Header Ads

  • Breaking News

    ‘Sự ngoài cuộc của báo chí’ và phong thái ‘thanh cao giả hiệu’

    Tịch Dạ/Tạp chí Luật Khoa

      23/08/2025

    Những ngày gần đây, thái độ im ắng đến lạ lùng của giới truyền thông trước cái chết tức tưởi và đầy uẩn khúc của Tiến sĩ (TS.) Hoàng Phương Mai, là một ví dụ trực quan cho hiện tượng mà tôi muốn gọi là “sự ngoài cuộc của báo chí”.

    “Ai rồi cũng chết”, “mỗi ngày có biết bao nhiêu người chết”, “những chuyện xe cán chó, chó cán xe đầy rẫy ấy, ai mà quan tâm cho xuể?”, v.v. có thể là những lý lẽ mà người ta sẽ viện ra để biện minh cho sự thờ ơ của báo chí trước cái chết của một con người. Đúng thật, bao nhiêu người chết mỗi ngày, “ai mà quan tâm cho xuể”? Và khi người đọc không quan tâm, không chọn đọc, thì đúng rồi, hà cớ gì nhà báo phải viết? 

    Giữa thời đại kinh tế thị trường, khi mà các kênh tin tức phải cạnh tranh khốc liệt từng giờ, khái niệm “agenda-setting”, tức khái niệm chỉ xu hướng báo chí chỉ chọn lấy những tin được dự đoán là ăn khách, là thu hút để viết bài và công bố, nay đã không còn là một “chiến thuật” để các tòa soạn lựa chọn. Nó dường như đã trở thành luật chơi, hay đúng hơn, là kỹ năng sinh tồn của ngành này: không tuân theo, nghĩa là bị loại.

    Theo đó, những câu chuyện ít người quan tâm, tất nhiên, không đáng để các ký giả phí hao bút lực. Chưa kể, có viết ra cũng không thể lọt vào mắt xanh của những biên tập viên “chuyên nghiệp” và “khó tính”, vốn luôn được chủ các hãng tin tín nhiệm vì thấu hiểu “thị hiếu” tiêu dùng tin tức của cộng đồng. 

    Nhưng câu chuyện của TS. Hoàng Phương Mai là một tình huống khác. Theo lời kể từ người quen lâu năm của cô Mai, và tổng hợp thông tin của một nhà quan sát có theo dõi sự việc, dù chưa được kiểm chứng, có thể tạm có một phác thảo sơ bộ về câu chuyện này. 

    Nữ tiến sĩ 49 tuổi, cựu cán bộ của Viện Nghiên cứu Hán Nôm, đã chọn tự kết liễu mình vào ngày 16/8/2025, sau một thời gian dài đối diện với bản án mà cô thấy là bất công từ cơ quan mình từng công tác. Cô nhận quyết định cho thôi việc từ tháng 5/2025, sau ba năm liên tục bị đánh giá là “không hoàn thành nhiệm vụ”. Dù trong số đồng nghiệp, người quen, nhiều người đánh giá cô thông minh, nhiệt huyết, có năng lực. 

    Câu chuyện “không hoàn thành nhiệm vụ” này, có ý kiến cho là xuất phát từ việc cô bị Viện Hàn lâm Khoa học xã hội, “thượng cấp” của Viện Hán Nôm, quy trách nhiệm cho vụ việc mất sách cổ tại thư viện viện này hồi ba năm trước, mà đến nay vẫn chưa tìm ra thủ phạm. Về vụ việc này, theo phân tích và chia sẻ của TS. Nguyễn Xuân Diện, có thể suy ra là chứa những nguyên nhân sâu xa khác, không liên quan đến TS. Mai. 

    Nhận thấy bị oan, cô kiên quyết phản kháng, thậm chí mạnh mẽ khước từ những đề nghị bảo cô cứ rút đơn, nhận sai để được trở lại làm việc. Và rồi, hằng ngày cô vẫn đem máy tính đến cơ quan từ sáng đến chiều, ngồi trong sảnh làm việc, dù không lương bổng, không chức vụ. Suốt mấy tháng liền, mặc người qua kẻ lại, cô vẫn đi về như thế, trong khi những lá đơn gửi đi vẫn chưa hẹn ngày về. Cho đến cái ngày mà cô chọn cho tất cả mọi thứ dừng lại: cả sinh mạng cô lẫn những khổ ải, oan sai.

    Chưa bàn đến tính xác thực của những lời kể trên, có thể kết luận ngay, đây không phải là một vụ việc ít người quan tâm, mà ngược lại, là một vụ việc có thể gây chấn động dư luận nếu được công bố rộng rãi. Không nói đâu xa, những bài đăng Facebook từ người quen của nữ tiến sĩ quá cố, cùng những người nổi tiếng, có sức ảnh hưởng trên mạng xã hội chia sẻ về vụ việc này, đã thu hút không ít lượt tương tác, bình luận và lan tỏa. Một tin “sốt dẻo” như vậy, vì cớ gì báo giới lại thờ ơ?

    Nhiều vụ tự kết liễu của những cá nhân vô danh từng được báo chí đưa tin, và gây xôn xao dư luận suốt một thời gian dài. Như vụ nam sinh lớp 10 nhảy lầu trước mắt bố mình, để lại lá thư tuyệt mệnh hồi năm 2022; hay vụ nữ sinh thi trượt cấp ba nhảy sông tự tận hồi tháng Sáu vừa rồi, đều đã khiến báo chí tốn không ít giấy mực. 

    Như vậy, trường hợp này nếu dùng khái niệm “agenda-setting” để mô tả có vẻ như chưa đủ rõ ràng, mà phải dùng một thuật ngữ anh em với nó: “agenda-cutting”. Đây là khái niệm dùng để chỉ hiện tượng các kênh truyền thông né tránh đưa tin về một số chủ đề, sự kiện được cho là “nhạy cảm”, hay được dự đoán là khi đăng tải, sẽ gây nên tác động không tốt cho cơ quan, tòa soạn. 

    Khi báo giới chọn đứng ngoài cuộc, một khoảng trống thông tin khổng lồ đã hiện ra, và câu chuyện về cô Mai chỉ còn trong những lời kể, với những dấu hỏi khó lòng xác minh tường tận nếu những người “trong cuộc” cũng chọn im lặng như người “ngoài cuộc”: Rốt cuộc quyết định sa thải cô là vì lý do gì? Có thỏa đáng hay không? Có liên quan đến vụ việc mất sách cổ như những đồn đoán? Cô thực sự oan hay không oan? Viện Hán Nôm và cả Viện Hàn lâm Khoa học xã hội vì sao chậm trả lời các đơn thư của cô? Liệu có lý do gì đặc biệt khác cho việc xử lý chần chừ này?

    Chưa hết, khi báo chí chọn ngoài cuộc cũng là khi dấu hỏi lớn nhất hiện ra: nguyên nhân nào khiến báo chí phải né tránh? 

    Việc tự kiểm duyệt và cắt bỏ các chủ đề tin tức vì sợ sệt uy quyền hay để né tránh các phiền phức, rủi ro, không phải là chuyện hiếm gặp, và cũng không có gì khó hiểu. Khi báo chí chỉ lấy doanh thu làm sứ mệnh và lấy sự yên ổn làm đích đến, thì ắt hẳn có vô số điều để sợ: nào doanh nghiệp, công chúng, chính quyền, v.v. trong khi chỉ còn lại vài điều để chú mục, đuổi theo: như lợi nhuận, thị trường, sức ảnh hưởng.

    Riêng tại những xã hội có sự kiểm soát truyền thông chặt chẽ như Việt Nam, có lẽ số lượng nỗi sợ càng khó lòng đếm xuể, thậm chí “sợ” đã trở thành một nếp nghĩ, nếp làm, một phản xạ tự nhiên trước mỗi quyết định của mỗi cây bút. Những định chế như Luật Báo chí 2016 sóng đôi cùng Bộ luật Hình sự 2015 từ lâu đã trở thành vị “đao phủ” cận kề mỗi nhà báo, mỗi trang mực, sẵn sàng “chấp pháp” trước mỗi tin, bài có dấu hiệu “việt vị”.

    Cuối năm 2024, Nghị định 147/2024 khi ra mắt lại bổ sung thêm một viên pháp quan theo sát mọi hoạt động ngôn luận của bất kỳ cá nhân nào trên cõi mạng, dù là nhà báo, quan chức hay dân thường. Những “nhà báo tự do” hay những người “dân làm báo”, lâu nay tất nhiên vẫn bị nhòm ngó, nhưng nay càng bị giám thị sát sao hơn. 

    Những báo cáo gần đây của các tổ chức quan sát độc lập như Freedom House, The Project 88 lẫn hãng tin độc lập Associated Press cùng cho thấy, Luật An ninh mạng và Nghị định 147 đã làm leo thang và lan rộng hơn thứ hiệu ứng được gọi là “chilling effects”, chỉ sự gia tăng hiện tượng im lặng, thờ ơ, hạn chế phát ngôn trong cả báo giới lẫn công luận.

    Như vậy, dùng cụm từ “sự ngoài cuộc của báo chí” để chỉ trích sự im lặng, thờ ơ của mỗi cánh báo giới, có vẻ như cũng quá thiên lệch và nặng nề. Bởi giữa khung cảnh một không gian ngôn luận trên đe, dưới búa, đông vây, tây bủa như vậy, đến những người tốt hay những cá nhân nhiệt huyết, lắm khi cũng muốn câm nín, đặt mình ngoài cuộc để “minh triết bảo thân”, “không màng thế sự”.

    Nhưng gượm đã. Dường như tại đây vẫn có gì chưa ổn. Nếu những người được coi là “người tốt”, mà lại chọn dửng dưng, thờ ơ, im lặng để giữ mình trước bất công, trước cái ác, liệu họ có thực là người tốt? Có còn là người tốt?

    Cái cách người ta hay nói “sự im lặng của người tốt”, hóa ra lại là một mệnh đề tự mâu thuẫn: nếu tốt thật thì sẽ không im lặng; mà đã chọn im lặng, thì chẳng (còn) tốt nữa. Có chăng, chỉ còn là người tốt giả hiệu, là sự “thanh cao giả hiệu” khoác lên vỏ bọc “minh triết”.

    Trước làn sóng chống lại người Châu Á và gốc Á lan rộng trên đất Mỹ vào năm 2021, tổng thống Mỹ khi ấy là Joe Biden đã dùng “khẩu hiệu” “sự im lặng là hành vi đồng lõa” (silence is complicity) để kêu gọi quần chúng không nên đứng ngoài cuộc, mà hãy cùng chung tay hành động để chấm dứt một lối tư duy và hành xử mang bạo lực, thiên kiến. 

    Phát ngôn trên, không hẳn luôn là chân lý tuyệt đối. Vẫn có những tình huống thích đáng cho việc im lặng, chẳng hạn, khi rủi ro quá lớn, nguy hiểm cận kề, và nguy hiểm ấy không chỉ đến với riêng mình nếu như mình lên tiếng.

    Nhưng có người không thể im lặng. Có những nghề không thể im lặng. Như những người chấp pháp và gìn giữ kỷ cương không thể im tiếng trước những gì phi pháp, phá hỏng kỷ cương. Tương tự, nếu báo chí định hình mình bằng sự thật, và nhà báo định vị mình bằng niềm tin của độc giả, liệu có điều khả nghi nào đáng bị từ chối? Có chuyện bất công nào có thể bỏ qua? Có tội ác và cái xấu nào có thể nằm ngoài trang tin tức? 

    Câu chuyện dường như lại trở về với từ “ngoài cuộc”. 

    Khi ta luôn có lý do để thấy mình “ngoài cuộc”, thì việc gì cũng có thể thoái thác, kể cả khi việc đó diễn ra ngay trước mắt mình và chỉ cần ta nhẹ nhàng lên tiếng, điều gì đó đã có thể đổi thay.

    ‘Sự ngoài cuộc của báo chí’ và phong thái ‘thanh cao giả hiệu’


    Không có nhận xét nào