Lê Nguyễn
02/10/2026
CHUYỆN “XÉ RÀO” THỜI BAO CẤP
Năm 1975, Việt Nam thống nhất hai miền Nam-Bắc, giữa một nền kinh tế miền Nam từ lâu vận hành theo hướng tư bản chủ nghĩa (TBCN) và một nền kinh tế miền Bắc từng vận hành theo hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN). Trong những năm tháng đầu tiên, khó khăn chồng chất khiến các nhà lãnh đạo thành phố Hồ Chí Minh lúc bấy giờ đã chọn những biện pháp đầy tính sáng tạo để vực dậy nền kinh tế chung của cả nước.
Nhắc đến nền kinh tế những năm sau 1975, khó có thể quên những vất vả, khó khăn mà chính quyền và người dân đã trải qua để duy trì một đời sống ổn định, nhất là về mặt lương thực, thực phẩm. Tình trạng bao cấp, hiện tượng ngăn sông cấm chợ đã khiến cho nền kinh tế bị ách tắc, không đủ đáp ứng các nhu cầu tối thiểu của người dân.
Trong tình trạng đó, vào đầu thập niên 1980, các nhà lãnh đạo TPHCM, đứng đầu là các ông Võ Văn Kiệt và Nguyễn Văn Linh, đã nghĩ đến việc tận dụng thế mạnh còn lại của Sài Gòn vào những năm trước 1975, với:
- Nhiều nhà tư sản dân tộc còn sở hữu các nhà máy có thể tiếp tục sản xuất với máy móc có sẵn, đội ngũ công nhân thạo việc có thể huy động trở lại được.
- Không ít doanh nhân nắm vững kỹ thuật sản xuất, giàu kinh nghiệm trong lãnh vực kinh doanh quốc tế, đặc biệt trong mối quan hệ đã có từ trước với những thị trường gần gũi ở HongKong, Singapore. Đội ngũ này cần được tập hợp lại, bố trí họ vào guồng máy sản xuất chung bằng một chính sách mềm dẽo và hợp tình, hợp lý.
Trong nửa đầu thập niên 1980, nền kinh tế của TPHCM trải qua ba thời kỳ rõ rệt:
I) THỜI KỲ CỦA CÁC CÔNG TY CÔNG TƯ HỢP DOANH XUẤT NHẬP KHẨU TRỰC DỤNG (CTCTHDXNKTD)
Ngày 21.1.1981, để tạo điều kiện giải quyết những khó khăn của nền kinh tế, Hội đồng bộ trưởng ban hành Quyết định 25-CP cho phép áp dụng chế độ ba kế hoạch: kế hoạch của Trung ương, kế hoạch liên doanh liên kết với các cơ sở bạn, kế hoạch tự tìm kiếm nguyên liệu để sản xuất cho thị trường. Trên tinh thần đó, lãnh đạo TPHCM đã tận dụng ưu thế sẵn có, áp dụng mô hình công tư hợp doanh trong phát triển ngành ngoại thương, lấy việc xuất khẩu sản phẩm để mang về cho đất nước các nguyên liệu cho sản xuất và hàng tiêu dùng phục vụ nhu cầu của xã hội.
Khoảng giữa năm 1981, 5 công ty công tư hợp doanh xuất nhập khẩu trực dụng (CTHDXNKTD) được thành lập, gồm có:
- Công ty Ficonimex thuộc Ban Liên lạc Công thương
- Công ty Direximco thuộc Liên Hiệp xã thành phố.
- Công ty Cholimex thuộc UBND quận 5
- Công ty Agrimexco (XNK Nông nghiệp) thuộc Sở Nông Nghiệp
- Công ty Rameico XNK nguyên liệu
Trong những năm 1981-1983, ngoài hai công ty hoạt động chuyên ngành (nông nghiệp và nguyên liệu cho sản xuất), các công ty Direximco, Ficonimex và Cholimex giao dịch chủ yếu với hai thị trường tư bản là HongKong và Singapore, sản phẩm xuất khẩu chủ yếu gồm: thủy hải sản tươi và đông lạnh (tôm, cá, mực, sò ...), lâm sản có giá trị (kỳ nam, trầm hương, quế ..) và nhập về hai loại sản phẩm:
* cho sản xuất: sợi dệt, nhựa (PE, PP, PVC..), xi măng, sắt thép ...
* cho tiêu dùng (bột ngọt, bột giặt, đường, sữa ...)
Trị giá hàng xuất nhập được hạch toán bằng đô la Mỹ, song trên thực tế, hầu hết hàng hóa, sản phẩm được mua bán theo phương thức “hàng đổi hàng”.
Chỉ sau một năm đầu hoạt động, các công ty CTHDXNK này đã mang về cho thành phố Hồ Chí Minh và cả nước nói chung số nguyên liệu dệt đủ để vực dậy Liên hiệp xí nghiệp dệt Hồng Gấm với hơn 40 xí nghiệp thành viên, và một hợp tác xã dệt to lớn ở Ngả tư Bảy Hiền, phát triển mặt hàng nhựa và một khối lượng hàng tiêu dùng đáp ứng được phần lớn nhu cầu của người tiêu thụ.
Tuy nhiên, đến tháng 7.1982, mô hình công ty công tư hợp doanh XNK bị bãi bỏ bởi quyết định 113 của Hội đồng Bộ trưởng, nhà nước chủ trương quốc doanh hóa toàn bộ hoạt động ngoại thương cho phù hợp với tình hình kinh tế trên cả nước.
II) THỜI KỲ QUỐC DOANH HÓA TOÀN BỘ
HOẠT ĐỘNG NGOẠI THƯƠNG
Vào những năm 1982-1983, thời gian từ lúc ban hành (tháng 7.1982) tới lúc thi hành quyết định 113 (tháng 7.1983) kéo dài đến một năm, do yêu cầu xây dựng hoàn chỉnh một cơ chế XNK thống nhất cho cả thành phố. Trong thời gian chuyển tiếp đó, các công ty XNK trên vừa tiếp tục giao dịch với hai thị trường HongKong-Singapore, vừa chuyển đổi mục tiêu và hình thức hoạt động.
Tháng 6.1983, khi Tổng công ty XNK thành phố HCM, tên thương mại là IMEXCO, được chính thức thành lập và đi vào hoạt động thì cũng là lúc các công ty công tư hợp doanh bắt đầu giải thể, hầu hết công nhân viên biên chế thuộc các đơn vị này được thu nhận vào IMEXCO. Trong khi công ty Ficonimex tự giải thể thì công ty Direximco đã mua đất từ trước và xây dựng xong Xí nghiệp chế biến hàng XK Cầu Tre; công ty Cholimex biến thành Công ty cung ứng hàng xuất khẩu quận 5.
Mô hình của công ty Cholimex thuộc UBND quận 5 được nhiều quận huyện khác áp dụng. Họ cũng thành lập Công ty cung ứng hàng xuất khẩu quận, giao dịch với một đầu mối chính là IMEXCO/TPHCM.
Bước đầu, Xí nghiệp chế biến hàng XK Cầu Tre và Xí nghiệp Đông lạnh I là hai cơ sở chế biến hàng xuất khẩu hàng đầu của thành phố. Trong nửa đầu thập niên 1980, hầu hết các tỉnh chưa có nhà máy chế biến sản phẩm xuất khẩu riêng, vì thế nguồn nguyên liệu được các tỉnh tập trung về TPHCM dưới hình thức ủy thác xuất khẩu hay mua đứt bán đoạn. Tình trạng này kéo dài cho đến cuối thập niên 1980, nhiều tỉnh với sự hỗ trợ, hợp tác của các doanh nhân nước ngoài (Nhật Bản, Hàn Quốc. Đài Loan...), tự thành lập nhà máy chế biến hàng XK, chủ động nguồn nguyên liệu tại địa phương. Cũng từ đó, mô hình XNK của TPHCM cũng chuyển biến dần, khi nguồn nguyên liệu thủy hải sản bị sút giảm rất nhiều.
Nhìn chung, sự ra đời và hoạt động của Tổng công ty IMEXCO trực thuộc UBND TPHCM là một trong những tiền đề của chính sách đổi mới áp dụng trên cả nước vào nửa sau thập niên 1980, mở đầu việc phát triển ngoại thương và thu hút vốn đầu tư của nước ngoài ngày một nhiều hơn.
III) CÚ “XÉ RÀO” VỀ LƯƠNG THỰC TẠI
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Sau tháng 4.1975, trong suốt 5 năm liền (1975-1980), cả nước sống trong tình trạng bao cấp về lương thực. Gạo được phân phối theo đầu người, với tiêu chuẩn từ 9 đến 13 kg/người/tháng, tùy thời điểm, với giá rẻ như cho. Ngân sách quốc gia phải dành một ngân khoản khổng lồ để trợ cấp cho ngành lương thực, việc thu mua gạo từ nguồn cung cấp ở các tỉnh hoạt động mạnh về nông nghiệp bị ách tắc, vì giá thu mua của nhà nước quá thấp, không bù đắp được vốn liếng và công sức do người nông dân bỏ ra. Hậu quả là sản lượng của cả vựa lúa miền Nam từ mức 1,9 triệu tấn năm 1976 tụt xuống còn 0,99 triệu tấn năm 1977 và 0,64 triệu tấn năm 1979, giảm 2/3 chỉ trong vòng 3 năm! (https://tuoitre.vn/noi-am-anh-bo-bo-trong-dem-dai-doi-kem...
)
Đã thế, chinh sách “ngăn sông cấm chợ” vào những năm 1970 còn khiến lúa gạo nằm yên trong kho chứa của người dân, trong khi chính quyền thành phố Hồ Chí Minh phải “chạy ăn từng bữa toát mồ hôi”, có lúc khối lượng gạo dự trữ cho cả thành phố 4 triệu dân chỉ còn phân phối được trong 3-4 ngày! (https://vnexpress.net/nhung-lan-xe-rao-cua-co-thu-tuong...
) !
Đó cũng là thời điểm mà bên cạnh món gạo quen thuộc, người dân thành phố Hồ Chí Minh phải ăn kèm những loại lương thực khác như bo bo, sắn lát, khoai lang, bột mì …
Năm 1978, vào một ngày được tính trước, Bí thư thành ủy Võ Văn Kiệt mời ông Lữ Minh Châu, Giám đốc Ngân hàng thành phố Hồ Chí Minh, bà Nguyễn Thị Ráo (Ba Thi), Phó Giám đốc Sở Lương thực thành phố Hồ Chí Minh, cùng vài cán bộ cao cấp khác đến ăn sáng tại nhà để bàn việc tháo gỡ ách tắc trong việc huy động lương thực từ các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long. Và từ cuộc họp mặt này, “Tổ thu mua lúa gạo” ra đời, với người tổ trưởng là bà Ba Thi.
Với nhân số của tổ chưa đến 10 người, họ đã xuống đến nhiều nơi, thuyết phục người dân bán lúa gạo ra với giá thỏa thuận cao gấp 4-5 lần giá thu mua chính thức của ngành lương thực nhà nước. Hành động này của chính quyền thành phố Hồ Chí Minh được coi là một sự “xé rào” mạnh mẽ và người cán bộ thực hiện có thể nhận chịu những chế tài nặng nề nhất, vì trái với lập trường của Ủy ban Vật giá nhà nước do một lãnh đạo của ủy ban này phát biểu năm 1977:
“chỉ đạo giá nông sản (theo thị trường tự do) như vậy là hoàn toàn trái ngược với nguyên tắc hình thành giá cả XHCN...”
May mắn là đến nửa sau năm 1980, sự “xé rào” được mặc nhiên công nhận với những thành công bước đầu, tổ thu mua lúa gạo trở thành Công ty kinh doanh lương thực thành phố Hồ Chí Minh với người giám đốc đầu tiên là bà Ba Thi Nguyễn Thị Ráo. Sự thiếu thốn lương thực không còn là nỗi ám ảnh thường trực của bí thư thành ủy Võ Văn Kiệt và các cộng sự của ông nữa, song chế độ hai giá về lương thực vẫn còn tồn tại trong ít nhất 5 năm nữa. Lúc bấy giờ, bên cạnh loại gạo được ngành lương thực nhà nước phân phối với giá chính thức (giá bao cấp) thường được gọi là “gạo tổ” (được phân phối trong các tổ dân phố), người dân có thể mua thoải mái với giá thỏa thuận cao gấp 4-5 lần giá phân phối tại các cửa hàng thuộc Công ty kinh doanh lương thực thành phố Hồ Chí Minh. Tình trạng thiếu thốn lương thực đã được khắc phục,
Mặc dầu vậy, phải chờ đến hết năm 1985, việc phân phối gạo theo giá bao cấp của nhà nước mới kết thúc, chế độ giá thỏa thuận có lãi để vận hành bộ máy kinh doanh đã được xác lập, Công ty kinh doanh lương thực thành phố Hồ Chí Minh trở thành cái đầu tàu về ngành lương thực, là bài học kinh nghiệm cho nhiều tỉnh thành khác trong câu chuyện quốc kế dân sinh đầy gian khó.
Đến năm 1986, Công ty kinh doanh lương thực thành phố Hồ Chí không chỉ bán gạo cho dân mà còn cung cấp gạo với khối lượng lớn cho nhiều cơ sở sản xuất nội địa và các doanh nghiệp chế biến hàng xuất khẩu. Năm 1987, người viết bài này từng soạn thảo phương án nhập khẩu thiết bị chế biến tinh bột gạo xuất khẩu ở Xí nghiệp chế biến hàng xuất khẩu Cầu Tre. Khi phương án được lãnh đạo thành phố duyệt thuận, thiết bị được nhập về từ Singapore và từ đó, Xí nghiệp Cầu Tre đã được Công ty Lương thực TPHCM cung cấp hàng trăm tấn gạo nguyên liệu để chế biến và xuất khẩu tinh bột gạo, mang về cho quỹ ngoại tệ của thành phố một ngân khoản không nhỏ.
Quá trình đổi mới về kinh tế nói chung và ngoại thương nói riêng là nỗ lực không mệt mỏi của các cấp lãnh đạo thành phố HCM và cả nước vào thập niên 1980. Những nỗ lực đó là phần đóng góp không nhỏ vào công cuộc đổi mới và phát triển của cả nước ngày nay.
Lê Nguyễn
11.2.2026
* Bài in trong Giai phẩm MÙA XUÂN MƠ ƯỚC - năm Bính Ngọ - 2026 - của báo Nông nghiệp và Môi trường – cơ quan ngôn luận của BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ MÔI TRƯỜNG
Không có nhận xét nào