Header Ads

  • Breaking News

    Điều kiện để Việt Nam tăng trưởng hai con số

    GS. Trần Văn Thọ / Nhật 

    22/02/2026 

    Giáo sư Trần Văn Thọ. Ảnh: NVCC

    Việt Nam hiện nay với quyết tâm vươn mình sang kỷ nguyên mới và đang thực hiện các cải cách sâu rộng, ta có thể tin là Việt Nam sẽ vừa tăng trưởng mạnh mẽ vừa thực hiện phát triển bền vững và bao trùm, giữ được hài hòa với xã hội, với thiên nhiên, nói chung là phát triển vì cuộc sống và hạnh phúc của người dân.

    Gần đây, lãnh đạo Việt Nam đưa ra mục tiêu tăng trưởng hai con số trong 10 năm tới song song với quyết tâm tiến hành cải cách thể chế, tinh giản và hiệu suất hóa bộ máy hành chính, khơi dậy tiềm năng trong đó chú trọng phát triển doanh nghiệp tư nhân. Đây là một quyết tâm có sức kêu gọi toàn dân, nhất là doanh nghiệp chuẩn bị tham gia vào kỷ nguyên mới.

    Tôi cho rằng Việt Nam chưa đủ điều kiện để thực hiện ngay mục tiêu tăng trưởng hai con số, nếu thực hiện cho bằng được sẽ mang lại nhiều hệ lụy như tăng lạm phát, ảnh hưởng môi trường và không bền vững.

    Tuy nhiên, nếu quyết tâm tiến hành ngay các cải cách cần thiết và có các chính sách thích hợp trong 4-5 năm tới thì tăng trưởng hai con số có thể thực hiện trong thập niên 2030. Kinh nghiệm của Nhật Bản trong thời đại phát triển hai con số (1955-1973) cho thấy nhiều điểm đáng cho Việt Nam tham khảo.

    Các yếu tố làm tăng năng suất tổng hợp: Kinh nghiệm Nhật Bản

    Tăng mạnh mẽ năng suất tổng hợp (TFP) là điều kiện cơ bản để kinh tế tăng trưởng có hiệu suất với tốc độ cao. Nhưng yếu tố làm tăng TFP không phải chỉ là đổi mới sáng tạo (cách tân công nghệ) mà còn nhiều nguyên nhân khác. Để hiểu đúng vấn đề ta thử khảo sát trường hợp của Nhật Bản trong giai đoạn phát triển hai con số 

    Năm 2025, Việt Nam đạt mức phát triển trung bình cao và có mục tiêu trở thành quốc gia thu nhập cao trong 20 năm tới. Hiện nay, Việt Nam đang ở vào thời điểm giống Nhật Bản vào giữa thập niên 1950. Đến giữa thập niên 1960, Nhật Bản trở thành một cường quốc công nghiệp, một quốc gia có thu nhập cao. Trong quá trình đó, Nhật Bản có 18 năm liên tiếp tăng trưởng hai con số (về chi tiết, xem Trần Văn Thọ, Kinh tế Nhật Bản giai đoạn phát triển thần kỳ 1955-1973, NXB Đà Nẵng, Phanbook phát hành, 2022).

    Biểu 1 trình bày những yếu tố đưa lại mức tăng trưởng rất cao của Nhật Bản trong giai đoạn 1953-1971. Theo trong sách nói trên từ 1955 đến 1973 mỗi năm trung bình kinh tế Nhật tăng khoảng 10% nhưng ở Biểu 1, giai đoạn được tính toán hơi khác nên tốc độ là 8,8%, nhưng bình quân gần 9% trong gần 20 năm là rất ấn tượng.

    Biểu 1 có nhiều hàm ý cho Việt Nam trong giai đoạn tới. Thứ nhất, TFP đóng vai trò quan trọng nhất (4.9/8.8 tức 56%) trong tốc độ tăng trưởng cao. Thứ hai, cải tiến công nghệ (đổi mới sáng tạo) chỉ chiếm 41% (2/4.9) của TFP, những yếu tố khác cũng quan trọng. Thứ ba, trong TFP, yếu tố tăng quy mô đặc biệt quan trọng, tương đương với đổi mới sáng tạo. Quy mô đầu tư phải lớn và quy mô doanh nghiệp phải lớn mới có thể đầu tư lớn. 

    Thứ tư, chuyển lao động nông nghiệp sang công nghiệp, chuyển lao động cá thể từ các đơn vị sản xuất nhỏ, phi chính quy sang lãnh vực chính quy với quy mô lớn cũng có vai trò làm tăng TFP. Yếu tố này lớn hay nhỏ tùy theo cơ cấu kinh tế của mỗi nước. Như sẽ thấy, khu vực phi chính quy ở Việt Nam rất lớn nên việc cải cách sẽ đóng góp vào TFP nhiều hơn trường hợp của Nhật. 

    Thứ năm, đóng góp của tư bản (đầu tư) vào tăng trưởng cũng quan trọng như cải tiến công nghệ. Kinh nghiệm của Nhật cho thấy đầu tư và đổi mới sáng tạo bổ sung cho nhau: doanh nghiệp phải tích cực đầu tư mới thực hiện được đổi mới sáng tạo, và đổi mới sáng tạo là tiền đề để đầu tư có hiệu quả.

    Có ba chính sách liên quan đến các nội dung phân tích ở trên. Một là chính sách công nghiệp, trong đó nhà nước vạch ra tầm nhìn dài hạn và khuyến khích hỗ trợ doanh nghiệp tích cực đầu tư mạnh vào công nghiệp, vào đổi mới sáng tạo, kể cả chi tiêu nhiều hơn cho nghiên cứu và triển khai (R&D), từ đó thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu, kéo theo chuyển dịch lao động từ nông sang công, từ cá thể sang khu vực chính quy. 

    Hai là chính sách đào tạo nguồn nhân lực, trang bị tri thức, kỹ năng cho lao động nông nghiệp và phi chính quy để họ có thể di động sang công nghiệp và khu vực chính quy với năng suất cao. 

    Ba là cải cách thị trường vốn, thị trường đất đai để, qua đầu tư của doanh nghiệp, các nguồn lực di chuyển đến các lãnh vực năng suất cao. 

    Nhật Bản đã triệt để cải cách thể chế và có các chính sách thích hợp trong thập niên 1950 nên đã thực hiện dễ dàng giai đoạn tăng trưởng hai con số. Thật ra họ đặt kế hoạch phát triển chỉ 7%/năm nhưng hiệu quả của cải cách và chính sách tích cực đã làm kinh tế tăng cao ngoài dự tưởng.

    Việt Nam cần làm gì để tăng năng suất tổng hợp?

    Từ kinh nghiệm Nhật Bản và từ hiện thực kinh tế nước ta, theo tôi có bốn vấn đề nếu trong vòng 4-5 năm tới cải cách triệt để và có chính sách thích hợp, Việt Nam sẽ có một giai đoạn tăng trưởng cao, có thể hai con số, trong thập niên 2030.

    Vấn đề thứ nhất liên quan công nghiệp hóa. Kinh nghiệm các nước Đông Á cho thấy công nghiệp hóa phải tiến hành ở mức cao trong giai đoạn dân số vàng, nhưng trường hợp của Việt Nam đã gần hết giai đoạn dân số vàng (1980-2032) mà tỉ lệ giá trị gia tăng của khu vực công nghiệp trong GDP còn thấp. Một vấn đề nữa là mô hình công nghiệp hóa cho đến nay chủ đạo là gia công, lắp ráp nên năng suất thấp và gây ra rủi ro trong ngoại thương, nhất là va chạm thương mại với Hoa Kỳ. 

    Để giải quyết vấn đề này, Việt Nam cần khẩn trương xây dựng chính sách công nghiệp trong đó tiến hành công nghiệp hóa cả chiều rộng và chiều sâu. Về chiều rộng, tạo môi trường pháp lý và hành chính thuận lợi để doanh nghiệp tích cực đầu tư vào các lĩnh vực mới. Riêng nhà nước nên chú trọng hỗ trợ phát triển công nghiệp chế biến thực phẩm, công nghiệp ô-tô và công nghiệp vi mạch bán dẫn. Về chiều sâu, cần đẩy mạnh phát triển công nghiệp hỗ trợ, khuyến khích sản xuất linh kiện và các sản phẩm trung gian khác, thay thế hàng nhập khẩu từ Trung Quốc và Hàn Quốc.

    Vấn đề thứ hai liên quan kinh tế tư nhân, một khu vực làm cho năng suất toàn xã hội rất thấp. Như Biểu 2 cho thấy, lao động làm việc trong khu vực ngoài nhà nước hiện chiếm tới 82% tổng lao động có việc làm. Trừ nông nghiệp, còn lại 55% có thể được xem là khu vực kinh tế tư nhân trong công nghiệp và dịch vụ. Về số lượng doanh nghiệp trong khu vực kinh tế tư nhân, vào năm 2023, có tất cả gần 74 vạn doanh nghiệp trong đó hơn 49 vạn là siêu nhỏ và gần 20 vạn là doanh nghiệp nhỏ. Ngoài ra còn có khoảng 5 triệu hộ kinh doanh cá thể.

    Vì manh mún, nhỏ bé và cho đến nay trực diện với môi trường kinh doanh với nhiều thủ tục hành chính nhiêu khê, đại bộ phận các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs) và siêu nhỏ phần lớn không có năng lực cạnh tranh, không tham gia vào các chuỗi giá trị hay chuỗi cung ứng toàn cầu mặc dù nền kinh tế Việt Nam hội nhập rất sâu rộng vào kinh tế thế giới. Ngoài ra như đã nói ở phần kinh nghiệm Nhật Bản, doanh nghiệp phải lớn mới đâu tư lớn, điều kiện để tăng tính quy mô kinh tế. 

    Rất mừng là gần đây lãnh đạo Việt Nam đã thấy tình trạng yếu kém, manh mún của khu vực này và đưa quyết tâm cải cách. Đây là khu vực làm cho năng suất lao động toàn xã hội tăng chậm và quy mô doanh nghiệp càng nhỏ càng khó tham gia vào các chuỗi cung ứng toàn cầu. 

    Để cải cách, ta nên chia khu vực kinh tế tư nhân thành ba nhóm và có các chính sách thích hợp. 

    Về nhóm các doanh nghiệp lớn, tạo cơ chế để họ cùng chia sẻ với nhà nước về tầm nhìn dài hạn của kinh tế trong tương lai, cùng với nhà nước thực hiện các dự án nghiên cứu công nghệ cơ bản, và qua chính sách thuế khuyến khích họ đầu tư nhiều hơn trong nghiên cứu và triển khai (R&D) và chuyển giao công nghệ, tri thức quản lý trong liên kết với doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME).

    Về nhóm SME, đề nghị cơ quan quản lý nhà nước cũng như ngân hàng chuyên môn về SME cần có thêm chức năng tư vấn cho SME cải thiện các dự án đầu tư, có chế độ cấp chứng chỉ cho chuyên gia tư vấn về SME.. Ngoài ra, cơ quan quản lý ở trung ương cần có chức năng điều tra, nghiên cứu về thị trường và công nghệ, về chính sách mới để cung cấp cho SME những bản tin hàng quý và phát hành Sách trắng SME hằng năm. 

    Về nhóm cá thể, đơn vị gia đình, gọi chung là nhóm phi chính thức, nên có các biện pháp chuyển họ thành doanh nghiệp có tổ chức, thành SME. Họ là những đơn vị nhỏ bé không có nguồn nhân lực để thực hiện những thủ tục phức tạp, nhiêu khê nên nhà nước cần đơn giản hóa hồ sơ và quan chức phụ trách phải kiên nhẫn thuyết phục, giúp đỡ họ.

    Về doanh nghiệp nói chung, mục tiêu của chính sách là giúp doanh nghiệp lớn ngày càng lớn mạnh hơn, giúp SME phát triển thành doanh nghiệp lớn, và doanh nghiệp siêu nhỏ, đơn vị cá thể chuyển thành SME. Kinh nghiệm các nước đi trước cho thấy trong giai đoạn phát triển từ thu nhập trung bình hướng về mục tiêu thu nhập cao, phải có nhiều doanh nghiệp lớn mới dễ thành công. Ở giai đoạn này, các dự án đầu tư ngày càng lớn, nhu cầu nghiên cứu, áp dụng công nghệ mới ngày càng nhiều với độ rủi ro cao mà chỉ doanh nghiệp lớn mới có khả năng chống chịu.

    Vấn đề thứ ba là phát triển nguồn nhân lực. Đây là yếu tố then chốt giúp dịch chuyển cơ cấu công nghiệp và đáp ứng nhu cầu khi cơ cấu doanh nghiệp chuyển theo hướng tăng quy mô. 

    Mở rộng và thâm sâu công nghiệp hóa như đã phân tích cần nhiều lao động lành nghề. Hiện nay (2024), trong tổng lao động có việc làm (gần 52 triệu), có gần 14 triệu trong khu vực nông, lâm thủy sản, chủ yếu là nông nghiệp; và chỉ có 12 triệu lao động trong công nghiệp chế biến, chế tạo. Như vậy trước mắt vừa nâng cao chất lượng lao động trong công nghiệp vừa đào tạo lao động nông nghiệp để có kỹ năng cần thiết mới chuyển sang làm việc trong khu vực công nghiệp.

    Mặt khác, nếu cơ cấu doanh nghiệp thay đổi theo hướng đã phân tích, doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ sẽ phải lớn hơn, đại bộ phận của khu vực phi chính thức sẽ chính thức hóa. Theo đó, phần lớn lao động đang làm việc trong khu vực kinh tế tư nhân phải được đào tạo hoặc đào tạo lại theo hướng tăng kỹ năng, tăng chất lượng để đáp ứng nhu cầu thay đổi cơ cấu doanh nghiệp.

    Chất lượng lao động của Việt Nam hiện nay rất kém. Theo JICA (Tổ chức Hợp tác quốc tế Nhật Bản), vào năm 2020, số người có học lực 9 năm trở xuống chiếm tới 61,2% toàn lực lượng lao động; lao động có trình độ sau cấp III chỉ có 15,2% và lao động có kỹ năng và chuyên môn chỉ có 23,6%. Số liệu mới hơn của Tổng cục Thống kê (2024) cũng cho thấy hiện nay chỉ có 28% lao động đã qua đào tạo và trong khu vực phi chính thức, có tới hơn một nửa là lao động không có trình độ chuyên môn. 

    Trong thời gian tới, Việt Nam dĩ nhiên cần nguồn nhân lực chất lượng cao ở cấp quản lý, lãnh đạo như chuyên viên cấp cao, kỹ sư, quản trị doanh nghiệp. Thành phần này phần lớn là những người tốt nghiệp đại học hoặc trên đại học, có năng lực chuyên môn cao, có thể xử lý và thích ứng với thay đổi nhanh trong công nghệ kỹ thuật số, trí tuệ nhân tạo (AI), khoa học dữ liệu, v.v.

    Nhưng một nguồn nhân lực chất lượng cao khác cũng rất quan trọng và cấp bách hơn để thay đổi tình hình chất lượng kém nói trên. Đó là nguồn lao động cơ bản, chất lượng cao nhưng số lượng rất đông.

    Việc đẩy mạnh công nghiệp hóa và thay đổi cơ cấu doanh nghiệp sẽ cần một lực lượng lớn về lao động có kỹ năng, một đội ngũ kỹ thuật viên chuyên nghiệp, những người thợ chuyên môn, có khả năng lãnh hội tri thức khoa học trong sản xuất, trong lưu thông, trong kế toán v.v...

    Trình độ giáo dục có thể chỉ là trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng hay cấp III chuyên nghiệp nhưng được đào tạo bài bản, chuyên sâu, có tinh thần yêu nghề, tinh thần trách nhiệm, hiểu văn hóa ứng xử. Họ là những người thợ chuyên ngành, được đào tạo chính quy, vừa lãnh hội được lý thuyết, vừa điều khiển được máy móc thông thạo và trong số đó sẽ có người dần dần có khả năng quản lý cấp trung ở nhà máy.

    Trong thời đại công nghệ số và toàn cầu hóa, họ cần được bồi dưỡng thêm khả năng tiếng Anh và năng lực tối thiểu về công nghệ số. Đào tạo hàng loạt lao động chất lượng cao này mới giải quyết các vấn đề về tình trạng lao động ta thấy ở trên.

    Vấn đề thứ tư là cải cách thị trường các yếu tố sản xuất như vốn, đất đai, lao động, để các nguồn lực này, qua cơ chế thị trường, di động đến những lĩnh vực có hiệu quả, có năng suất cao nhất. Đặc biệt thị trường vốn cần cải thiện mạnh mẽ.   

    Thị trường vốn ở Việt Nam phát triển từng bước từ thập niên 1990 nhưng còn nhiều dư địa để cải cách hơn nữa. Đặc biệt, doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME) vẫn ở trong trạng thái bất lợi như nhiều điều tra nghiên cứu đã phản ảnh. Ngân hàng thương mại có khuynh hướng chỉ cho vay đối với các doanh nghiệp lớn như doanh nghiệp nhà nước và FDI, và ít lưu tâm đối với SME. Thủ tục xin vay tiền rất nhiêu khê đến nỗi nhiều SME bỏ cuộc, và trường hợp vay được thì SME phải chịu lãi suất cao hơn so với lãi suất áp dụng cho doanh nghiệp lớn. 

    Kinh nghiệm của Nhật Bản có thể giúp đề xuất các biện pháp sau. Một là, ngân hàng dành riêng cho SME nên có nhiều chuyên viên có năng lực thẩm định các dự án đầu tư và có một bộ phận tư vấn giúp SME tăng tính khả thi của các dự án đầu tư. Hai là, Việt Nam nên lập một chế độ cung cấp chứng nhận cho các nhà tư vấn chuyên về SME để khuyến khích ra đời những chuyên gia tư vấn cho SME cải thiện quản lý, lập dự án đầu tư cũng như giúp họ soạn thảo đơn xin vay vốn.

    Ba kịch bản tăng trưởng từ nay đến năm 2045

    Với tiền đề các cải cách và các chính sách đề xuất liên quan bốn vấn đề nói trên được thực hiện ta có thể kỳ vọng Việt Nam sẽ tăng trưởng ở mức cao, kể cả khả năng hai con số, và đạt mục tiêu trở thành quốc gia thu nhập cao vào năm 2045. Cùng đạt mục tiêu nhưng có thể có vài kịch bản. Tôi xin đề xuất ba kịch bản (Hình 1).

    Kịch bản 1 (Case 1): Từ năm 2024 đến 2035 (chọn năm bắt đầu là 2024 để theo số liệu mới nhất của Ngân hàng Thế giới) , kinh tế tăng trưởng bình quân 10%/năm, gần đúng như mục tiêu tăng trưởng hai con số mà lãnh đạo hiện nay muốn nhắm tới (giai đoạn 2026-2030). Sau đó, từ 2036 đến 2050, kinh tế giảm tốc độ xuống còn 7%. Dân số giai đoạn đầu tăng bình quân 0,5%, giai đoạn sau 0,2%. GDP bình quân đầu người giai đoạn đầu khoảng 9,5%, giai đoạn sau hơn 6,5% một tí, nhưng bù sai số và để cho gọn ta tính là 6,5%.

    Với kịch bản này (Case 1, đường màu xanh trong Hình 1), Việt Nam đạt mục tiêu thành nước thu nhập cao vào năm 2039 theo tiêu chí của Ngân hàng Thế giới (bình quân GDP đầu người 14.221 USD theo giá cố định năm 2015), tức là sáu năm sớm hơn mục tiêu. Nếu tăng trưởng ở giai đoạn sau (2036-2050) thấp hơn 7% thì đạt mục tiêu khoảng năm 2045. Trong Hình 1, Nhật Bản đạt mức thu nhập cao năm 1969 và Hàn Quốc năm 1995.

    Kịch bản 2 (Case 2): Kịch bản này vẫn đặt ra mục tiêu phát triển hai con số trong 10 năm nhưng bắt đầu từ năm 2031, sau một thời kỳ quá độ để chuẩn bị là 5 năm. Theo đó, từ 2024 đến 2030, kinh tế tăng trưởng trung bình 7,5%, cao hơn năm 2024 (7,1%) một tí. Từ năm 2031 đến 2040 tăng trưởng hai con số, trung bình 10%. Sau đó, từ 2041 đến 2050 tăng trưởng 6%.

    Dân số sau năm 2035 trung bình chỉ tăng 0,2% hoặc thấp hơn. GDP bình quân đầu người trong ba giai đoạn lần lượt tăng 7,5%; 9,5% và 5,5%. Theo kịch bản này, Việt Nam trở thành nước thu nhập cao vào năm 2039 (Case 2, đường màu đỏ trong Hình 1), giống Kịch bản 1. Hai kịch bản đều đạt mục tiêu vào năm 2039 nhưng theo tôi kịch bản này khả thi hơn Kịch bản 1, vì các cải cách thể chế, các chính sách phát triển bắt đầu khởi động hiện nay thường cần một thời gian quá độ để chuyển sang giai đoạn tăng trưởng hai con số.

    Kịch bản 3 (Case 3: Kịch bản này thử đưa ra trường hợp không có giai đoạn tăng trưởng 2 con số nhưng vẫn đạt mục tiêu trở thành quốc gia thu nhập cao vào năm 2045. Đó là Case 3 (đường xanh lá cây trong Hình 1).

    Theo kịch bản này, từ năm 2024 đến 2035 kinh tế tăng trưởng trung bình 8,5% (GDP bình quân đầu người 8%), cao hơn những năm gần đây, và giai đoạn sau (2036-2050) kinh tế tăng trưởng 5,5% (GDP đầu người 5%), kết quả là Việt Nam đạt mục tiêu thu nhập cao vào năm 2044.

    Việt Nam sẽ theo kịch bản nào? Theo tôi nỗ lực tối đa thực hiện những chính sách bàn trong các phần trước, để chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thay đổi thể chất doanh nghiệp nhằm tăng nhanh năng suất lao động, và thực thi các chương trình cải cách thể chế mà lãnh đạo đang đưa ra nhằm tinh giản bộ máy để có ngân sách nhiều hơn cho đầu tư hạ tầng, và hiệu suất hóa bộ máy để thực thi hiệu quả các chính sách, kinh tế Việt Nam sẽ tăng trưởng theo kịch bản 2, nghĩa là có khả năng tăng trưởng hai con số vào thập niên 2030.

    Lãnh đạo của Việt Nam hiện nay chủ trương đất nước đang vươn mình trong kỷ nguyên mới, nếu các chủ trương, các cải cách và chính sách bắt đầu thực hiện ngay sẽ thổi vào trong dân không khí lạc quan, phấn khởi về tương lai. Đầu tư của doanh nghiệp trong nước và FDI sẽ tăng mạnh mẽ. Kinh tế có thể sẽ tăng trưởng với tốc độ cao.

    Trong cả ba kịch bản tôi chủ trương tăng trưởng sẽ ngày càng tùy thuộc hơn vào nội nhu. Xuất khẩu vẫn quan trọng nhưng về mặt tương đối, nội nhu mà chủ yếu là tiêu dùng cá nhân, sẽ quan trọng hơn. Điều này cho thấy tăng trưởng gắn liền với việc cải thiện đời sống của hơn 100 triệu dân.

    Ngoài ra với cải cách mạnh mẽ khu vực kinh tế tư nhân, tương lai kinh tế Việt Nam sẽ giảm phụ thuộc vào FDI. Về xuất khẩu, để tránh hoặc giảm rủi ro địa chính trị, ta không nên tập trung nhiều vào một vài thị trường, nhất là thị trường Mỹ như hiện nay, mà quan tâm hơn đến những nước trong các hiệp định thương mại tự do mà Việt Nam là thành viên.

    Việt Nam đang có nhiều tiềm năng để tăng năng suất nhanh làm cơ sở cho kinh tế tăng trưởng ở tốc độ cao. Tăng trưởng cao, tăng trưởng hai con số, còn là điều kiện để đối phó với thách thức chưa giàu đã già.

    Tuy nhiên, tăng trưởng phải đi song song với việc cải thiện cuộc sống của dân chúng, tạo cơ chế, chính sách để người dân an tâm, lạc quan về tương lai, và thực hiện kinh tế tuần hoàn, bảo vệ môi trường, tăng tư bản xã hội, tư bản thiên nhiên. Nói chung là thực hiện tăng trưởng kinh tế cùng với phát triển bao trùm, phát triển bền vững ở thứ nguyên cao.

    Đây là một thách thức không dễ vượt qua. Nhưng Việt Nam hiện nay với quyết tâm vươn mình sang kỷ nguyên mới và đang thực hiện các cải cách sâu rộng, ta có thể tin là Việt Nam sẽ vừa tăng trưởng mạnh mẽ vừa thực hiện phát triển bền vững và bao trùm, giữ được hài hòa với xã hội, với thiên nhiên, nói chung là phát triển vì cuộc sống và hạnh phúc của người dân.

    Trần Văn Thọ


    Không có nhận xét nào