Văn hóa “Xin”
Bài 3
Phạm Hồng Lam
1-3-2026
Ảnh minh họa: Phó Tổng thống Mỹ Hubert Humphrey thăm một làng quê ở miền Nam năm 1966 và được một nhóm trẻ em đón chào. Một em bắt tay Phó Tổng thống rất tự nhiên, trong một tư thế đứng thẳng người. Nguồn: hdvietnam.de
Để hiểu một dân tộc, cần biết lối tư duy của dân tộc đó. Muốn biết cách suy tư của họ, cứ xét ngôn ngữ họ dùng. Cách diễn tả trong ngôn ngữ phản ảnh bản chất của một dân tộc.
Bài III: Văn hóa “Xin”
Trong sách Duy Văn Sử Quan (1990, trang 153) Hoàng Văn Chí kể: Hồi Phan Bội Châu mới sang Tàu để tìm cách mở phong trào Đông Du, một nhân sĩ trung-hoa là Dương Giác Đôn đưa ông tới yết kiến Trang Uẩn Khoan, viên đại thần của triều đình Mãn Thanh. Vị đại thần tiếp đãi rất tử tế và có biếu một món tiền trợ cấp. Khi Phan ra về, Trang Uẩn Khoan bảo Dương Giác Đôn: Người An-nam có bản tính nô lệ, dù có vài chí sĩ như ông này (Phan Bội Châu) thì cũng chẳng làm nên trò trống gì.
Tác giả kể tiếp: Năm 1912, Tôn Văn viếng thăm Nhật Bản và được chính khách nhật là Khuyển Dưỡng Nghị (Inukai Tsuyoshi) khoản đãi. Sau bữa tiệc, Khuyển bất thần hỏi Tôn: Tôi được biết Tôn sinh có dịp qua Hà Nội, xin Tôn sinh cho biết Tôn ý về dân tộc An-nam. Bị hỏi đột ngột, Tôn chỉ kịp nhớ câu nói của Trang Uẩn Khoan trước đây, đáp: Người An-nam vốn nô lệ căn tính. Ngày xưa họ bị người Hán chúng tôi đô hộ, ngày nay họ bị người Pháp cai trị. Dân tộc ấy quả không có tương lai!
Có lẽ nhiều người Việt sẽ phẫn nộ, khi nghe Trang và Tôn phát biểu như thế!
Sau khi gặp Tôn, Khuyển Dưỡng Nghị cho gọi một số du sinh người Việt (do Phan Bội Châu đưa sang Nhật) tới và kể rằng, ông đã đáp lại câu nhận định của Tôn như sau: “Điểm này, tôi không đồng ý với tiên sinh. Ngày nay họ (người Việt) thua người Pháp, vì họ không có khí giới tối tân. Nhưng cứ xét lịch sử, thì trong số Bách Việt chỉ có họ là không bị Hán hóa. Tôi tin rằng, một dân tộc biết tự bảo vệ một cách bền bỉ, thì thế nào sớm muộn họ cũng sẽ lấy lại được quyền tự chủ”.
Tôn Văn mắc cở, vì biết Khuyển muốn chơi mình: Tôn là người Quảng-đông, có tổ tiên là dân Á-khách (Hakka), một trong số Bách Việt, dân này đã bị Hán hóa. Câu chuyện trên đây được Lê Dư, một trong những du sinh có mặt thời đó, kể lại cho con rể mình là Hoàng Văn Chí và họ Hoàng đã thuật lại.
Cho tới nay, chúng ta cứ ăn mày quá khứ về chuyện mình đã giành lại được độc lập sau 1000 năm Bắc thuộc và gần 100 năm Pháp thuộc, để biện minh cho tính kiên cường và anh hùng của dân tộc mình.
Nhưng nếu nhìn lịch sử từ hai trăm năm trở lại, thì quả có một sự thật khó có thể chối cãi: Người Việt thích cúi đầu và vọng ngoại. Cứ xem tinh thần nô lệ Đại Hán của vua quan thời nhà Nguyễn. Cứ xem tinh thần tay sai người Mỹ của các tướng lãnh miền nam Việt Nam trong vụ thanh toán nền Đệ I Cộng Hoà. Cứ xem bản chất nô thuộc Nga – Tàu của cộng sản Việt Nam hiện nay.
Và ai có thể phản bác điều này: Người Việt khép nép trước những người Âu – Mỹ da trắng, trong khi đó lại khi dể ra mặt các chủng tộc có màu da khác. Phân biệt chủng tộc là một nét chấm phá trong di tử (gen) của người Việt. (Tôi vẫn nghe người mình bên Mỹ nói: Nhất Đen nhì Xì! Nghĩa là người da đen được họ xếp vào hạng thấp nhất, trên đó một chút là dân Mễ).
Mà không chỉ khinh rẻ các chủng tộc khác, ngay chính người mình cũng chẳng tin nhau, coi thuờng nhau, sẵn sàng lừa đảo và tiêu diệt nhau.
Do hậu quả của những giai đoạn hoàn cảnh lịch sử vừa qua của đất nước? Hay còn do mặc cảm tự ti và tinh thần vọng ngoại của người mình? Mà ai dám bảo, người Việt chúng ta không tự ti và vọng ngoại? – Mỹ nó đã tính cả rồi! – Đợi xem thằng Pháp nó muốn gì! – Ta thì có thể lầm, nhưng bác Mao và bác Xít-ta-lin thì lầm sao được!
Vấn đề là tự ti và vọng ngoại đến từ đâu?
Bộ trưởng Phùng Xuân Nhạ bắt tay thầy cũ nhưng không thèm ngẩng lên nhìn mặt. Ảnh trên mạng
1. Hậu quả của lịch sử lệ thuộc và giáo dục
Tự ti và vọng ngoại vốn là con đẻ của việc thiếu cá tính mạnh, thiếu tự tin, thiếu tự lập. Mà ba tính chất này đến từ đâu?
Phải chăng hậu quả một ngàn năm lệ thuộc Tàu, một trăm năm đô hộ Pháp, rồi tiếp tục hơn bảy mươi năm qua dưới chế độ bạo trị của đảng cộng sản đã khiến cho dân Việt phải luôn sống giả hình, luôn phải tìm cách luồn lách trong dối trá, để sống còn? Luồn lách làm nhụt nhân cách. Luồn lách mãi trở thành bản chất con người.
Biểu hiện của thứ nhân cách tha hóa này được Trần Khuê diễn tả như sau: “Ở ta có cái nguy là hai tư tưởng Đúng-Sai cùng tồn tại; chả ai phê phán Đúng-Sai, nên dần cái Đúng thật thì bỏ qua, cái Sai thì dần trở thành cái Đúng giả, mà tưởng là cái Đúng thật”. (Mạc Văn Trang, “Mấy thu hoạch từ Đối Thoại của Trần Khuê” – Tiếng Dân ngày 02.05.2020).
Cụ thể hơn: “Dân tộc mình là một dân tộc chạy trốn, hời hợt, không có một tính cách nào định hình định hướng rõ rệt, mờ nhạt, nên khôn cũng không ra khôn, mà lớn cũng không ra lớn”. (Nguyễn Thị Bích Ngà, “Tôi thấy sự thay đổi và có niềm tin vào sự thay đổi đó” – Thông Luận).
Hay còn rõ hơn: “Dân khí nước ta bị suy giảm quá tệ. Trước kia sống bình [tầm] thường đã lâu. Khiếp sợ quen thói, nghe và thấy chật hẹp, tai như điếc, mắt dường như mù. Người dưới phải làm điều đê tiện mà không biết hổ, phải chịu sự ô nhục mà không biết thẹn. Người trên lo trang sức cho đẹp mắt, giữ hủ lậu cho yên thân, dù có những người thông minh cũng phải chiều theo tập thượng. Nghe một lời nói khác mình thì khiếp sợ như nghe sấm sét, thấy một người làm khác mình thì cho là quái lạ như thấy tuyết… Cái tệ ấy buổi đầu là do tính tình nhu nhược, theo mãi, hóa ngu hèn đến nỗi có tay chân mà không biết làm lụng, có tài sản mà không biết trao đổi, có miệng lưỡi mà không biết trình bày, có núi bể mà không biết vượt bơi, có khoáng sản mà không biết dò lấy, có máy móc mà không biết cho chạy. Thậm chí thấy nhục vua cha mà không biết căm tức, thấy ngoại nhân mắng nhiếc, lừa đùa mà vẫn bằng chân như vại…” (Phan Bội Châu, “Lưu cầu huyết lệ tâm thư”).
Các nước Âu Mỹ tiếp nhận tị nạn khen người Việt khéo thích ứng. Thích ứng thật, hay cũng chỉ là luồn lách, giả bộ, như Hà Sĩ Phu nhận xét?
Có cha mẹ nào ở hải ngoại đã không một lần thốt ra: Sao trẻ con người bản xứ tự tin đến thế, mà con mình thì lại quá rụt rè, thụ động như thế! Và họ thường đi tới kết luận: Giáo dục của mình có vấn đề. Các nhà hàn lâm thì lại bắt mạch: Tất cả là do ảnh hưởng của Khổng giáo! Luân lý Khổng giáo với những dây thòng lọng “tam cương” (cho đàn ông), “tam tòng” (cho đàn bà), “hiếu đễ” (cho con cái)… đã trói con người Việt trong ách lễ giáo, ngăn cản sự phát triển nhân cách con người.
(Ở đây, ngoài đề một chút. Trong cuộc luận bàn “ thoát Trung” lâu nay trên mạng, có tác giả đưa ra luận đề: “Thoát Trung” về mặt chính trị là nên, nhưng không thể và không nên “thoát Khổng”, vì dù sao Khổng giáo đã tạo cho chúng ta một xã hội ổn định, tốt đẹp trải qua cả ngàn năm! Tôi không đồng ý luận điểm này, là vì nếu không có Khổng giáo, hẳn chúng ta đã có một trật tự xã hội khác, và trật tự này chưa hẳn kém hơn, hay có khi lại còn tốt hơn xã hội Khổng giáo. Nên nhớ, dân tộc ta tháo gỡ được ách Hán thuộc, để thu hồi độc lập vào thế kỷ thứ 10, khi trật tự Khổng giáo chưa được thiết lập trên đất nước. Và văn minh Đại Việt đi vào thoái trào, sau khi Khổng giáo chiếm vị thế độc tôn trong xã hội Việt).
Tóm lại, hậu quả của sự nô thuộc kéo dài trong lịch sử và lối giáo dục gia đình và học đường của mình trước đây và hiện nay bên nhà chắc chắn có ảnh hưởng lên cá tính mỗi người. Nhưng đó cũng chỉ là một phần ảnh hưởng mà thôi. Theo tôi, cái gốc của thiếu tự tin và thiếu độc lập nằm nơi các nguyên do khác quan trọng hơn.
2. Mạng lưới thân tộc và xã hội
Hãy nhìn vào hệ thống thân tộc. Con người Việt sinh ra và lớn lên trong một cấu trúc thân tộc phức tạp, chặt chẽ, và bị trói chặt trong mạng lưới đó. Cấu trúc này thể hiện qua một hệ thống danh xưng thân tộc vô cùng rắc rối. Có lẽ không dân tộc nào giàu danh xưng thân tộc như dân tộc Việt Nam. Vòng thân tộc của Âu Mỹ chỉ có Ông-Bà (nội ngoại), Cha-Mẹ, Chú-Cô, Anh-Chị-Em, Dâu-Rể, Cháu (trai gái) và Họ-hàng nói chung (Cousin). Trong khi cấu trúc thân tộc của ta thì vô cùng rắc rối. Nó gồm nhiều hệ thống hợp lại, trong đó có hai hệ thống lớn (Nội và Ngoại) với những phân cấp tinh tế (Nội có Bác, Chú, Cô, O. Ngoại có Cậu, Dì, Mợ, Dượng) mang lực ép khác nhau trên cá nhân (Nội áp lực mạnh hơn Ngoại). Ở hệ thống Con Cái thì có Anh, Chị, Em được phân cấp tuỳ theo tuổi tác và quan hệ (con của Cô Chú, dù lớn tuổi hơn, vẫn phải gọi con của Bác là Anh hoặc Chị…); điểm này không có trong thân tộc Âu – Mỹ, nên ta thường gặp khó khăn trong việc phiên dịch ra Việt ngữ. Brother là Anh hay Em? Sister là Chị hay Em hay Chị-Em họ?
Lưới thân tộc này không chỉ hạn chế trong vòng thân tộc. Nó bao trùm cả xã hội. Dù không có liên hệ máu mủ hay gia tộc, một người nhỏ tuổi vẫn phải gọi một người dưng lớn tuổi hơn gặp trên đường là Anh hay Chị; nếu người đó lớn tuổi hơn Cha Mẹ mình thì gọi Ông Bà hay Bác Cô, nhỏ tuổi hơn Cha Mẹ thì Chú Thím – Cậu Dì… Lưới này lại còn biến đổi theo mức độ tình cảm, tùy lúc tùy nơi: Kính nể thì Cụ, ít kính nể thì Ông Bà, khinh miệt thì thằng kia, con kia.
Nếu vô tình gọi sai danh xưng thân tộc, cá nhân bị thị phi ngay là vô lễ, thiếu giáo dục.
Ngoài áp lực thân tộc, cá nhân còn bị khóa chặt bởi hệ thống thứ bậc làng xã. Trong xã hội Việt truyền thống, trẻ em dưới bảy tuổi chưa được kể là người, để có được một chỗ trong bàn tiệc chung. Địa vị của một cá nhân trong làng tuỳ thuộc vào nội trú hay ngoại trú, tuổi tác, nghề nghiệp, danh vọng, tiền bạc, từ đó họ được xếp vào chiếu trên hay chiếu dưới.
Sinh ra và lớn lên trong những vòng vây “đâu vào đó” như thế, thử hỏi làm sao cá nhân có thể phát huy được cá tính và sự độc lập của mình?
3. Không có cái “Tôi” chủ thể
Bị trói như con ong mắc lưới nhện như thế, cá nhân không thể có tự do. Nó luôn phải ý thức chỗ đứng nhất định của mình trong hệ thống, để có những xử sự đúng đắn, hợp “chính danh”, “phải đạo”: Con ra con, cha ra cha, ông ra ông.
Vì thế, người Việt không có cái “Tôi” chủ thể (subject) như Je (Pháp), I (Mỹ), Ich (Đức), mà chỉ có “Tôi” bị động (object): me, moi (Pháp), me (Mỹ), mich, mir (Đức). Chữ “Tôi” (và cả “Chúng Tôi”) mà chúng ta vẫn dùng nguyên có nghĩa là “Tôi Tớ” trong lối nói “Vua-Tôi”, “Bầy Tôi”.
Không có Tôi chủ thể, họ chỉ còn biết tuân lệnh, không có khả năng ra lệnh. Họ dễ dàng chấp nhận mọi thứ như là bổn phận phải làm, như số phận đã định.
Cũng vì không có cái Tôi chủ thể, người Việt không có truyền thống hoặc thói quen viết Tự Truyện (Autobiography), như người Âu-Mỹ, Tự Truyện khác với Tiểu Sử (Biography). Biography là do một người khác viết về một người khác. Kiểu như ông Trần Đĩnh được các lãnh tụ Cộng sản thuê viết tiểu sử cho họ (đọc “Đèn Cù” của Trần Đĩnh). Người Việt ít ai dám viết về mình.
Văn hóa “Xin”
Tự ti, vọng ngoại, thiếu cái Tôi bản lĩnh, đầu óc nô lệ… tất cả những nét bản sắc này dồn lại và biểu hiện ra qua tiếng “XIN”. Đây là một nét văn hóa tối hệ trọng của dân tộc (về “Xin”, đọc thêm Lê Thị Huệ, “Văn Hoá Trì Trệ, Nhìn Từ Hà Nội Đầu Thế Kỷ 21”, trang 107-115).
Nhan nhãn trên mọi bài viết, mọi bài diễn văn, mọi văn thư, mọi thư từ, mọi lời trao đổi, mọi câu chuyện, nhất nhất đều được mở đầu và kết thúc với “Xin”. Tôi xin kính chào quý vị (thay vì: Kính chào quý vị). Tôi xin cám ơn quý vị (thay vì: Cám ơn quý vị). Tôi xin được nói như sau (thay vì: Tôi muốn nói như sau). Con xin được chào ông (thay vì: Con chào ông). Xin quý vị cho tôi có ý kiến như sau (Quý vị hãy để tôi có ý kiến như sau).
Người ta nguỵ biện: Tiếng Xin ở đây chỉ muốn nói lên sự khiêm tốn!
Cưới vợ thì “xin” cưới. Muốn tới trường thì “xin” học. Cần giấy tờ thì “xin” đơn. Tìm việc thì “xin” việc. Bệnh phải nghỉ làm thì “xin” nghỉ. Đói thì “xin” ăn… Người Việt là dân tộc khiêm tốn quá lẽ như thế hay sao? Khiêm tốn hay quỵ luỵ? Hay giả bộ cho được việc?
Lê Thị Huệ kể, ở miền Bắc hiện nay, hễ ai nhận được từ người khác cái gì thì mở miệng ngay “Cháu xin ạ. Em xin ạ”, thay vì “Cháu cám ơn. Em cám ơn”. Vì văn hóa ứng xử của ta không có tiếng “cám ơn” nên họ phải dùng từ “xin”? Hay họ bị nhập tâm văn hóa “xin-cho” của chính quyền Cộng sản? Cũng như dân Bắc một thời hễ mở miệng là “Nhờ ơn bác ơn đảng”! Câu thần chú mở đầu mọi câu chuyện của họ.
Xem thế, toàn bộ cuộc sống, từ văn hóa, xã hội, chính trị, văn chương, pháp luật, từ gia đình ra tập thể, bị vây hãm bởi “Xin”. Thiếu chữ Xin trong câu nói hay trong lời văn, chúng ta tự nhiên ngọng miệng, câu chữ bế tắc.
Xin và Lạy thoạt tiên là hành vi của con người trước thần linh. Nhưng không biết từ bao giờ, chúng ta đã lôi chúng xuống trần thế, để rồi sẵn sàng vái lạy và cầu xin ngay giữa người với người. Có phải vì những ông vua trước đây tự nhận mình là thiên tử, thay trời trị dân, biến dân thành “bề tôi”, một lũ nô lệ, bắt phải sấp mình hoặc khấn vái họ để được sống? Và rồi nay đảng Cộng sản lại tiếp tục thay trời thay vua phát huy lối văn hóa này?
Có một thời người ta hô hào chống lại thứ văn hóa “Xin-Cho” do Cộng sản áp đặt. Nhưng làm sao chống được, khi vừa chửi vừa mở miệng “xin”, vừa chống vừa dâng thỉnh nguyện thư! Là bởi văn hóa “Xin” đã thành hơi thở, đã đi vào máu của dân tộc.
Tóm lại, mạng lưới tương quan thân tộc và hệ thống phân cấp xã hội chặt chẽ đã hạn chế tự do cá nhân, không để cho cái Tôi của chúng ta trưởng thành; cũng như chiều dài lịch sử nô thuộc, dưới nhiều hình thức, đã buộc người Việt phải luôn tìm cách sống giả, luồn lách để sống còn. Những hệ lụy này đã tạo nên tâm lý cầu xin kẻ trên, đạp đầu kẻ dưới. Tất cả chỉ để sống còn. Và nó đã đi vào tiềm thức dân tộc.
Thế thì làm sao người Việt có được cá tính mạnh. Làm sao chúng ta không “nô lệ căn tính”, như Trang Uẩn Khoan và Tôn Văn nói. Làm sao chúng ta có được óc sáng tạo. Người Việt được tiếng là chăm chỉ và học giỏi. Nhưng khó mà chờ đợi nơi họ óc sáng tạo, tính tự lập. Đó là chưa nói tới việc người mình tự bản chất thiếu đầu óc khoa học.
Hy vọng những áp lực ràng buộc vô hình trên đây sẽ không đè nặng trên con cháu chúng ta tại hải ngoại, để chúng rồi đây có cơ hội trở thành những thế hệ người Việt đua chen được với các dân tộc tiên tiến trên thế giới.
Vậy phải làm sao?
Là người Việt, chúng ta không thể thoát ra ngoài hệ thống tôn ti thân tộc với những lối xưng hô và ứng xử hạn chế sự phát triển nhân cách. Nhưng ở phương diện này, điều cần thiết là luôn phải ý thức, đừng để ứng xử của ta bị lệ thuộc bởi tình cảm. Dĩ nhiên, không ai buộc chúng ta phải loại bỏ hết tình cảm, song điều quan trọng là phải tập luyện để có một con tim biết nghe và biết lý luận.
Còn văn hóa Xin, không khó để chia tay nó, nếu có một nỗ lực chung của mọi giới trong xã hội, đặc biệt khởi đi từ các nhà làm văn hóa (nhà văn, nhà báo, người làm truyền thông).
Và ta có thể bắt đầu ngay, từ mỗi cá nhân. Bắt đầu với việc đơn giản nhất: Cùng nhau nói Không với văn hóa Xin. Loại trừ ngay thứ tàn dư nô lệ này ra khỏi lời nói hay câu văn của mình, bất cứ lúc nào có thể.
Thay vì mở miệng hay đặt bút: “Tôi xin kính chào quý vị. Tôi xin cám ơn quý vị, Xin cho tôi có ý kiến, Xin quý vị rộng lượng xét đơn của tôi”, thì “Tôi kính chào quý vị. Tôi cám ơn quý vị, Tôi muốn có ý kiến, Yêu cầu quý vị rộng lượng xét đơn cho tôi”…
Có một cái Xin cũng hơi lạ: “Coong xin dzái cha”. Cái này thì cứ “khiêm tốn” hành động ngay, chứ xin thì ai dám cho!
Tháng 3/2015 – Tháng 2/2026
Không có nhận xét nào