Lê Nguyễn
(Bài viết từ tháng 4.2016, nay bổ sung một số chi tiết, và đăng lại theo yêu cầu của một số bạn muốn đọc lại nhưng không tìm thấy)
18/3/2026
Câu thiệu về 4 vị tướng sạch của VNCH hầu như những ai trưởng thành tại miền Nam trước 1975 cũng đều nghe nói đến: nhất Thắng, nhì Thanh, tam Chinh, tứ Trưởng. Thiếu tướng Nguyễn Đức Thắng thuộc binh chủng Pháo binh là người đứng đầu danh sách. Người ta kể rằng khi còn là một Tiểu đoàn trưởng pháo binh, ngày chủ nhật, ông chẳng đi chơi đâu, tự lái xe jeep đến hồ nước rồi tự tay rửa sạch xe mình đi, để cho anh tài xế có thì giờ ở nhà với vợ con. Các sĩ quan trong tiểu đoàn của ông cũng theo gương đó mà làm.
Năm 1966, ông làm Tổng ủy viên Xây dựng, lớn hơn cả Bộ trưởng (lúc ấy danh xưng của Bộ trưởng là “Ủy viên” trong Ủy ban Hành Pháp Trung ương của tướng Nguyễn Cao Kỳ), điều hành cả các bộ và phủ: Bộ Canh Nông, Bộ Công chánh, Phủ Đặc ủy Hành chánh (tiền thân là Bộ Nội vụ) … giám sát việc thực hiện một ngân sách xây dựng nông thôn khổng lồ xuất phát từ viện trợ Mỹ.
Cần nói thêm là vào thời điểm 1966-1967, trước khi có cuộc bầu cử Tổng thống – Phó Tổng thống nền đệ nhị Cộng hòa tại miền Nam (1967), chức vụ Tổng thống hay Quốc trưởng (nay là Chủ tịch nước) được gọi là Chủ tịch Ủy ban Lãnh đạo Quốc gia, do Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu nắm giữ, chức vụ Thủ tướng gọi là Chủ tịch Ủy ban Hành pháp Trung ương, do Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ nắm. Trong khoảng thời gian đó, quyền hành thực tế nằm trong tay ông Kỳ, hoạt động của ông Thiệu cũng như Chủ tịch nước ngày nay, chủ yếu thuộc lãnh vực nghi thức, ngoại giao. Sau cuộc bầu cử Tổng thống năm 1967, tướng Thiệu đắc cử Tổng thống và tướng Kỳ Phó Tổng thống, thực quyền nằm trong tay Tổng thống Thiệu, đúng theo hiến định.
Trong Ủy ban Hành pháp trung ương (chánh phủ) những năm 1965-1967, trên các Phủ, Bộ, còn có 3 Tổng Bộ do 3 Tổng Ủy viên phụ trách, gồm:
- Tổng Bộ Xây Dựng, như đã nêu trên, do tướng Nguyễn Đức Thắng phụ trách
- Tổng Bộ An Ninh, do Thiếu tướng Tôn Thất Đính, nguyên Tổng trấn Sài Gòn-Gia Định, đảm trách
- Tổng Bộ Kế Hoạch được giao cho Trung tướng Đặng Văn Quang, nguyên Tư lệnh vùng 4. Đây là một Tổng Bộ hữu danh vô thực, bởi vì trước đó, việc kế hoạch hóa toàn miền Nam chỉ do một Tổng Nha Kế hoạch (trực thuộc Phủ Tổng thống, rồi Phủ Thủ tướng), không đến cấp bộ, đảm trách. Người ta giải thích (không chính thức) rằng trong thời gian làm Tư lệnh vùng 4, tướng Đặng Văn Quang nhất mực không cho đưa quân Mỹ xuống miền Tây, vì thế ông Thiệu và ông Kỳ phải nghĩ ra cách rút ông ta từ vùng 4 về và “đền bù” bằng một chức vụ lớn hơn cả Bộ trưởng.
Trở lại với tướng Nguyễn Đức Thắng, hồi đó, khi xuống các tỉnh để trực tiếp duyệt xét kế hoạch XDNT, ông có một cách hành xử “không giống ai”: khi máy bay cất cánh được một chút, ông rút từ trong túi xách ra một ổ bánh mì thịt và nhai ngấu nghiến. Đó không phải là một chiêu trò biểu diễn lấy tiếng, mà là một toan tính thực tế và hợp lý, vì công việc lúc đó rất khẩn trương, vừa duyệt xong kế hoạch ở một tỉnh, mặc cho chính quyền tỉnh đó đã chuẩn bị xong bữa ăn trưa và hết lời mời mọc, ông vẫn xin cáo lỗi để kịp lên máy bay, bay qua tỉnh kế tiếp.
Tướng ông cao lớn, dềnh dàng, song một ổ bánh mì cũng đủ để ông chịu đựng qua buổi trưa để làm việc tiếp với tỉnh khác và chiều bay về tiếp tục công việc ở bộ. Các sĩ quan, viên chức tháp tùng ông trong các lần đi duyệt xét, thanh tra như thế chỉ bị hụt hẩng lần đầu, từ lần thứ hai trở đi, họ không bao giờ quên ổ bánh mì, vì không có nó, họ dễ dàng bị đói lả khi tháp tùng ông tướng.
Những lần không ăn cơm trưa tại địa phương, ông đều chỉ thị thông báo cho tỉnh biết để không chuẩn bị tốn kém. Song cũng có đôi lần ông và phái đoàn bộ Xây dựng (nông thôn) chịu ăn cơm trưa tại tỉnh, vì việc duyệt xét kế hoạch còn kéo dài đến quá trưa, ông mà ăn bánh mì thì viên chức tỉnh nào dám về nhà ăn cơm. Những bữa cơm như thế kết thúc, theo chỉ thị trước của ông, mỗi sĩ quan, viên chức trong phái đoàn trung ương rút trong túi ra 150 đồng (sau tăng lên 300 dồng) là tiền phụ cấp vãng phản họ được lãnh trong một ngày công tác để trả lại cho tỉnh.
Tất nhiên, chi phí mà tỉnh dành cho họ trong bữa ăn lớn hơn số tiền 150 đồng đó, song hành động trên nói lên tính sòng phẳng cần có trong sự giao tiếp giữa các bộ phận chính quyền với nhau, nhất là giữa cấp trung ương và địa phương.
Tướng Thắng làm việc cũng công khai lắm, không có bí mật như nhiều quan chức cao cấp ngày đó và bây giờ: ngay trước phòng làm việc của ông có hai bóng đèn xanh và đỏ, đèn xanh sáng là ông đang rảnh, có thể tiếp khách hay nhân viên dưới quyền, đèn đỏ sáng là ông đang bận, hai đèn đều tắt là ông không có mặt ở văn phòng. Những năm 1966-1967, Nha Thanh tra Tổng Bộ Xây Dựng (sau đổi là Bộ Xây dựng Nông thôn), nơi tùng sự của tôi, ở sát cạnh phòng làm việc của tướng Thắng nên chi tiết về đèn này tôi nhớ rất rõ. Cứ mỗi lần đến nhiệm sở, đi ngang qua phòng ông là mình có thói quen nhìn lên bóng đèn để biết ông đang có mặt ở đó không, và thường là đèn luôn sáng trước khi những nhân viên cuối cùng đến bộ.
Không có ban bệ gì hết, người duy nhất có mặt thường trực tại văn phòng tướng Thắng là một sĩ quan tùy viên cấp Trung úy hay Đại úy.
Còn có một chi tiết khác về tướng Thắng mà ít người để ý hay nhận biết được. Trong một bài viết về tổ chức cấp Bộ thời VNCH, tôi có nêu một chi tiết quan trọng là mỗi vị Bộ trưởng khi đến nhậm chức tại một bộ luôn mang theo một ban bệ riêng của mình, thành phần gồm:
- 1 Đổng lý Văn phòng, hệ cấp ngang với Tổng Giám Đốc Bộ
- 1 Chánh Văn phòng, ngang với Giám Đốc Nha
- 1 số Công cán ủy viên ngang với Chánh Sự vụ Sở (Chánh Sở)
-1 số Tham chánh Văn phòng ngang với Chủ sự phòng (Trưởng phòng)
Những người này thuộc bộ phận chính trị của bộ, phân biệt với bộ phận hành chánh hay chuyên môn, đứng đầu là Tổng Thư ký, kế đến là Tổng Giám đốc, Giám đốc, Chánh Sự vụ Sở, Chủ sự Phòng. Bộ phận hành chánh/chuyên môn không thay đổi gì sau mỗi lần có sự thay đổi Bộ trưởng.
Theo thông lệ, khi thay đổi một Bộ trưởng, toàn bộ ban bệ (bộ phận chính trị) của cựu Bộ trưởng phải ra đi, nhường chỗ cho ban bệ riêng của tân Bộ trưởng. Khoảng nửa sau năm 1965, người tiền nhiệm của tướng Thắng là Bộ trưởng XDNT Nguyễn Tất Ứng, một người thuộc đảng Đại Việt, tử nạn máy bay. Khi đến nhận Bộ XDNT (sau đổi thành Tổng Bộ Xây Dựng) thay ông Ứng, tướng Thắng không mang theo một ban bệ nào và tiếp tục sử dụng các công cán ùy viên là người của ông Ứng. Tất nhiên, biện pháp này mang tính nhân đạo nhiều hơn, vì tôi từng đích thân tiếp xúc (tình cờ) với vài ông công cán ủy viên thì thấy năng lực của họ về mặt chuyên môn khá thấp, vì với chức vụ chính trị đó, họ chỉ có thể làm người cộng sự hay cố vấn về mặt đường lối cho một ông Bộ trưởng cùng phe cánh mà thôi. Dù sao, cách ứng xử của tướng Thắng trong trường hợp này cũng khá đặc biệt so với tất cả những trường hợp tương tự lúc bấy giờ.
Điều đáng tiếc là một người sạch và nhiều quyền lực như ông lại khá cô đơn trong thời gian nắm quyền. Vì làm việc ở cơ quan thanh tra bộ suốt 2 năm liền, điều tôi biết được là có một số - tuy không nhiều - báo cáo thanh tra về các sai phạm của địa phương trong vấn đề sử dụng ngân sách XDNT bị “nghẽn đường” từ bên dưới, không lên đến được bàn làm việc của ông. Dù vậy, trong thời gian ngồi ở Tổng bộ Xây Dựng, ông cũng đã cách chức ít nhất hai Phó Tỉnh trưởng (Hậu Nghĩa và Kiên Giang) và nhiều viên chức cấp Trưởng ty khác vì những sai phạm của họ trong việc điều hành ngân sách XDNT. Sau khi rời Tổng bộ Xây dựng, ông về làm Tư lệnh vùng 4/quân đoàn 4 (miền Tây) cũng với tinh thần của một người lính sạch như thế.
Lê Nguyễn
2.7.2020
Không có nhận xét nào