Tác giả: Nguyễn Đông A
March 18, 2026
Chiều nay tôi vừa đặt chân đến đất Quy Nhơn. Cái nắng miền Trung như còn vương lại trên mặt biển, thứ nắng vàng hơi gắt nhưng lạ lùng thay lại khiến lòng người dịu xuống. Tôi dự định ở đây đúng ba ngày.
Ba ngày, giỏi lắm là một sáng sớm đi dọc bãi biển Quy Nhơn, một chiều ghé qua Eo Gió, Kỳ Co, rồi một buổi đứng lặng nhìn sóng gió trên đầm Thị Nại. Những cảnh quen thuộc của một miền biển: sóng to, gió lớn, trời rộng, nước dài. Những thứ ấy tôi từng gặp ở nhiều nơi, từng viết nhiều lần.
Ba ngày, nói thiệt, ngắn ngủn. Ngắn đến mức đôi khi chưa kịp quen một con đường, chưa kịp nhớ mùi gió biển, thì đã tới lúc phải rời đi.
Tôi đứng trước bờ biển, nhìn ra cái khoảng trời nước mênh mang trước mặt, trong đầu bỗng tự hỏi: với chừng ấy thời gian ít ỏi, liệu mình có tìm được chút cảm xúc mới để viết thêm gì về vùng đất này không?
Biển Quy Nhơn
Trước đây tôi từng viết về Quy Nhơn. Lúc ấy lòng tôi nghiêng về thứ cảm xúc khi là thi ca, khi là tôn giáo. Khi là cảm xúc Chăm. Cái cảm giác rất lạ mà tôi từng gặp khi đứng dưới bóng những ngọn tháp Chăm rêu phong, nhìn lên trời cao xanh ngắt. Tôi cũng từng viết về Đồ Bàn, cái kinh đô cũ của Champa, nơi mà từng viên gạch cổ dường như còn âm ấm hơi người của mấy trăm năm trước.
Nhưng lần này thì sao?
Ba ngày. Cùng lắm là loanh quanh bờ biển, chạy ra Kỳ Co, ghé đến Eo Gió, rồi đứng trên cầu nhìn xuống đầm Thị Nại nghe gió lồng lộng. Những chỗ ấy đẹp thiệt, đẹp kiểu phóng khoáng, mạnh mẽ, giống hệt tính khí người miền Trung, nhưng thú thiệt, cảnh biển kiểu đó tôi cũng từng gặp nhiều khi về quê mình ở miền Nam.
Biển Eo Gió Biển Eo Gió
Vậy mà lạ một điều.
Tôi đứng trước biển mà trong đầu cứ lẩn quẩn một câu ca dao:
“Ai về Bình Định mà coi
Đàn bà cũng biết đi roi múa quyền.”
Nghĩ kỹ lại, câu ca dao ấy giống như một mảnh gương nhỏ, phản chiếu cả một vùng đất. Mỗi vùng đất đều có những lớp trầm tích của riêng nó. Bình Định cũng vậy. Đó không phải chỉ là một tỉnh ven biển có nắng gió và cá tôm. Dưới lớp cát biển kia là những tầng lịch sử chồng lên nhau, dày cộm như những lớp trầm tích địa chất.
Tôi chợt hiểu vì sao câu ca dao kia cứ quay quắt trong đầu mình. Bởi vì Bình Định không chỉ là đất biển.
Đó còn là đất võ.
Và nói tới đất võ thì không thể nào không nhớ tới vùng đất Tây Sơn, cái nơi mà người ta vẫn gọi là “rốn võ” của miền Trung, nơi phát tích của người anh hùng áo vải Nguyễn Huệ, sau này trở thành Hoàng đế Quang Trung.
Có lẽ chính vì vậy mà lần này, chưa kịp đi đâu nhiều, lòng tôi đã thấy lịch sử lấp ló đâu đó sau mỗi con đường, mỗi ngọn gió.
Đất Bình Định thiệt ra có lịch sử lâu đời hơn nhiều so với cái vẻ bình lặng hiện nay của nó. Nếu miền Bắc có văn hóa Đông Sơn, miền Nam có văn hóa Óc Eo, thì miền Trung, ở đoạn đất này, từng tồn tại một trung tâm văn hóa lớn khác: văn hóa Sa Huỳnh.
Cách đây chừng ba bốn ngàn năm, khi người ta còn sống trong thời đại kim khí, cư dân Sa Huỳnh đã sống rải rác dọc vùng cồn cát ven biển, từ Quảng Bình xuống tới Đồng Nai. Trong không gian rộng lớn ấy, khu vực Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định lại là nơi có mật độ di tích dày đặc nhất.
Những cái tên như Hội Lộc, Núi Ngang, Đồi Điệp, Truông Xe, Gò Lồi, Động Cườm… nghe qua tưởng như tên làng quê bình thường, nhưng dưới lòng đất của chúng là cả một kho ký ức cổ xưa.
Năm 1978, các nhà khảo cổ đào thám sát ở Hội Lộc, một cồn cát nằm giữa biển và đầm Thị Nại, họ tìm thấy hàng trăm mảnh gốm cổ, cuội vỡ, tro than. Những dấu vết nhỏ bé ấy nói với chúng ta rằng cách đây khoảng 2500 năm, vùng đất này đã có cộng đồng cư dân sinh sống.
Tôi tưởng tượng một buổi chiều rất xa xưa. Có thể cũng có một người đứng trước biển giống tôi hôm nay, nhìn sóng vỗ và nghĩ về cuộc đời của mình.
Biển Kỳ Cọ Biển Kỳ Cọ
Lịch sử đôi khi gần gũi lạ lùng.
Sau thời Sa Huỳnh là đến thời Champa. Suốt nhiều thế kỷ, vùng đất Bình Định chính là trung tâm của vương quốc Champa. Kinh đô Đồ Bàn nằm ở đây, cảng Thị Nại cũng ở đây, một thương cảng lớn từng tấp nập thuyền buôn từ Ấn Độ, Trung Hoa, các nước Đông Nam Á.
Cho tới bây giờ, đi dọc đất Bình Định, người ta vẫn gặp những ngọn tháp Chăm đứng sừng sững giữa trời. Nào là tháp Bánh Ít, tháp Đôi, tháp Cánh Tiên, rồi cụm tháp Dương Long cao vút như những mũi giáo bằng gạch đỏ.
Các nhà nghiên cứu nói rằng kiến trúc tháp Chăm ở Bình Định là giai đoạn chín muồi nhất của nghệ thuật Champa, nơi phong cách Chăm hòa quyện với ảnh hưởng Khmer, tạo nên vẻ đẹp rất riêng.
Tôi từng đứng trước một ngọn tháp như vậy vào buổi chiều muộn. Ánh nắng nghiêng xuống, làm những viên gạch cổ đỏ lên như than hồng. Có lúc tôi tự hỏi: những người thợ xây tháp cách đây mấy trăm năm có biết rằng công trình của họ sẽ đứng đó hàng thế kỷ, nhìn lịch sử đi qua?
Đến năm 1471, sau cuộc nam chinh của Lê Thánh Tông, vùng đất này chính thức nhập vào Đại Việt.
Từ đó, lịch sử Bình Định lại mở sang một chương khác.
Đầu thế kỷ XVII, chúa Nguyễn Hoàng lập phủ Quy Nhơn, cái tên Quy Nhơn bắt đầu xuất hiện trong sử sách.
Qua nhiều lần thay đổi hành chính, đến cuối thế kỷ XIX, vua Thành Thái chính thức lập thị xã Quy Nhơn. Rồi đến đầu thế kỷ XX, thành phố này nhanh chóng trở thành một đô thị sầm uất của miền Trung, với ga xe lửa, bệnh viện, khách sạn, nhà hát, bến cảng…
Lịch sử cứ thế trôi.
Lịch sử cứ chồng lên nhau như những lớp sóng.
Tôi đứng trên cầu Thị Nại lúc gần nửa đêm. Gió thổi mạnh, mặt đầm đen thẫm, mênh mông.
Tôi chợt nghĩ: Có lẽ vì nơi này là điểm giao nhau của quá nhiều dòng chảy văn hóa: Sa Huỳnh, Champa, Đại Việt, Tây Sơn… nên mỗi lần về đây, lòng mình lại rối lên một chút.
Như thể đứng giữa một ngã ba của lịch sử.
Chiến tranh đi qua, chính quyền thay đổi, tỉnh nhập rồi tách, cho tới năm 1989 Bình Định mới trở lại hình dạng như ngày nay.
Nhưng trong tất cả những lớp lịch sử ấy, có một dấu ấn mà người Bình Định nhắc đến với niềm tự hào rất riêng.
Đó là phong trào Tây Sơn.
Ở Bình Định, người ta nói tới ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ như nói tới người trong nhà.
Lễ hội Đống Đa mùng 5 Tết hằng năm ở Tây Sơn không chỉ là một lễ hội lịch sử, mà giống như ngày giỗ chung của cả một vùng đất. Trong lễ hội ấy có trống trận Tây Sơn. Tiếng trống vang lên dồn dập, nghe như tiếng vó ngựa của quân Tây Sơn năm nào đang vượt đèo, vượt sông.
Có biểu diễn võ Tây Sơn, những đường quyền mạnh mẽ, dứt khoát.
Có người nói rằng ở Bình Định, võ không chỉ là kỹ thuật chiến đấu. Võ là một phần của tính cách. Bởi vậy mới có câu ca dao:
“Ai về Bình Định mà coi
Đàn bà cũng biết đi roi múa quyền.”
Nghe tưởng nói vui.
Nhưng thật ra trong đó có cả niềm kiêu hãnh.
Các lò võ cổ truyền ở đất này đều có lễ giỗ tổ. Mỗi lò thờ một vị tổ sư khác nhau. Có nơi thờ Đạt Ma, có nơi thờ Quan Thánh Đế, có nơi thờ ngay luôn Tây Sơn tam kiệt. Ngày giỗ tổ, học trò cũ mới tụ về đông đủ. Họ thắp nhang, dâng lễ, rồi biểu diễn võ trước bàn thờ tổ.
Tôi nghe kể mà thấy cái tinh thần “uống nước nhớ nguồn” ở đây thật rõ ràng. Võ cũng có đạo của võ.
Chiều ở Quy Nhơn xuống rất nhanh. Mặt trời lặn phía sau những dãy núi thấp, để lại một khoảng trời màu cam nhạt. Gió biển thổi lồng lộng.
Tôi ngồi bên bờ biển, nghĩ lại tất cả những lớp lịch sử vừa đi ngang qua đầu mình. Từ Sa Huỳnh đến Champa, từ Đồ Bàn đến Tây Sơn, từ cảng Thị Nại xưa tới thành phố Qui Nhơn hôm nay.
Mấy ngàn năm lịch sử, vậy mà giờ đây mọi thứ nằm gọn trong tiếng sóng.
Tôi chợt hiểu ra một chuyện. Có lẽ vì vậy mà từ lúc đặt chân tới đây, trong đầu tôi cứ nghĩ mãi về Nguyễn Huệ.
Không phải vì tôi cố nhớ.
Mà bởi vùng đất này, gió của nó, cát của nó, tiếng trống võ của nó, dường như vẫn còn giữ lại cái khí phách của ông đâu đó.
Và đôi khi, chỉ cần đứng trước biển một lúc thôi, người ta cũng có thể nghe thấy lịch sử thở rất khẽ… dưới làn gió.
Người ta thường nhớ Quy Nhơn vì biển đẹp, vì Eo Gió, Kỳ Co, Cù Lao Xanh…
Ba ngày ở Qui Nhơn có lẽ vẫn là quá ngắn.
Nhưng nhiều khi, với một vùng đất dày lịch sử như Bình Định, chỉ cần một buổi chiều đứng trước biển, nghe gió thổi qua đầm Thị Nại, nghe tiếng sóng vỗ dưới chân bán đảo Phương Mai, cũng đủ để hiểu rằng:
Có những nơi, người ta không chỉ đến để ngắm cảnh. Người ta đến để lắng nghe thời gian.
GIÓ QUY NHƠN VÀ NHỮNG CÂU HỎI BỎ NGỎ VỀ QUANG TRUNG
Cả ngày nay tôi lang thang ngoài biển. Lang thang đúng nghĩa, đi kiểu không cần mục đích, chỉ để gió biển kéo mình đi tới đâu thì tới đó. Sáng sớm tôi ra Eo Gió, rồi đi trở lại Kỳ Co, chiều lại quay về thành phố, và khi trời bắt đầu ngả màu mật ong, tôi lại đi bộ ra bãi biển Quy Nhơn.
Ở cái xứ biển này, hình như gió nhiều hơn lời nói. Gió thổi qua mặt người, qua những triền đá, qua mấy bụi xương rồng khô khốc mọc trên triền núi, rồi thổi vào lòng mình những câu hỏi lạ lùng.
Eo Gió nằm trên bán đảo Phương Mai, cách thành phố chừng hai chục cây số. Người ta gọi là Eo Gió vì chỗ này giống cái hõm yên ngựa, hai bên là vách núi cao ôm lấy biển. Lần đầu đứng trước cái eo đó, tôi mới hiểu vì sao người ta hay nói biển miền Trung dữ dằn mà đẹp.
Những vách đá dựng đứng, đen sẫm, chằng chịt hang hốc như những cánh cửa bí mật của đất trời. Chim én bay là là, từng đàn nhỏ lượn vòng trong gió. Sóng biển không gào thét mà cứ rì rào, rì rầm, như nói chuyện với chân núi.
Ở dưới lòng eo, có một bãi cát vàng nằm yên êm như lòng bàn tay mở ra. Sóng nhẹ, nước trong, nhìn xuống thấy những mảng san hô xanh đỏ lấp lánh. Xa xa, mấy hòn đảo nhỏ nhô lên khỏi mặt nước, trông như những con thú biển đang ngủ quên.
Dọc theo vách núi có những hang động mang những cái tên rất dân dã: hang Kỳ Co, hang Ba Nghé, hang Dơi… Nghe thôi đã thấy mùi gió, mùi muối, mùi đời sống của người dân vùng biển. Người địa phương nói Eo Gió có gần hai chục hang yến. Mỗi buổi sớm hoặc chiều muộn, đứng trên cao nhìn xuống, chỉ thấy từng đàn chim nhỏ bay như những nét mực vẽ trên bầu trời xanh.
Tôi leo lên đỉnh núi. Con đường đá gập ghềnh, gió lồng lộng, bước chân phải dò từng chút. Nhưng khi lên tới nơi, tôi chợt thấy Eo Gió dưới chân mình giống như một con thuyền lớn đang chuẩn bị ra khơi. Biển xanh kéo dài đến tận chân trời.
Có lúc tôi đứng im, chỉ để nghe gió.
Gió ở đây mạnh, thốc, dằn.
Mạnh hơn vùng biển nơi tôi sống rất nhiều. Thường thì khi có bão và ra ngay ở Mũi Nghinh Phong thì nó mới thế.
Tôi chợt nghĩ: phải chăng những vùng đất có gió dữ như vậy mới sinh ra hào kiệt?
Từ Eo Gió, tôi qua Kỳ Co. Kỳ Co là một bãi biển lạ. Ba mặt tựa núi, một mặt mở ra biển lớn. Nước biển xanh như ngọc, cát trắng mịn, từng tảng đá nằm rải rác như ai đó vô tình bỏ quên. Khi thủy triều xuống, có thể men theo các vách đá mà khám phá những hang động nhỏ. Có người dựng lều ngủ lại qua đêm. Có người lặn xuống ngắm san hô. Có người chỉ nằm dài trên bãi cát, để gió biển hong khô mọi nỗi mệt.
Buổi chiều, tôi ngồi trên một tảng đá to nhìn ra biển. Sóng lớn. Gió lớn.
Bỗng nhiên trong đầu hiện lên một cái tên: Nguyễn Huệ. Cái bóng người áo vải năm xưa, từ vùng đất Tây Sơn cưỡi ngựa ra trận, gươm vung như sét. Không hiểu sao đứng giữa vùng gió to, sóng lớn này, tôi lại nghĩ đến ông.
Bình Định cái vùng đất gió và đá này, sinh ra không ít nhân vật kỳ lạ trong lịch sử. Nhưng nhắc tới trước tiên vẫn là Nguyễn Huệ, người sau này lên ngôi hoàng đế với niên hiệu Quang Trung.
Tôi nhớ hồi trước khi đọc truyện ngắn “Phẩm tiết” của Nguyễn Huy Thiệp. Trong truyện ấy, Nguyễn Huệ không phải vị anh hùng được phủ đầy hào quang như trong sách giáo khoa. Ông hiện ra với một gương mặt rất đời: ngang tàng, dữ dội, nhiều toan tính chính trị, thậm chí có phần tàn nhẫn.
Một con người bằng xương bằng thịt. Không phải tượng đồng. Đọc xong tôi vừa thích vừa băn khoăn.
Thật ra trước nay tôi vẫn lấn cấn với ông ấy. Một phần vì ký ức miền Nam trong tôi từng không mấy thiện cảm với Tây Sơn. Nhất là chuyện họ vào Gia Định, đốt phá Cù Lao Phố ở Biên Hòa, nơi từng là thương cảng sầm uất của người Hoa ở xứ Đồng Nai.
Nhưng cũng chính lịch sử lại cho thấy: mỗi lần quân Tây Sơn kéo vào Nam, Nguyễn Ánh lại phải chạy dài. Sự quyết đoán và tốc độ hành quân của Nguyễn Huệ khiến người ta không thể xem thường.
Tôi bắt đầu hiểu: lịch sử hiếm khi đơn giản.
Có một điều mà càng đọc tôi càng nhận ra: trong sách vở, đôi khi có những thứ gọi là “sử”, nhưng thật ra lại là phi sử. Càng ca tụng Tây Sơn quá mức, đôi khi Tây Sơn lại càng xa rời con người thật của họ.
Trong nhiều thập niên, người ta quen nhìn lịch sử theo một lối đơn giản: cái gì thuộc phía Nguyễn Ánh thì bị xem là phản phúc, tàn bạo, còn cái gì thuộc phía Quang Trung thì trở thành anh hùng, thần thánh.
Nhưng lịch sử không bao giờ chỉ có một màu.
Từ sử học bước sang văn chương, khoảng cách ấy còn lớn hơn nữa. Nhà viết sử còn phải dè dặt với tư liệu. Nhưng nhà văn, khi đã nắm mấy chữ “sáng tác” “hư cấu”, thì có thể bay xa.
Trong tiểu thuyết “Mùa mưa gai sắc”, Trần Vũ dựng nên một hình ảnh Nguyễn Huệ rất khác. Trong đó có đoạn mô tả cảnh Ngọc Hân công chúa, người con gái mười sáu tuổi của triều Lê, quỳ trước giường, để mặc Huệ quất roi như một trò khoái lạc tàn bạo:
“Huệ lấy roi, không phải dây đai của đêm hợp cẩn, mà là thứ roi gai của quản tượng dùng quất voi khi lâm trận… Huệ đã say máu, những chấm máu li ti tím bầm nổi trên lưng Ngọc Hân trông như những vết ong đốt…”
Nam Dao trong tiểu thuyết “Gió Lửa” cũng viết theo kiểu ấy:
“Đêm hôm đó, để mặc Huệ dày vò, đánh đá trong một cuộc truy hoan trước khi viễn chinh…”
Đọc những đoạn như vậy, tôi chợt tự hỏi: liệu đó là lịch sử, hay chỉ là trí tưởng tượng của nhà văn?
Một công chúa Bắc Hà, vừa mất nước, mất gia đình, liệu có thể dễ dàng “dâng hiến” tình cảm cho người đã lật đổ triều đại của mình?
Câu hỏi đó không dễ trả lời.
Một số nhà phê bình từng nói Nguyễn Huy Thiệp “xuyên tạc lịch sử”. Nhưng ông trả lời rất lạnh lùng:
“Không ai đánh nhau với cái xác chết, người ta chỉ khai thác các xác chết sao có lợi mà thôi.”
Tôi đọc câu đó mà thấy rùng mình.
Phải chăng cái “xác chết” ở đây chính là sự thật lịch sử, thứ mà mỗi thời đại lại đào lên, gọt giũa, rồi dùng theo cách của mình?
Ngay cả “Hoàng Lê nhất thống chí” cũng chỉ là “ngoại sử”, nhân vật lịch sử có đời sống nội tâm phức tạp và số phận cụ thể, nhưng nó cũng chỉ là một quyển tiểu thuyết chữ Hán.
Nhưng rồi lại có những tư liệu khác.
Linh mục Thomas Thiện, trong một bản phúc trình về cuộc Bắc tiến của Tây Sơn, từng viết:
“Một vị tướng của Nguyễn Huệ… thường xẻo tai, lột da mặt từ trán đến miệng những viên xã trưởng không tuân lệnh… Nếu không có tiền chuộc, họ sẽ bị xử tử…”
Những tài liệu khác cũng nói Tây Sơn từng sử dụng hải tặc Trung Hoa trong các chiến dịch Bắc tiến.
Những chi tiết như vậy hiếm khi xuất hiện trong các sách lịch sử phổ thông.
Lịch sử, hình như, luôn có những khoảng tối.
Nhưng rồi, khi đọc các tài liệu chính thống, người ta lại thấy một hình ảnh khác.
Theo nhiều nhà sử học, Quang Trung – Nguyễn Huệ là một thiên tài quân sự. Ông cầm quân từ năm mười tám tuổi, trong hai mươi năm đánh hàng chục trận lớn mà chưa từng thất bại. Ông đánh tan quân Xiêm ở Rạch Gầm – Xoài Mút, rồi sau đó đánh bại 29 vạn quân Thanh trong chiến thắng Ngọc Hồi – Đống Đa năm 1789.
Nhà sử học Phan Huy Lê từng nhận xét: “Quang Trung không chỉ là một nhà quân sự lỗi lạc mà còn là một nhà chính trị có biệt tài.” Chỉ trong ba năm trị nước, ông đã đưa ra nhiều cải cách về kinh tế, quân sự, giáo dục, khuyến khích dùng chữ Nôm, mở rộng ngoại thương với phương Tây, chiêu mộ nhân tài như Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích…
Một con người như vậy, liệu có thể chỉ là một bạo chúa?
Hay một vị thánh?
Có lẽ ông là cả hai và cũng không phải cả hai.
Chiều muộn, tôi quay về lại bãi biển Quy Nhơn. Sóng đập mạnh hơn. Gió thổi ràn rạt.
Tôi nghĩ đến những di tích Tây Sơn còn nằm rải rác khắp vùng Bình Định.
Ở Phú Phong có điện thờ Tây Sơn, nơi được cho là nền nhà cũ của ba anh em: Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ. Trong khu vườn ấy vẫn còn một cây me cổ thụ hơn hai trăm năm tuổi và một cái giếng đá ong. Người ta nói đó là nơi ba anh em Tây Sơn từng uống nước thuở nhỏ.
Người ta lại nói nước giếng đó có linh khí. Khách tới thường múc lên rửa mặt.
Tôi cũng thử một lần.
Nước mát lạnh.
Không biết có linh thiêng gì không, nhưng khi ngẩng lên nhìn tán me già, tôi bỗng tưởng tượng ra cảnh mấy trăm năm trước, một đứa bé tên Nguyễn Huệ chạy chơi dưới gốc cây này, không ai biết rằng sau này nó sẽ làm rung chuyển cả đất nước.
Lịch sử đôi khi bắt đầu từ những nơi rất bình thường như vậy.
Ở Kiên Mỹ có Bảo tàng Quang Trung, nơi lưu giữ hàng chục nghìn hiện vật của phong trào Tây Sơn. Ở An Nhơn còn Thành Hoàng Đế, xây trên nền thành Đồ Bàn của vương quốc Chăm xưa. Một thời đó từng là đại bản doanh của Tây Sơn, rồi sau khi nhà Tây Sơn sụp đổ, Gia Long phá thành, dựng lăng tướng Nguyễn ở ngay trên nền cũ.
Chiều tối, tôi lại ra bờ biển Quy Nhơn. Trời sẫm lại. Sóng vẫn lớn. Gió vẫn mạnh.
Tôi đứng nhìn biển rất lâu, rồi tự hỏi một câu không dễ trả lời:
Quang Trung – Nguyễn Huệ rốt cuộc là ai?
Một anh hùng áo vải?
Một nhà cải cách thiên tài?
Hay chỉ là một con người bị lịch sử kéo vào cơn bão quyền lực?
Có lẽ tất cả… và cũng có lẽ không phải.
Bởi càng đi nhiều, đọc nhiều, tôi càng hiểu: lịch sử không phải là tượng đồng đứng yên giữa quảng trường.
Nó giống gió ở Eo Gió hơn.
Thổi qua từng thời đại, đổi hướng, đổi giọng. Mà con người, dù lớn đến đâu, cũng chỉ là một bóng hình chao nghiêng giữa cơn gió ấy.
Tôi quay lưng về phía biển. Nhưng trong đầu tôi vẫn còn nghe tiếng gió Bình Định, thổi dài qua hơn hai trăm năm lịch sử.
Lịch sử Việt Nam đôi khi giống một vòng xoáy: người hôm nay dựng lên, người ngày mai phá xuống.
Gió biển thổi mạnh. Sóng đập vào bờ cát từng đợt.
Tôi chợt nhận ra: có lẽ lịch sử cũng giống như biển.
Ở xa nhìn vào, ta chỉ thấy một màu xanh. Nhưng nếu lặn xuống sâu hơn, dưới đó là san hô, đá ngầm, dòng chảy, những vùng sáng tối đan xen.
Nguyễn Huệ – Quang Trung cũng vậy.
Giữa bao nhiêu lời ca tụng và bao nhiêu lời buộc tội, có lẽ con người thật của ông vẫn còn nằm đâu đó trong lớp sóng lịch sử.
Tối xuống. Biển Quy Nhơn tối rất nhanh. Tôi đứng nhìn ra khơi. Trong gió vẫn còn nghe lẫn đâu đó tiếng trống trận tưởng tượng của hơn hai trăm năm trước.
Và tôi chợt nghĩ một điều rất đơn giản: Có lẽ lịch sử không cần chúng ta phải chọn phe.
Nó chỉ cần chúng ta đủ bình tĩnh để nhìn lại con người, với tất cả ánh sáng và bóng tối của họ.
Giống như biển kia.
Không có sóng dữ thì cũng chẳng có chân trời.
(Còn nữa)
Nguyễn Đông A
*Hình trong bài do người viết chụp.
Không có nhận xét nào