Lịch Sử , Tổng Quát
Sưu tầm
Tên gọi Việt Nam đã quá quen thuộc với mỗi người dân chúng
ta ngay từ khi sinh ra. Nhưng các bạn có biết, từ những ngày đầu hình thành nhà
nước đầu tiên của dân tộc Việt cho đến ngày nay, đất nước chúng ta đã có bao
nhiêu quốc hiệu và ý nghĩa của những cái tên đó như thế nào chưa? Hôm nay chúng
ta sẽ cùng tìm hiểu điều này.
1. Văn Lang:
Văn Lang (chữ Hán: 文郎) được coi là quốc hiệu đầu tiên của Việt Nam. Quốc gia
này có kinh đô đặt ở Phong Châu nay thuộc tỉnh Phú Thọ. Lãnh thổ bao gồm khu vực
đồng bằng sông Hồng và ba tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh bây giờ. Quốc gia
này tồn tại cho đến năm 258 TCN.
2. Âu Lạc:
Năm 257 TCN, nước Âu Lạc (甌雒, 甌駱[1], 甌貉) được dựng lên, từ việc liên kết
các bộ lạc Lạc Việt (Văn Lang) và Âu Việt, dưới uy thế của Thục Phán - An
Dương Vương. Âu Lạc có lãnh thổ bao gồm phần đất của Văn Lang trước đây cộng
thêm vùng núi Đông Bắc Việt Nam và một phần tây nam Quảng Tây (Trung Quốc).
Khoảng cuối thế kỷ thứ 3 TCN, đầu thế kỷ thứ 2 TCN (năm 208 TCN hoặc 179
TCN[2]), Triệu Đà (Quận úy Nam Hải-nhà Tần) tung quân đánh chiếm Âu Lạc.
Cuộc kháng cự của An Dương Vương thất bại, nhà nước Âu Lạc bị xóa sổ.
3. Vạn Xuân:
Vạn Xuân (萬春)
là quốc hiệu của Việt Nam trong một thời kỳ độc lập ngắn ngủi khỏi triều đình
trung ương Trung Hoa của nhà Tiền Lý dưới sự lãnh đạo của Lý Nam Đế. Quốc hiệu
này tồn tại từ năm 544 đến năm 602 thì bị nhà Tùy tiêu diệt.
4. Đại Cồ Việt:
Đại Cồ Việt (大瞿越)
là quốc hiệu của Việt Nam từ thời nhà Đinh đến đầu thời nhà Lý, do Đinh Tiên
Hoàng thiết đặt năm 968. Quốc hiệu này tồn tại 86 năm cho đến năm 1054, đời vua
Lý Thánh Tông đổi sang quốc hiệu khác.
5. Đại Việt:
Đại Việt (大越)
là quốc hiệu của Việt Nam từ thời nhà Lý, bắt đầu từ năm 1054, khi vua Lý Thánh
Tông lên ngôi. Quốc hiệu này tồn tại không liên tục (gián đoạn 7 năm thời nhà Hồ
và 20 năm thời thuộc Minh), đến năm 1804, trải qua các vương triều Lý, Trần,
Lê, Mạc và Tây Sơn, khoảng 743 năm.
6. Đại Ngu:
Đại Ngu (大虞)
là quốc hiệu của Việt Nam thời nhà Hồ. Quốc hiệu Đại Việt được đổi thành Đại
Ngu năm 1400 khi Hồ Quý Ly lên nắm quyền. Sau khi nhà Hồ bị thất bại trước nhà
Minh, và nhà Hậu Lê giành lại độc lập cho Việt Nam, quốc hiệu của Việt Nam đổi
lại thành Đại Việt.
Về quốc hiệu này, theo truyền thuyết, họ Hồ là con cháu Ngu Thuấn (là một trong
Ngũ Đế nổi tiếng ở Trung Hoa thời thượng cổ); sau này con Ngu Yên là Vĩ Mãn được
Chu Vũ Vương của nhà Chu phong cho ở đất Trần gọi là Hồ Công, sau dùng chữ Hồ
làm tên họ. Hồ Quý Ly nhận mình là dòng dõi họ Hồ, con cháu Ngu Thuấn, nên đặt
quốc hiệu là Đại Ngu. Chữ Ngu (虞) ở đây có nghĩa là "sự yên vui, hòa bình", chứ
không có nghĩa là "ngu si" (愚癡).
7. Việt Nam:
Quốc hiệu Việt Nam (越南) chính thức xuất hiện vào thời nhà Nguyễn. Vua Gia Long
đã đề nghị nhà Thanh công nhận quốc hiệu Nam Việt, với lý lẽ rằng
"Nam" có ý nghĩa "An Nam" còn "Việt" có ý nghĩa
"Việt Thường". Tuy nhiên tên Nam Việt trùng với quốc hiệu của quốc
gia cổ Nam Việt thời nhà Triệu, gồm cả Quảng Đông và Quảng Tây của Trung Hoa
lúc bấy giờ. Nhà Thanh yêu cầu nhà Nguyễn đổi ngược lại thành Việt Nam để tránh
nhầm lẫn, và chính thức tuyên phong tên này năm 1804.
Tuy nhiên, tên gọi Việt Nam có thể đã xuất hiện sớm hơn. Ngay từ cuối thế kỷ
14, đã có một bộ sách nhan đề Việt Nam thế chí (nay không còn) do Hàn lâm viện
học sĩ Hồ Tông Thốc biên soạn. Cuốn Dư địa chí viết đầu thế kỷ 15 của Nguyễn
Trãi (1380-1442) nhiều lần nhắc đến hai chữ "Việt Nam". Điều này còn
được đề cập rő ràng trong những tác phẩm của trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm
(1491-1585), ngay trang mở đầu tậpTrình tiên sinh quốc ngữ đã có câu: "Việt
Nam khởi tổ xây nền". Người ta cũng tìm thấy hai chữ "Việt Nam"
trên một số tấm bia khắc từ thế kỷ 16-17 như bia chùa Bảo Lâm (1558) ở Hải
Dương, bia chùa Cam Lộ (1590) ở Hà Nội, bia chùa Phúc Thánh (1664) ở Bắc
Ninh... Đặc biệt bia Thủy Môn Đình (1670) ở biên giới Lạng Sơn có câu đầu:
"Việt Nam hầu thiệt, trấn Bắc ải quan" (đây là cửa ngő yết hầu của nước
Việt Nam và là tiền đồn trấn giữ phương Bắc). Về ý nghĩa, phần lớn các giả thuyết
đều cho rằng từ "Việt Nam" kiến tạo bởi hai yếu tố: chủng tộc và địa
lý(người Việt ở phương Nam).
8. Đại Nam:
Năm 1820, vua Minh Mạng lên ngôi xin nhà Thanh cho phép đổi quốc hiệu Việt Nam
thành Đại Nam (大南),
ngụ ý một nước Nam rộng lớn. Tuy nhiên nhà Thanh đã không chính thức chấp thuận.
Khi nhà Thanh bắt đầu suy yếu, vua Minh Mạng chính thức đơn phương công bố quốc
hiệu mới Đại Nam vào ngày 15 tháng 2 năm 1839. Quốc hiệu này tồn tại đến năm
1945.
9. Đế Quốc Việt Nam:
Sau khi Nhật đảo chính Pháp vào ngày 9 tháng 3 năm 1945, hoàng đế Bảo Đại tuyên
bố độc lập và thành lập chính phủ độc lập trên danh nghĩa vào ngày 17 tháng 4
năm 1945, đứng đầu là nhà học giả Trần Trọng Kim, với quốc hiệu Đế quốc Việt
Nam. Trong thực tế Đế quốc Nhật Bản vẫn cai trị Nam Kỳ. Sau khi Nhật đầu hàng
quân Đồng Minh, Nam Kỳ mới được trao trả ngày 14 tháng 8 năm 1945, nhưng 10
ngày sau đó Hoàng đế Bảo Đại thoái vị. Đây trên danh nghĩa là chính phủ đầu
tiên của nước Việt Nam độc lập, danh xưng Đế quốc Việt Nam được chính thức dùng
làm quốc hiệu và đất Nam Kỳ được thống nhất về mặt danh nghĩa vào đất nước Việt
Nam.
10. Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa:
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là tên gọi của cả nước Việt Nam 1945 đến 1947 và miền
Bắc Việt Nam từ 1954 đến 1976. Nhà nước này được thành lập vào ngày 2 tháng 9
năm 1945 (ngày Quốc khánh của Việt Nam ngày nay). Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phải
đối đầu với thực dân Pháp và Quốc gia Việt Nam được lập ra dưới cái ô của Pháp
năm 1949. Trong thời kỳ 1954-1975, chính thể này phải đối đầu với Việt Nam Cộng
hòa được thành lập tại miền Nam Việt Nam.
11. Quốc Gia Việt Nam:
Quốc gia Việt Nam là danh xưng của toàn bộ vùng lãnh thổ Việt Nam, ra đời chính
thức từ Hiệp ước Elysée ký ngày 8 tháng 3 năm 1949, giữa Tổng thống Pháp
Vincent Auriol và Cựu hoàng Bảo Đại. Về danh nghĩa, chính quyền thuộc khối Liên
hiệp Pháp, độc lập, đối kháng và tồn tại trên cùng lãnh thổ với chính quyền Việt
Nam Dân chủ Cộng hòa. Danh xưng Quốc gia Việt Nam tồn tại trong 6 năm
(1949-1955). Năm 1955, Ngô Đình Diệm phế truất Quốc trưởng Bảo Đại, giải tán Quốc
gia Việt Nam, thành lập chính quyền Việt Nam Cộng hòa.
12. Việt Nam Cộng Hòa:
Việt Nam Cộng Hòa là tên gọi quốc gia được thành lập tại miền Nam Việt Nam, kế
tục Quốc gia Việt Nam (1949–1955). Trong Cuộc trưng cầu dân ý miền Nam Việt
Nam, 1955, tổng thống Ngô Đình Diệm đã phế truất Quốc trưởng Bảo Đại, thành lập
chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Chính quyền này tồn tại độc lập với Việt Nam Dân
chủ Cộng hòa trong 20 năm và sụp đổ vào năm 1975.
13. Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam:
Ngày 2 tháng 7 năm 1976, Quốc hội khóa 6 nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà đã quyết
định đổi tên nước thành Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Quốc hiệu này được
sử dụng từ đó đến nay.
https://vnkysu.blogspot.com/2017/01/quoc-hieu-viet-nam-thay-oi-qua-tung.html

Không có nhận xét nào