Trân Văn
29-3-2026
“...Thay vì đầu tư thỏa đáng để bảo vệ và duy trì an ninh năng lượng, một mặt, chính quyền Việt Nam chọn những giải pháp vừa phiêu lưu, vừa tự nguyện lãnh nhận những thua thiệt hết sức khó hiểu như dự án Nghi Sơn, mặt khác tiếp tục phung phí nội lực quốc gia vào những dự án mà hiệu quả chỉ tạo ra tranh cãi, gia tăng nghi ngại về hiệu quả đối với kinh tế, xã hội như khai thác bauxite tại Tây Nguyên, xây dựng cảng hàng không quốc tế Long Thành”.
Hình minh họa: Người dân Việt Nam xếp hàng mua xăng. Nguồn: Báo Tiền Phong
Xung đột giữa Mỹ và Israel với Iran khiến thế giới chao đảo vì nguồn cung nhiên liệu bị gián đoạn. Giá dầu thô trên thị trường thế giới tăng vọt, có lúc chạm đến mức $126/thùng. Tại Việt Nam, giá các loại nhiên liệu tăng khoảng 60% so với cuối Tháng Hai.
Áp lực từ giá nhiên liệu lên kinh tế và đời sống càng ngày càng lớn: Cước vận tải tăng, kéo giá hàng hóa và dịch vụ lên cao, lạm phát trầm trọng hơn, sản xuất chững lại vì lợi nhuận sụt giảm do không thể kiểm soát và đoán định được chi phí. Đa số dân chúng phải hạn chế chi tiêu đến mức tối đa để cầm cự.
Tuy mức độ phụ thuộc của Việt Nam vào nguồn cung nhiên liệu từ thị trường thế giới không quá lớn, mỗi năm, Việt Nam chỉ nhập từ 25% đến 40% dầu thô/nhu cầu tiêu thụ để lọc, chủ động hơn nhiều quốc gia Đông Á và Đông Nam Á như Nhật, Nam Hàn, Đài Loan, Singapore, Philippines, Thái Lan (vốn phải nhập cảng từ 90% đến 100% dầu thô), song trong cùng thời điểm, giá nhiên liệu tại những quốc gia vừa kể chỉ tăng từ 10% (Đài Loan), 15% (Thái Lan), đến 20% (Nam Hàn, Singapore, Philippines). Cao nhất là Nhật thì tỉ lệ tăng giá nhiên liệu cũng chỉ 25%.
Dẫu xung đột ở khu vực Trung Đông gây nguy hại cho toàn cầu nhưng diễn biến trong vài tuần vừa qua cho thấy, gần như tất cả các quốc gia đều soạn sẵn kế hoạch, thực thi từ trước những giải pháp nhằm bảo vệ an ninh năng lượng quốc gia nếu thị trường dầu trên thế giới biến động: Xây dựng hệ thống kho dự trữ nhiên liệu, lập quỹ dự phòng, ấn định các nguyên tắc (trợ giá, giảm thuế,…) để lúc hữu sự có thể kềm giá, ngăn ngừa biến động bên ngoài hủy hoại bên trong. Rất ít quốc gia hành xử kiểu “tùy cơ ứng biến” với an ninh năng lượng như Việt Nam!
Đáng chú ý nhiều hơn, cho dù những quốc gia vừa kể buộc phải nhập cảng gần như toàn bộ dầu thô để lọc và phục vụ nhu cầu tiêu dùng nội địa, họ vẫn có thể kềm giá nhiên liệu khi thị trường dầu thế giới biến động, còn Việt Nam – một trong những quốc gia bền bỉ với xuất cảng dầu thô, lượng dầu thô xuất cảng hàng năm tương đương từ 25% đến 35% nhu cầu tiêu dùng nội địa – lại không làm được như thế. Ngoài chuyện thiếu viễn kiến, không chuẩn bị ứng phó, giá nhiên liệu ở Việt Nam trở thành ác mộng dường như còn vì chính quyền chủ động chọn thua thiệt…
***
So với nhu cầu tiêu dùng nội địa, mỗi năm, Việt Nam nhập cảng khoảng 25% đến 30% xăng dầu thành phẩm và 25% đến 40% dầu thô để lọc tại Việt Nam. Khi 50% đến 70% nhu cầu tiêu dùng nội địa phụ thuộc vào nguồn cung từ bên ngoài, giá nhiên liệu trong nước sẽ nhảy múa lúc thị trường dầu thế giới có biến động. Nếu Việt Nam ngưng xuất cảng lượng dầu thô tương đương 25% đến 35% nhu cầu nội địa, tỉ lệ xăng dầu thành phẩm và dầu thô phải nhập cảng sẽ giảm tương ứng (chỉ còn khoảng 25% đến 35%) và tất nhiên mức độ phụ thuộc vào giá dầu thế giới sẽ giảm theo.
Tiếc rằng Việt Nam tự đặt mình vào thế không thể làm như vậy. Phần lớn dầu thô mà Việt Nam khai thác là loại mà độ đậm đặc về khối lượng thấp (dầu nhẹ) nên chi phí lọc thấp, phẩm chất thành phẩm cao nhưng quy mô của nhà máy lọc dầu Dung Quất (sẽ gọi tắt là Dung Quất) nhỏ nên chỉ có thể xử lý khoảng 50% sản lượng dầu thô mà Việt Nam khai thác hàng năm. Thay vì đầu tư, nâng cao năng lực xử lý nguồn nguyên liệu thuộc loại “cây nhà, lá vườn,” chủ động phòng tránh sự phụ thuộc vào thị trường dầu thế giới, chính quyền Việt Nam chọn hướng ngược lại.
Một mặt, chính quyền Việt Nam chọn xuất cảng dầu thô do Việt Nam khai thác với giá thấp và tự nguyện chi tiêu nhiều hơn để nhập xăng dầu thành phẩm. Mặt khác, chính quyền Việt Nam chủ động tiếp nhận đầu tư qua nhà máy lọc dầu Nghi Sơn (sẽ gọi tắt là Nghi Sơn). Bởi vì Nghi Sơn chỉ lọc dầu nặng (độ đậm đặc về khối lượng cao, chi phí lọc cao) – loại nguyên liệu cũng phải nhập cảng – nên cả hai lựa chọn đặt kinh tế, xã hội Việt Nam vào thế luôn phải đối diện, oằn lưng gánh chịu thua thiệt khi giá cả trên thị trường dầu thế giới, hay tỷ giá USD/VND biến động.
Mục tiêu của Nghi Sơn (liên doanh giữa PetroVietnam, Kuwait Petroleum và Idemitsu của Nhật) là giảm sự phụ thuộc vào nguồn xăng dầu thành phẩm bên ngoài Việt Nam. Tuy nhiên Nghi Sơn được thiết kế cho lọc dầu nặng nên lượng dầu nhẹ mà Dung Quất không thể tiêu hóa hết vẫn phải xuất cảng. Quyết định cho phép đầu tư vào Nghi Sơn chẳng khác gì chọn tránh “vỏ dưa” để vấp… “vỏ dừa.” Với Nghi Sơn, thị trường xăng dầu Việt Nam có thêm sự phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu là dầu nặng khai thác ở Trung Đông.
Xuất cảng dầu nhẹ, nhập cảng xăng dầu thành phẩm và dầu nặng với tỉ lệ từ 50% đến 70% nhu cầu tiêu dùng trong nước không chỉ đơn thuần là phiêu lưu với an ninh năng lượng quốc gia, đem kinh tế – xã hội quốc gia ra đặt cược với một thị trường luôn có những biến động khó lường. Nếu chịu khó xem xét kỹ lưỡng hơn hẳn sẽ khó mà bình tĩnh. Dường như những hạn chế, bất cập về chính sách và quản trị không phải do thiếu hiểu biết mà là cố tình tạo ra lợi ích cho một số nhóm, bất kể điều đó đe dọa an ninh năng lượng của Việt Nam. [đ.d.]
Giữa thập niên 2000, Việt Nam khởi công nhà máy lọc dầu đầu tiên ở Dung Quất (Quảng Ngãi). Đến cuối thập niên 2010, nhà máy lọc dầu Dung Quất (Dung Quất) bắt đầu cung cấp xăng, dầu thành phẩm (các loại xăng RON92 và RON95, diesel, nhiên liệu bay Jet A1, LPG, polypropylene…) cho thị trường nhiên liệu trong nước.
Chi khoảng $3 tỷ để đầu tư vào Dung Quất, Việt Nam có một nhà máy lọc được chừng 50% lượng dầu thô khai thác hàng năm, thỏa mãn 30% đến 35% nhu cầu nội địa, giảm một phần rủi ro do những biến động của thị trường dầu thế giới đối với kinh tế, xã hội. Nếu chủ động chi thêm khoảng $5 tỷ để mở rộng hoạt động của Dung Quất, giúp nhà máy có thể lọc thêm gần như toàn bộ lượng dầu thô khai thác hàng năm, Việt Nam sẽ chỉ cần nhập thêm khoảng 30% xăng dầu thành phẩm, đạt mức tự chủ tối ưu về kinh tế và chiến lược năng lượng (khoảng 70% nhu cầu).
Ảnh minh họa: Nhà máy lọc dầu Nghi Sơn. Nguồn: Thanh Niên
Tuy nhiên, chính quyền Việt Nam không chọn hướng vừa kể mà quyết định tham gia một liên doanh bốn bên: Tập Đoàn Dầu Khí Việt Nam (PVN), công ty dầu khí quốc tế Kuwait (KPI), công ty Idemitsu Kosan (Nhật), và công ty hóa chất Mitsui (Nhật) để xây dựng nhà máy lọc dầu Nghi Sơn (Nghi Sơn) ở Thanh Hóa.
Lúc đầu, suất đầu tư vào Nghi Sơn dự trù khoảng $6 tỷ, sau đó tăng thành $9 tỷ. Phía Việt Nam chỉ góp 25% tổng vốn. Nghi Sơn được thiết kế để lọc dầu nặng nên phải nhập nguyên liệu từ Kuwait. Việt Nam vừa phải xuất lượng dầu thô mà Dung Quất không kham hết, vừa nhập cả dầu thô cho Nghi Sơn có nguyên liệu vận hành, lẫn lượng xăng dầu thành phẩm khiếm hụt so với nhu cầu.
Nghi Sơn không những không giúp Việt Nam giảm sự phụ thuộc vào thị trường dầu thế giới mà còn trở thành gánh nặng tài chính lớn nhất trong lĩnh vực năng lượng. Cả chuyên gia lẫn báo giới từng nêu ra hàng loạt thắc mắc về việc phê duyệt thỏa thuận đầu tư vào Nghi Sơn nhưng từ 2018 đến nay, chưa có cá nhân, cơ quan hữu trách nào tìm kiếm câu trả lời cho những thắc mắc như:
-Tại sao những cá nhân hữu trách dám dùng danh nghĩa chính phủ, cam kết giảm 50% thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) cho Nghi Sơn đến khi liên doanh này ngừng hoạt động, dù ai cũng biết việc giảm thuế TNDN từ 20% xuống còn 10% khiến thất thu cho công quỹ tăng dần theo thời gian, từ vài ngàn tỷ đồng đến vài chục ngàn tỷ đồng? Tương tự, dựa vào đâu mà những cá nhân hữu trách dám dùng danh nghĩa chính phủ, cam kết giảm 50% thuế thu nhập cá nhân cho những người làm việc tại Nghi Sơn?
-Tại sao những cá nhân hữu trách dám dùng danh nghĩa chính phủ cam kết với Nghi Sơn sẽ duy trì thuế nhập cảng xăng dầu là 7% trong 10 năm, bất chấp cam kết đó trái với những hiệp định thương mại tự do (FTA) mà Việt Nam muốn đạt được với ASEAN, Nam Hàn, Nhật, EU? Vì cam kết này, khi thuế nhập cảng xăng dầu phải theo các FTA, nghĩa là phải giảm, chỉ còn 0% đến 5%, Việt Nam phải chi hàng trăm ngàn tỷ đồng nhằm “bù đắp thiệt hại” cho Nghi Sơn.
Những cá nhân hữu trách còn dám dùng danh nghĩa chính phủ cam kết bao tiêu toàn bộ sản phẩm của Nghi Sơn theo giá cố định nên khi giá dầu trên thị trường thế giới giảm, giá nhiên liệu tại Việt Nam không những không thể giảm tương ứng mà chính quyền Việt Nam còn phải trích công quỹ để bù cho liên doanh Nghi Sơn phần chênh lệch giữa giá cam kết bao tiêu và giá thực tế.
Cách nay bốn năm, Nghi Sơn giảm sản lượng, dọa “ngưng hoạt động” vì “khó khăn tài chính” do chính phủ Việt Nam không thực hiện nghĩa vụ “bù lỗ” như đã cam kết. Cả kinh tế lẫn sinh hoạt xã hội tại Việt Nam lập tức trở thành hỗn loạn vì thiếu hụt nhiên liệu. Khi ấy, một số chuyên gia và đại biểu quốc hội tiếp tục mổ xẻ những thỏa thuận giữa chính phủ Việt Nam với Nghi Sơn, xác định đó là “lỗi đàm phán,” là “thiếu thông minh,” có người như ông Trần Quang Chiểu (ủy viên thường trực Ủy Ban Tài Chính và Ngân Sách Quốc Hội khóa 15) ví von những cam kết vừa đề cập giống như thỏa thuận “nuôi con nghiện.” Đáng nói là không có cá nhân hữu trách nào phải chịu trách nhiệm khi đẩy Việt Nam vào thế phải gánh chịu toàn bộ rủi ro cho Nghi Sơn.
Năm 2022, ông Trần Quang Chiểu xem quyết định cho phép đầu tư vào Nghi Sơn là “thiệt hai lớn nhất từ trước đến nay về kinh tế.” Dựa trên những số liệu được công bố, thiệt hại do thua lỗ khi vận hành, bù thuế, bù giá bao tiêu, các ưu đãi trái quy định, nghĩa vụ tài chính của PVN, thiệt hại gián tiếp do rủi ro về nguồn cung được ước đoán khoảng từ 100,000 tỷ đồng đến 150,000 tỷ đồng. Những thiệt hại đó sẽ còn tiếp tục tăng bởi vì GGU (Government Guarantee and Undertaking – Bảo Lãnh và Cam Kết mà chính phủ Việt Nam ký với các bên trong liên doanh Nghi Sơn) vẫn còn hiệu lực trong suốt thời hạn thực hiện dự án, nghĩa là các nghĩa vụ về thuế, tài chính, bao tiêu sản phẩm, bảo lãnh ngoại tệ vẫn còn tiếp tục cho đến khi Nghi Sơn ngưng hoạt động.
***
Tuy biết rất rõ, giống như an ninh quốc phòng và an ninh lương thực, an ninh năng lượng là nền tảng của an ninh quốc gia, dẫu hiểu tường tận, thiếu điện, thiếu nhiên liệu, hoặc để năng lượng phụ thuộc quá nhiều vào nhập cảng, kinh tế có thể đình trệ, lạm phát có thể gia tăng, sinh hoạt xã hội có thể hỗn loạn, quốc phòng sẽ suy yếu, dân chúng sẽ phải gánh chịu toàn bộ hậu quả, sẽ đói khổ, bất an, song chính quyền Việt Nam vẫn thản nhiên để cho một số cá nhân, một số nhóm lũng đoạn an ninh năng lượng và không hề bận tâm đến việc truy cứu trách nhiệm, rút kinh nghiệm.
Thay vì đầu tư thỏa đáng để bảo vệ và duy trì an ninh năng lượng, một mặt, chính quyền Việt Nam chọn những giải pháp vừa phiêu lưu, vừa tự nguyện lãnh nhận những thua thiệt hết sức khó hiểu như dự án Nghi Sơn, mặt khác tiếp tục phung phí nội lực quốc gia vào những dự án mà hiệu quả chỉ tạo ra tranh cãi, gia tăng nghi ngại về hiệu quả đối với kinh tế, xã hội như khai thác bauxite tại Tây Nguyên, xây dựng cảng hàng không quốc tế Long Thành. Sự hỗn loạn và những thiệt hại khó đo đếm đối với kinh tế, xã hội khi thị trường dầu thế giới biến động không chỉ như đã biết và đang thấy mà còn tiếp tục kéo dài. Đó là giá phải trả cho việc loại trừ đối trọng, kiểm soát việc sử dụng quyền lực, khăng khăng bảo toàn sự lãnh đạo toàn diện và tuyệt đối của đảng CSVN.
Trân Văn
Không có nhận xét nào