâm quyết liệt cũng phi thường, không muốn con mình được trọng dụng chỉ vì tiếng thế gia mà trở thành hại nước hại nhà. Triệu Xa lẽ ra phải tâu với vua Triệu nhận định này nếu thật lòng muốn cản ngăn. Đây ông lại chỉ dặn với vợ và dặn chính Triệu Quát ! 

    Tại sao thế ? Ấy là Triệu Xa muốn dạy dỗ cho con sửa cái tật vu khoát huênh hoang ba xạo ất đi thì cũng còn có chỗ dạy dỗ và sử dụng được ! 

    Tiếc rằng Quát không hiểu được ý cha lại còn tự phụ cho rằng mình hơn cả cha nữa ! Người Việt ta ai là chả mong con cái tiến xa và tài giỏi thành công hơn mình. Ai là không muốn con nối cái nghề của mình. Mấy điều mong muốn này Triệu Xa cũng có vậy, nhưng ông ta muốn con mình phải cải thiện để xứng đáng. 

    Tiếc thay, nước Tần lại có người quá rõ ràng nội tình của Triệu để đánh kế phản gián mà vua tôi nước Triệu đều trúng kế. Triệu Quát chưa có thực tài kinh nghiệm mà đã được trọng dụng để đến nỗi thân danh tan nát, bốn mươi vạn binh lính vì đó mà chết oan, đất nước lung lay đến nỗi phải cắt sáu thành để xin hàng mà còn lấy làm hú vía hãi hùng. 

    Liêm Pha quân chỉ có ba vạn, dẫu giỏi cảng không thể lấy một chọi mười. Phải chi Liêm Pha được vua Triệu tăng viện mười vạn tinh binh thì Trường Bình vị tất đã nguy. Ít quân thì phải cố thủ. Cố thủ cũng phải có tài tiên liệu như Liêm Pha đào hào lấy nước, biết trước được ý đồ của địch sẽ chặn suối ngăn nước để làm quân sĩ đói khát bệnh tật. Ấy thế mà lại cho rằng Liêm Pha nhút nhát. Liêm Pha bị thu hồi tướng ấn, vẫn cam chịu mà không phàn nàn, ấy là vì thưở trước đã đã được Lạn tương Như dạy cho bài học khiêm tốn nhã nhặn. Giận dữ oán hờn không giao bàn binh quyền có thể bị khép vào tội chết và còn bị chụp mũ hàng trăm thứ tội nữa. Liêm Pha được vua Triệu xin lỗi. Vua Triệu chứng nào tật ấy, sau này lại chê Liêm Pha già nua không trọng dụng làm tướng để Liêm Pha phải bỏ Triệu mà đi nước khác lúc tuổi đã về chiều ! 

    Nước Triệu lúc này còn có Bình Nguyên Quân Triệu Thắng. Tuy vua Triệu có đôi lần cũng không còn tin dùng Triệu Thắng, nhưng trong việc này tuyệt nhiên không thấy Triệu Thắng có một lời phân tích hoặc can ngăn không dùng Triệu Quát. Một người chưa từng cầm quân, gia đình lại không tin ở thực tài, đã tiếng là con mọt sách nhai lại, thế mà Bình Nguyên Quân Triệu Thắng không nói một lời với vua Triệu, hay là chính Triệu Thắng cũng sợ phải cầm quân đánh Tần đối chọi với Bạch Khởi mà đành im hơi để Triệu Quát được phong tướng ? Thắng đã đem quân đi tiếp thu thành Thượng Đẳng, thế mà lại vội vã bỏ về để mặc Phùng Đình ở lại chống đỡ với Vương Hạt. Bình Nguyên Quân cũng phải chia xẻ trách nhiệm thất bại vậy. Vua nước Triệu thật là một người hồ đồ. 

    Liêm Pha có cả một binh nghiệp già dặn như thế mà lại cho là nhút nhát. Lệnh tướng đã là tử thủ, lệnh vua lại là xuất chiến. Làm sao binh sĩ không khỏi hoang mang. 

    Nhớ khi vùng một địa đầu nhận lệnh tử thủ, rồi lại rút lui, rồi lại tử thủ trước sức tấn công ồ ạt của Cộng Sản, quân sĩ nào còn tin ở mệnh lệnh chủ tướng nữa? 

    Làm tướng ở ngoài mặt trận mà không được hành động theo kiến thức binh nghiệp của mình thì đến chính Khổng Minh sau này cũng phải uất ức đến hộc máu vì Hậu Chúa ra lệnh lui binh về nghỉ ngơi.. ‘chả qua vì nhớ tướng phụ quá nên phải triệu hồi !” 

    Nghe lời người trối trăn không ai nhớ rành rọt như vợ của Triệu xa. Bà chẳng những nhắc con, thấy con không nghe thì dâng thư can vua ngay. Bà biết nhận định sự sai biệt của chức phận tướng khi chồng mình đảm nhiệm khác xa với cung cách tướng “tàm sàm ba xạo” của con mình ngày nay. Nói đến thế mà vua vẫn không nghe, bà đành chỉ xin sau này có thua thì đừng bắt tội vạ cả nhà. Bà đành không dám khóc than khi con mình chết trận vì biết rằng Triệu Quát chết là đáng đời, bà cho rằng họ hàng của mấy chục vạn gia đình kia khóc là đúng vì con cái họ bị chết oan mạng do lỗi lầm của vua tôi nước Triệu. 

    Bà không lẫm liệt thắt cổ chết như nhiều bà mẹ quyết liệt ở cổ thời (ví dụ như mẹ của Chuyên Chư khi thấy con còn ngần ngừ vì mẹ mà chưa có quyết đoán đại sự, liền tự tử để Chuyên Chư khỏi bận tâm). 

    Bà đã sống để làm trọn vẹn một chứng nhân, sống để che chở cho toàn gia họ Triệu của Triệu Xa không bị vua Triệu bội ước mà bắt tội. Bà phải sống để nhắc nhở cho hậu thế biết rằng cái hào quang bệnh tưởng về dòng dõi là tầm bậy. 

    Đừng bao giờ nghĩ rằng việc tướng soái trao ngay cho con cháu nhà tướng. Việc Đảng cũng vậy, đừng tưởng đãng tử đã là đảng viên kiên quyết. 

    Xét việc xét người, không thể xét chung chung, nhất là trước khi tập thể trao phó một trách vụ quan trọng, ngay cả trách vụ gọi là Thường Vụ ở một cấp bộ quan trọng. 

    Chỉ cần một ông tướng sạo cỡ Quát là gây vạ khôn lường, xóa bỏ cả lề lối nguyên tắc qua kinh nghiệm chiến trường già dặn lấy thủ làm công của Liêm Pha mà hậu quả là một núi Đầu Lâu ghê rợn, quạ rìu đen rỉa thịt kêu “quang quác” như để nhắc nhở ! 

    Quát tuy cao ngạo khoác lác nhưng cũng biết kiêng dè Bạch Khởi. Hắn chê các tướng Ngụy, Hàn, Triệu, Sở trước sau nướng 39 vạn quân cho bạch Khởi. Thế mà Quát không phòng bị chính Bạch Khởi sẽ cầm quân đến Trường Bình. 

    Làm Tướng mà quá kém về tình báo, chỉ vì không biết cẩn thận nhũn nhặn điều nghiên. Vẫn cứ vênh vang cho là trận chiến chỉ phải đối đầu với danh tướng hạng hai. 

    Coi thường Liêm Pha đã đủ là một bài học đắt giá, lượng được tài Bạch Khởi mà không lượng được cái thông biến kỳ ảo của chiến lược nước Tần ngầm đưa Bạch Khởi ra đối trận ! 

    Vừa khoác lác ra quân, đã vội vàng xin tăng viện. Vua Triệu lúc này nên phải giật mình mà cử Liêm Pha đi coi xét mới đúng, đây lại cứ mù mờ đưa “cắc ké” vào nướng thêm mồi. Khi Quát biết có Bạch Khởi trong dinh Tần thì bao nhiêu cái ba xạo trở thành kinh hãi ! Quát là gộp lại tất cả cái ngu dốt của tướng tá 39 vạn quân chết trận cũ, vì Quát nướng thêm 40 vạn mạng ở ở trận Trường Bình. 

    May mà chết trận, bằng không Quát cũng bị người ta giết đòi thường mạng không kịp. 

    Bạch Khởi giết hết sĩ tốt nước Triệu đã đầu hàng trong có một đêm ! Đây là một cuộc tàn sát bất nhân lớn nhất chưa từng có trong lịch sử chiến tranh. 

    Nếu một mạng người đổ ra 5 lít máu, đất Trường Bình chảy thấm một đêm hai triệu lít máu của 400,000 hàng binh, sự tanh tưởi của chiến tranh khốc liệt biết là chừng nào, sự cao ngạo dại dột của Triệu Quát tai hại biết chừng nào. Ôi ! hào quang dòng dõi tai hại nhường nào ! 

    Vì dòng dõi, Tổng thống Trung Hoa Dân quốc Tưởng Giới Thạch chết thì con là Tưởng Kinh Quốc lại lên thay. Ở Bắc hàn, Kim Nhật Thành chết, con cũng lại nối “ngôi”. 

    Đảng của hai nước này, một là Dân quốc đảng, một là Cộng sản đảng thế mà vẫn mắc bệnh cha truyền con nối bởi vì hàng ngũ lãnh đạo kém cỏi. 

    Đảng cách mạng dân tộc không phải là đảng phong kiến thế tập, ấy phải là đảng mở rộng đón tiếp tài năng thiện chí của toàn dân. Vì đảng không phải là hệ thống thư lại nên thành tích phải được cân bằng xem xét với tuổi đảng, chứ không phải cứ thâm niên để trở thành những bình vôi nhoe nhoét làm tắc nghẹn tinh thần cách mạng. 

    Vì Đảng không phải là đảng phong kiến thế tập nên không phải cứ đãng tử là trở thành đảng viên, rồi mắc vào cái bệnh cha truyền con nối khi lên đến các nhiệm vụ quan trọng ở trong đảng. 

    Vì đảng là đảng của toàn dân nên đảng cũng không phải là đảng của một địa phương nào : Đảng lo việc cả nước chứ không lo riêng việc một tỉnh một quận. Còn như thực hành ma thuật, khi nước biến thì kêu gọi toàn dân hy sinh, khi thành tựu thì riêng gia thế của mình hưởng quyền hưởng lợi, bất công như lề thói sau này của Cộng Sản Việt Nam vơ vét của cải cho con cháu, nặng gánh gia đình như của lãnh đạo Dân Quốc Đài Loan, và mù quáng tôn thờ cá nhân dòng dõi như của Cộng sản Bắc Hàn, chỉ là kéo dài thêm những ngày tranh đấu cho bất công xã hội. 

    Hãy xem gương Triệu Xa biết dùng tài của người lính quì dâng cái thế “xin can” để sử đổi kế hoạch chín trận, lại được Triệu Xa cắt cho một vạn quân để đánh đột kích từ trên cao đổ xuống mà đã bại quân Tần ở Ô Dư. 

    Hứa Lịch chỉ là một tên lính tốt chỉ vì không có thế gia vọng tộc nên đành bị đi quân dịch mà thôi. Triệu Xa biết gạt Triệu Quát không cho con cầm quân phụ lực.., biết dùng tài năng của Hứa Lịch. 

    Bài học Triệu Xa, Triệu Quát, nếu học được thật vô cùng quý giá. 

    Đường Sơn


    Không có nhận xét nào