Header Ads

  • Breaking News

    Đọc báo trong nước

    17/3/2026

    Hóa Chất Đức Giang làm ăn ra sao trước khi chủ tịch bị khởi tố?

    Nam Hải

    Thứ ba, 17/03/2026 

    Hóa chất Đức Giang Lào Cai vẫn là “gà đẻ trứng vàng” của tập đoàn. 

    Nhờ nền tảng tài chính dồi dào, triển vọng dài hạn của doanh nghiệp vẫn được đánh giá tích cực, bất chấp những khó khăn đang phải đối mặt.

    Mới đây, Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về tham nhũng, kinh tế, buôn lậu vừa khởi tố vụ án xảy ra tại Tập đoàn Hóa chất Đức Giang và các đơn vị liên quan. Cơ quan chức năng đã khởi tố 14 bị can, trong đó có ông Đào Hữu Huyền, Chủ tịch HĐQT kiêm Chủ tịch HĐTV Công ty TNHH MTV Hóa chất Đức Giang - Lào Cai về các tội danh gây ô nhiễm môi trường, vi phạm quy định về khai thác tài nguyên và kế toán.

    Gam màu tối bao phủ doanh nghiệp

    Thông tin này lập tức tác động mạnh tới thị trường. Cổ phiếu DGC giảm sàn về 68.800 đồng/cổ phiếu, dù trước đó vẫn giao dịch trong sắc xanh khi thị trường đang hồi phục.

    Thực tế, áp lực lên cổ phiếu đã xuất hiện từ cuối năm 2025. Trong hơn hai tuần giao dịch cuối tháng 12/2025, cổ phiếu DGC đã giảm gần 35% với lực bán mạnh, gây thiệt hại đáng kể cho nhà đầu tư trong khi doanh nghiệp không công bố bất kỳ thông tin nào.

    Sự im lặng vẫn tiếp diễn đến thời điểm hiện tại, và những gì thị trường có thể tiếp cận chủ yếu chỉ là bức tranh kinh doanh kém tích cực.

    Cụ thể, doanh thu thuần quý IV/2025 đạt 2.740 tỷ đồng, tăng 13% so với cùng kỳ. Tuy nhiên, đà tăng này không đi kèm cải thiện hiệu quả khi lợi nhuận gộp chỉ đạt khoảng 716 tỷ đồng, giảm 19%. Biên lợi nhuận gộp theo đó thu hẹp mạnh, từ 37% xuống còn khoảng 26%, chủ yếu do giá vốn tăng cao trong bối cảnh chi phí đầu vào leo thang.

    Sau khi trừ đi chi phí, lợi nhuận sau thuế hợp nhất chỉ đạt khoảng 657 tỷ đồng, “bốc hơi” 17% và là mức thấp nhất trong 17 quý gần đây.

    Theo giải trình từ doanh nghiệp, nguyên nhân chính đến từ chi phí đầu vào tăng mạnh như quặng, lưu huỳnh, điện và amoniac. Đáng chú ý, tỷ trọng quặng nhập khẩu gia tăng khiến giá vốn hàng bán tăng tới 32% so với cùng kỳ năm 2024, qua đó bào mòn đáng kể biên lợi nhuận dù doanh thu vẫn duy trì tăng trưởng.

    Ở góc độ hoạt động cốt lõi, sản xuất phốt pho và các dẫn xuất phụ thuộc vào ba nguyên liệu chính gồm quặng apatit, than cốc và lưu huỳnh. Các nhà máy phốt pho vàng tập trung chủ yếu tại Lào Cai nhờ nguồn apatit dồi dào.

    Năm 2018, Tập đoàn Hóa chất Đức Giang tăng quy mô gấp đôi sau khi sáp nhập Công ty cổ phần Hóa chất Đức Giang Lào Cai và mua 51% CTCP Phốt pho Apatit Việt Nam. Đến 2019, doanh nghiệp chuyển sang mô hình tập đoàn và tiếp tục M&A như mua 51% CTCP Ắc quy Tia Sáng và 100% CTCP Phốt pho 6.

    Loạt nhà máy và dự án lớn trong tay

    Dù kết quả kinh doanh có dấu hiệu suy giảm, Hóa chất Đức Giang vẫn là điểm sáng trong mắt nhà đầu tư khi chiếm giữ vị thế dẫn đầu trong lĩnh vực hóa chất với hàng loạt dự án quan trọng.

    Tính đến nay, tập đoàn có ba chi nhánh và tám công ty con, với tổng vốn đầu tư 5.585 tỷ đồng. Trong đó, Công ty TNHH MTV Hóa chất Đức Giang Lào Cai chiếm lớn nhất với 2.785 tỷ đồng, tương đương 50%.

    Đây là đơn vị chủ lực sản xuất phốt pho và hóa chất gốc phốt phát, sở hữu nhà máy phốt pho 40.000 tấn/năm và axit phosphoric 160.000 tấn/năm. Công ty này đồng thời nắm 51% Công ty CP Phốt pho Apatit Việt Nam, doanh nghiệp nổi bật với cổ tức tiền mặt cao.

    Trong năm 2025, Hóa chất Đức Giang đã tăng đầu tư 659 tỷ đồng, chủ yếu là vào dự án nhà máy Hóa chất Nghi Sơn. Đây là tổ hợp hóa chất 12.000 tỷ đồng tại Thanh Hóa, chia 3 giai đoạn với các sản phẩm như xút, PAC, PVC và soda. Giai đoạn 1 dự kiến vận hành từ quý I/2026. Dự án Hóa chất Nghi Sơn kỳ vọng sẽ đi vào hoạt động thương mại trong quý II/2026.

    Trong khi đó, Công ty TNHH MTV Hóa chất Đức Giang – Đắk Nông vận hành nhà máy phân bón và được giao thêm tài sản sau thương vụ mua nhà máy cồn 253 tỷ đồng, đồng thời định hướng đầu tư dự án bauxite – nhôm quy mô 57.000 tỷ đồng.

    Công ty CP Ắc quy Tia Sáng được kỳ vọng phát triển pin lithium nhưng hiện doanh thu và lợi nhuận còn thấp.

    Khai trường 25 tại huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai.

    Đáng chú ý, lợi nhuận lớn tích lũy trong nhiều năm từ mảng hóa chất là tiền đề để Hóa chất Đức Giang chuyển hướng sang lĩnh vực bất động sản. Trong năm 2025, công ty TNHH MTV Bất động sản Đức Giang đã được tăng vốn lên 1.000 tỷ đồng và triển khai dự án Tổ hợp công cộng, trường học và nhà ở Đức Giang quy mô 4.500 tỷ tại Hà Nội.

    Theo công bố, dự án đã được UBND Thành phố Hà Nội chấp thuận chủ trương đầu tư đồng thời chấp thuận nhà đầu tư. Dự kiến, dự án sẽ khởi công trong năm 2026, và trong trường hợp thuận lợi có thể bàn giao phần thấp tầng từ quý IV/2026.

    Tại thời điểm 31/12/2025, tổng tài sản đạt 19.550 tỷ đồng, tăng hơn 23% so với đầu năm. Đáng chú ý, tiền và các khoản tiền gửi ngân hàng lên tới hơn 13.100 tỷ đồng, chiếm khoảng 67% tổng tài sản, qua đó duy trì vị thế là một trong những doanh nghiệp sản xuất nắm giữ lượng tiền mặt lớn trên sàn chứng khoán.

    Kỳ vọng trở lại đà tăng trưởng

    Nhìn chung, Công ty TNHH MTV Hóa chất Đức Giang Lào Cai vẫn là “gà đẻ trứng vàng”, trong khi các đơn vị còn lại chủ yếu đang trong giai đoạn đầu tư hoặc đóng góp hạn chế.

    Dù vậy, các mỏ apatit và nhà máy tại Lào Cai đang tiệm cận giới hạn với dư địa khai thác chỉ còn khoảng 20 - 30 năm. Hoạt động này cũng tiềm ẩn rủi ro môi trường như bụi, chất thải rắn và ô nhiễm nguồn nước.

    Trong bối cảnh khó khăn, doanh nghiệp đã triển khai nhiều sáng kiến nhằm giảm phát thải, tiết kiệm nguyên liệu và hạn chế tác động môi trường. Song song, các dự án quy mô hàng tỷ USD đang được đẩy mạnh nhằm tìm kiếm động lực tăng trưởng mới.

    Nhờ nền tảng tài chính dồi dào, triển vọng dài hạn của doanh nghiệp vẫn được đánh giá tích cực, bất chấp những khó khăn ngắn hạn. Theo đánh giá của công ty chứng khoán BIDV (BSC), chu kỳ phục hồi của ngành hóa chất đang hình thành, tạo nền tảng cho tăng trưởng trong năm 2026.

    Giá Phốt pho vàng tại Trung Quốc vừa ghi nhận nhịp tăng dựng đứng vào đầu tháng 3/2026 để thiết lập vùng đỉnh 2 năm.

    Công ty chứng khoán SHS đánh giá, Hóa chất Đức Giang phải đối mặt với những rủi ro liên quan tới thuế xuất khẩu. Việc tăng thuế xuất khẩu có thể gây ảnh hưởng tiêu cực tới hoạt động kinh doanh trong ngắn hạn, đặc biệt khi mảng P4 đóng góp gần 50% doanh thu của DGC trong 2025.

    Ngoài ra, việc tham gia các hiệp định thương mại sẽ phần nào giảm thiểu tác động tiêu cực của chính sách thuế.

    Việc xin gia hạn giấy phép khai thác tại khai trường 25 và khai trường 19B cũng là thách thức. Khai trường 25 của Hóa chất Đức Giang được cấp phép khai thác đến hết năm 2026. Do vậy, rủi ro lớn nhất của DGC hiện tại nằm ở tiến độ gia hạn và mở rộng Khai trường 25 và 19B.

    Nếu thủ tục kéo dài làm việc đưa mỏ vào khai thác chậm hơn kỳ vọng, công ty sẽ phải phụ thuộc vào quặng mua ngoài hoặc nhập khẩu, qua đó làm tăng chi phí đầu vào và ảnh hưởng tiêu cực đến biên lợi nhuận của doanh nghiệp.

    Cuối cùng, rủi ro được đề cập tới, cũng là một trong những nguyên nhân ban lãnh đạo Hóa chất Đức Giang bị khởi tố - đó là vấn đề môi trường.

    Theo SHS, doanh nghiệp đối mặt với rủi ro môi trường đáng kể do hoạt động trong lĩnh vực khai thác và chế biến khoáng sản, vốn phát sinh nhiều chất thải có nguy cơ gây ô nhiễm.

    Trong bối cảnh yêu cầu pháp lý và giám sát môi trường ngày càng được chú trọng (Luật Hóa chất 69/2025/QH15 có hiệu lực từ 17/01/2026), nếu công tác kiểm soát ô nhiễm tại mỏ và nhà máy không theo kịp, công ty có thể chịu áp lực lớn từ việc chi phí tuân thủ tăng, rủi ro pháp lý, phản ứng tiêu cực từ cộng đồng, tổn hại đến hình ảnh, thậm chí bị đình chỉ hoạt động.

    Với vị thế đầu ngành, đây là rủi ro lớn, doanh nghiệp cần quan tâm nhiều hơn đến công tác đảm bảo môi trường tại mỏ và các nhà máy sản xuất. Khai trường 25 tại huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai.

    Khởi tố Chủ tịch Hóa chất Đức Giang Đào Hữu Huyền

    Nam Hải

    Thứ ba, 17/03/2026 

    Ông Đào Hữu Huyền - Chủ tịch HĐQT Tập đoàn Hóa chất Đức Giang.

    Ông Đào Hữu Huyền, Chủ tịch Tập đoàn hóa chất Đức Giang bị khởi tố về 3 tội: Vi phạm quy định về kế toán gây hậu quả nghiêm trọng, vi phạm quy định về khai thác tài nguyên và gây ô nhiễm môi trường.

    Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về tham nhũng, kinh tế, buôn lậu vừa khởi tố vụ án xảy ra tại Tập đoàn Hóa chất Đức Giang và các đơn vị liên quan. Cơ quan chức năng đã khởi tố 14 bị can về các tội danh gây ô nhiễm môi trường, vi phạm quy định về khai thác tài nguyên và kế toán.

    Theo kết quả điều tra ban đầu, Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về tham nhũng, kinh tế, buôn lậu làm rõ một số hành vi sai phạm có tổ chức diễn ra trong thời gian dài. Các hành vi này gây bức xúc trong dư luận và ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống người dân.

    Cụ thể, tập đoàn đã đổ thải trái phép hàng triệu tấn chất thải trên diện tích hàng chục hecta tại khu công nghiệp Tằng Loỏng, xã Tằng Loỏng, tỉnh Lào Cai. Hành vi này gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng tại địa bàn.

    Bên cạnh đó, doanh nghiệp còn khai thác trái phép hàng trăm nghìn tấn quặng apatit, trị giá hàng trăm tỷ đồng. Tập đoàn cũng bị cáo buộc bỏ ngoài sổ sách kế toán, che giấu doanh thu, gây thiệt hại về thuế cho tài sản Nhà nước hàng chục tỷ đồng.

    Trên cơ sở kết quả điều tra, ngày 25/12/2025 và ngày 14/3/2026, Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về tham nhũng, kinh tế, buôn lậu đã khởi tố vụ án “Gây ô nhiễm môi trường; vi phạm quy định về nghiên cứu, thăm dò, khai thác tài nguyên; vi phạm quy định về kế toán gây hậu quả nghiêm trọng”, xảy ra tại Tập đoàn Hóa chất Đức Giang và các đơn vị liên quan, đồng thời, khởi tố đối với 14 bị can, gồm:

    1 bị can về 3 tội “Vi phạm quy định về kế toán gây hậu quả nghiêm trọng”, “Vi phạm quy định về khai thác tài nguyên” và “Gây ô nhiễm môi trường”, quy định tại các Điều 221, 227 và 235 Bộ luật Hình sự: Đào Hữu Huyền, Chủ tịch HĐQT Tập đoàn Hóa chất Đức Giang kiêm Chủ tịch HĐTV Công ty TNHH MTV Hóa chất Đức Giang - Lào Cai.

    1 bị can về 2 tội “Vi phạm quy định về kế toán gây hậu quả nghiêm trọng” và “Gây ô nhiễm môi trường”, quy định tại Điều 221 và Điều 235 Bộ luật Hình sự: Phạm Văn Hùng, Giám đốc Công ty TNHH MTV Hóa chất Đức Giang - Lào Cai.

    3 bị can về tội “Vi phạm quy định về khai thác tài nguyên”, quy định tại Điều 227 Bộ luật Hình sự, gồm: Trịnh Quốc Khánh, Giám đốc; An Văn Bắng, Giám đốc mỏ Khai trường 25 và Nguyễn Thị Hương, Kế toán trưởng Tập đoàn Hóa chất Đức Giang Chi nhánh Lào Cai.

    9 bị can về tội “Vi phạm quy định về kế toán gây hậu quả nghiêm trọng”, quy định tại Điều 221 Bộ luật Hình sự, gồm: Đào Hữu Duy Anh, Phó Chủ tịch HĐQT, nguyên Tổng Giám đốc; Đào Thị Mai, Kế toán trưởng; Hoàng Thúy Hà, Kế toán và Nguyễn Thị Phương Anh, Thủ quỹ Tập đoàn Hóa chất Đức Giang; Phạm Thị Bích, Kế toán trưởng Công ty TNHH MTV Hóa chất Đức Giang - Lào Cai; Đặng Tiến Đức, Giám đốc và Phạm Thị Bích Phương, Kế toán trưởng Công ty Cổ phần Phốt pho Apatit Việt Nam; Trần Minh Tuấn, Giám đốc và Nguyễn Thị Phương Thảo, Kế toán trưởng Công ty TNHH MTV Hóa chất Đức Giang - Đắk Nông.

    Về biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú đối với 7 bị can gồm: Phạm Thị Bích Phương, Đặng Tiến Đức, Đào Thị Mai, Hoàng Thúy Hà, Nguyễn Thị Phương Anh, Nguyễn Thị Phương Thảo và Phạm Thị Bích; bắt bị can để tạm giam đối với 7 bị can còn lại.

    Sau khi Viện kiểm sát nhân dân tối cao (Vụ 3) phê chuẩn, Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về tham nhũng, kinh tế, buôn lậu đã thi hành các Quyết định, Lệnh nêu trên đúng quy định của pháp luật.

    Hiện Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về tham nhũng, kinh tế, buôn lậu đang tiếp tục củng cố tài liệu, chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của các bị can đã khởi tố; đồng thời, mở rộng điều tra xử lý toàn diện, triệt để đối với hành vi sai phạm có tổ chức của các bị can và các tổ chức, cá nhân có liên quan; xác minh, kê biên, phong tỏa, phục vụ thu hồi triệt để tài sản cho Nhà nước.

    5 triệu hộ kinh doanh đối diện luật chơi mới trên sàn thương mại số

    Lam Anh

    Thứ ba, 17/03/2026 

    Thay đổi về pháp lý cùng sự phát triển của công nghệ và hành vi tiêu dùng đang định hình lại cách vận hành của hàng triệu hộ kinh doanh trong nền kinh tế số.

    Thương mại điện tử Việt Nam bước vào giai đoạn mới khi quy mô thị trường tăng nhanh và khung chính sách đang được hoàn thiện theo hướng minh bạch, chuẩn hóa và bền vững hơn.

    Theo ông Bùi Trung Kiên, Phó Chủ tịch Hiệp hội Thương mại điện tử Việt Nam, thị trường thương mại điện tử Việt Nam đã duy trì tốc độ tăng trưởng liên tục trong nhiều năm. Riêng năm vừa qua, mức tăng trưởng vượt 25%, cao nhất trong khu vực Đông Nam Á. Quy mô thị trường đã vượt ngưỡng 32 tỷ USD, đưa Việt Nam trở thành một trong những thị trường lớn nhất khu vực.

    Sự mở rộng nhanh chóng của thương mại điện tử gắn với sự tham gia ngày càng đông đảo của các hộ kinh doanh và cá nhân bán hàng.

    Hiện Việt Nam có hơn 5 triệu hộ kinh doanh tham gia các hoạt động thương mại, chưa kể số lượng lớn người bán hàng thông qua livestream hoặc mạng xã hội. Tổng giá trị giao dịch của bốn nền tảng thương mại điện tử lớn gồm Shopee, TikTok, Lazada và Tiki đạt hơn 429 nghìn tỷ đồng, với khoảng 2 tỷ đơn hàng mỗi năm.

    Trong cấu trúc của nền kinh tế số, thương mại điện tử hiện chiếm hơn 1/4 tổng doanh thu và dự kiến đạt tối thiểu 35% vào năm 2030 theo định hướng phát triển của Chính phủ. Những con số này cho thấy thương mại điện tử đã trở thành một trụ cột quan trọng của nền kinh tế số Việt Nam.

    Giai đoạn tăng trưởng nóng dần khép lại

    Tuy vậy, sự phát triển nhanh cũng kéo theo những thay đổi trong cách thức vận hành của thị trường thương mại điện tử. Ông Kiên cho rằng giai đoạn tăng trưởng nóng đã dần khép lại. Thị trường bước vào giai đoạn phát triển bền vững với yêu cầu cao hơn về minh bạch, chuẩn hóa và quản trị dữ liệu.

    Trong bối cảnh đó, khung pháp lý trở thành yếu tố quan trọng định hình thị trường. Các quy định mới liên quan đến thuế, quản lý giao dịch và trách nhiệm của các nền tảng đang được triển khai đồng bộ. Việc hoàn thiện hệ thống chính sách giúp giảm dần tình trạng bán hàng tự phát, hàng kém chất lượng hoặc những tranh chấp liên quan đến giao dịch trực tuyến.

    Một thay đổi đáng chú ý là sự xuất hiện của Nghị định 68/2026/NĐ-CP quy định về chính sách thuế và quản lý thuế đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh và Nghị định 117/2025/NĐ-CP quy định quản lý thuế đối với hoạt động kinh doanh trên nền tảng thương mại điện tử, nền tảng số của hộ, cá nhân.

    Hai văn bản này được xem là bước điều chỉnh quan trọng đối với hoạt động thương mại điện tử và quản lý thuế trong môi trường số.

    Chính sách mới nâng ngưỡng doanh thu miễn thuế lên 500 triệu đồng mỗi năm, cao hơn nhiều so với mức 100 triệu đồng trước đây. Theo thống kê, khoảng 90% hộ kinh doanh tại Việt Nam có doanh thu dưới mức này. Quy định mới giúp giảm áp lực tuân thủ cho phần lớn hộ kinh doanh nhỏ, đồng thời khuyến khích họ tham gia thị trường một cách chính thức và minh bạch hơn.

    Với những hộ kinh doanh có doanh thu cao hơn, cơ chế tính thuế cũng linh hoạt hơn. Người nộp thuế có thể lựa chọn phương thức tính dựa trên tỷ lệ doanh thu hoặc lợi nhuận thực tế tùy theo đặc thù hoạt động.

    Bên cạnh đó, cơ chế thuế khoán truyền thống được bãi bỏ để chuyển sang hình thức tự kê khai, phù hợp với môi trường kinh doanh số có dữ liệu giao dịch rõ ràng.

    Ông Bùi Trung Kiên, Phó Chủ tịch Hiệp hội Thương mại điện tử Việt Nam. Ảnh: VGP

    Một cải cách đáng chú ý khác là cơ chế khấu trừ thuế tự động trên các sàn thương mại điện tử.

    Theo quy định mới, các nền tảng có chức năng thanh toán trực tiếp sẽ thực hiện khấu trừ và nộp thay một phần nghĩa vụ thuế cho người bán đối với mỗi giao dịch thành công. Cơ chế này giúp đơn giản hóa thủ tục cho cá nhân kinh doanh và tăng tính minh bạch của dòng tiền trong hệ thống.

    Sự phát triển của công nghệ cũng đang thay đổi bản chất của các nền tảng thương mại điện tử. Nhiều sàn bán hàng truyền thống đã chuyển dần sang mô hình kết hợp nội dung giải trí và giao dịch thương mại. Video ngắn, livestream và các hoạt động tương tác trực tuyến trở thành công cụ quan trọng trong việc thu hút người tiêu dùng và thúc đẩy doanh số.

    Song song với sự thay đổi của nền tảng là sự thay đổi trong hành vi tiêu dùng. Theo dữ liệu của Hiệp hội Thương mại điện tử Việt Nam, tại các đô thị lớn như TP.HCM, phần lớn sản phẩm tiêu dùng, làm đẹp và dịch vụ cá nhân đã được giao dịch qua kênh trực tuyến. Thương mại điện tử đang dần trở thành kênh mua sắm quen thuộc của người dân.

    Cùng lúc đó, xu hướng bán hàng đa kênh ngày càng phổ biến. Người bán cần quản lý dữ liệu đơn hàng, tồn kho và khách hàng thông qua các công cụ công nghệ thay cho cách ghi chép thủ công trước đây. Khả năng phân tích dữ liệu và tối ưu vận hành trở thành yếu tố quan trọng trong cạnh tranh.

    Thương mại điện tử xuyên biên giới cũng mở ra một không gian thị trường rộng lớn hơn. Các nền tảng quốc tế đang xây dựng các trung tâm vận hành khu vực, cho phép nhà bán hàng tại Việt Nam tiếp cận trực tiếp người tiêu dùng tại nhiều quốc gia Đông Nam Á. Khi khách hàng thực hiện giao dịch trực tuyến, hàng hóa có thể được cung cấp cho thị trường trong nước hoặc các quốc gia khác trong khu vực thông qua cùng một hệ thống.

    Trong bối cảnh đó, ông Kiên cho rằng, hệ sinh thái thương mại điện tử cần sự phối hợp chặt chẽ giữa nhiều chủ thể.

    Các nền tảng đóng vai trò kết nối thị trường và thiết lập tiêu chuẩn vận hành. Các tổ chức trung gian thanh toán tham gia giám sát dòng tiền và đảm bảo tính minh bạch của giao dịch. Các doanh nghiệp công nghệ cung cấp công cụ quản trị dữ liệu, tự động hóa quy trình và ứng dụng trí tuệ nhân tạo để nâng cao hiệu quả vận hành.

    Thương mại điện tử Việt Nam đang đứng trước một chu kỳ phát triển mới. Quy mô thị trường tiếp tục mở rộng trong khi các quy chuẩn vận hành ngày càng rõ ràng. Sự kết hợp giữa khung chính sách minh bạch, công nghệ số và năng lực quản trị của doanh nghiệp được kỳ vọng sẽ tạo nền tảng cho một hệ sinh thái thương mại điện tử phát triển ổn định trong thập kỷ tới.

    Nguy cơ tái diễn tình trạng ách tắc thực phẩm nhập khẩu

    Phương Anh

    Thứ ba, 17/03/2026 

    VCCI kiến nghị Chính phủ xem xét kéo dài thời gian tạm ngưng hiệu lực của Nghị định 46 và Nghị quyết 66.13. Ảnh: Hoàng Anh

    Thời hạn tạm ngưng hiệu lực của Nghị định 46 và Nghị quyết 66.13 đang đến gần, nguy cơ ách tắc thực phẩm nhập khẩu đang trở lại.

    Như TheLEADER đã đưa tin, trong những ngày triển khai Nghị định số 46/2026/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật An toàn thực phẩm) (Nghị định 46), khâu tổ chức thực thi các quy định liên quan đến kiểm tra nhà nước với một số nông sản, thực phẩm tươi sống nhập khẩu đã xảy ra một số vướng mắc.

    Nhiều doanh nghiệp, hiệp hội đã phản ánh tình trạng ùn tắc hàng hóa khi không thể thông quan cũng như lo lắng về chi phí và các rủi ro khi không thể thông quan hàng hóa.

    Trước tình hình đó, Chính phủ vào đầu tháng 2 vừa qua đã ban hành Nghị quyết số 09/2026/NQ-CP về việc tạm ngưng hiệu lực và điều chỉnh thời hạn áp dụng Nghị định số 46 và Nghị quyết số 66.13/2026/NQ-CP quy định về công bố, đăng ký sản phẩm thực phẩm.

    Trong thời gian tạm ngưng hiệu lực theo quy định, Nghị định 15/2018/NĐ-CP ngày 2/2/2018 và các văn bản quy định, hướng dẫn thi hành tiếp tục có hiệu lực.

    “Cộng đồng doanh nghiệp đánh giá cao quyết định kịp thời của Chính phủ trong việc ban hành Nghị quyết số 09/2026/NQ-CP. Đây là hành động thể hiện tinh thần cầu thị, lắng nghe và đồng hành cùng doanh nghiệp, góp phần tháo gỡ ách tắc cấp bách tại các cửa khẩu, cảng biển, bảo đảm chuỗi cung ứng không bị gián đoạn”, báo cáo của Liên đoàn Thương mại và công nghiệp Việt Nam (VCCI), cho biết.

    “Tuy nhiên, thời hạn tạm ngưng đang đến gần và cộng đồng doanh nghiệp rất lo ngại rằng, nếu các vướng mắc cốt lõi không được giải quyết trước ngày 15/4/2026, những hậu quả nghiêm trọng đối với sản xuất, kinh doanh sẽ tái diễn”, VCCI nhấn mạnh.

    Đặc biệt, cộng đồng doanh nghiệp lưu ý rằng, Nghị định 46 và Nghị quyết 66.13 được ban hành và có hiệu lực ngay trong bối cảnh Luật An toàn thực phẩm đang trong quá trình sửa đổi. Việc áp dụng các quy định này trong thời gian ngắn, sau đó lại phải thay thế bằng văn bản mới hướng dẫn thi hành Luật An toàn thực phẩm sửa đổi, sẽ tạo ra bất ổn pháp lý, chi phí tuân thủ lớn và xáo trộn môi trường sản xuất, kinh doanh.

    Hàng loạt vướng mắc

    Báo cáo của VCCI đã chỉ ra một loạt vướng mắc liên quan đến Nghị định 46 và Nghị quyết 66.13, trước hết là vướng mắc về thủ tục công bố và đăng ký sản phẩm.

    Nghị định 46 quy định toàn bộ sản phẩm thực phẩm, bao gồm cả nguyên liệu, phụ gia, chất hỗ trợ chế biến, bao bì và dụng cụ tiếp xúc trực tiếp với thực phẩm, đều phải thực hiện thủ tục đăng ký công bố hợp quy hoặc công bố tiêu chuẩn áp dụng hoặc đăng ký bản công bố sản phẩm trước khi lưu thông trên thị trường hoặc được sử dụng trong sản xuất.

    Quy định này đã loại bỏ các trường hợp miễn thủ tục vốn được quy định tại Nghị định 15 đối với nguyên liệu, bao bì chỉ dùng để sản xuất nội bộ và không tiêu thụ trực tiếp trên thị trường, tạo ra hàng loạt bất cập nghiêm trọng.

    Theo đó, doanh nghiệp sản xuất thực phẩm đang phải đối mặt với tình trạng phải thực hiện đồng thời hai thủ tục công bố đối với cùng một sản phẩm: vừa đăng ký công bố hợp quy cho bao bì, vừa đăng ký công bố cho chính sản phẩm chứa đựng trong bao bì đó.

    Đây là quy định chồng chéo, không cần thiết, bởi doanh nghiệp sản xuất đã chịu toàn bộ trách nhiệm pháp lý đối với thành phẩm cuối cùng đưa ra thị trường.

    Bên cạnh đó, hồ sơ đăng ký bản công bố hợp quy theo Nghị định 46 yêu cầu phải có kết quả chứng nhận hợp quy của tổ chức chứng nhận được công nhận theo quy định của pháp luật về quy chuẩn kỹ thuật.

    Tuy nhiên, tính đến thời điểm nghị định có hiệu lực, chưa có tổ chức chứng nhận hợp quy nào được công nhận để thực hiện chứng nhận cho nhóm thực phẩm, khiến doanh nghiệp không thể hoàn thiện hồ sơ dù có thiện chí tuân thủ.

    Ngoài ra, hồ sơ đăng ký bản công bố hợp quy yêu cầu phải có giấy ủy quyền trực tiếp từ nhà sản xuất nước ngoài.

    Tuy nhiên trên thực tế, phần lớn hoạt động nhập khẩu thực phẩm và nguyên liệu tại Việt Nam được thực hiện qua hệ thống phân phối toàn cầu hoặc qua các đơn vị thương mại trung gian, không mua trực tiếp từ nhà sản xuất.

    Các nhà sản xuất nước ngoài, đặc biệt tại Nhật Bản, châu Âu và Hoa Kỳ, không có thông lệ cấp giấy ủy quyền theo hình thức yêu cầu của Nghị định 46 và không chấp nhận chịu trách nhiệm pháp lý theo pháp luật Việt Nam.

    Theo VCCI, ước tính có tới 90% sản phẩm thực phẩm nhập khẩu đang lưu hành trên thị trường sẽ không thể đáp ứng yêu cầu này nếu quy định được áp dụng đầy đủ.

    Vướng mắc thứ hai là về kiểm tra nhà nước đối với thực phẩm nhập khẩu.

    Nghị định 46 đã thay đổi căn bản cơ chế kiểm tra nhà nước về an toàn thực phẩm đối với hàng hóa nhập khẩu, dẫn đến hàng loạt ách tắc nghiêm trọng tại các cửa khẩu và cảng biển ngay từ những ngày đầu thực thi.

    Đơn cử, Nghị định 46 đã bãi bỏ quy định miễn kiểm tra nhà nước đối với nguyên liệu, phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến và bao bì nhập khẩu chỉ dùng để sản xuất nội bộ, không tiêu thụ tại thị trường trong nước, một quy định được đánh giá là hợp lý và thực tiễn trong suốt 8 năm áp dụng Nghị định 15.

    Hệ quả là toàn bộ các lô nguyên vật liệu nhập khẩu phục vụ sản xuất, bao gồm cả đường mía, lá trà, hương liệu, bao bì, nắp chai, khí CO2… đều bị ách tắc tại cửa khẩu, gây thiệt hại rất lớn cho doanh nghiệp, đặc biệt trong bối cảnh cao điểm sản xuất dịp Tết Nguyên đán.

    Bên cạnh đó, Nghị định 46 chuyển thẩm quyền kiểm tra nhà nước về an toàn thực phẩm đối với thực phẩm nhập khẩu từ các cơ quan chuyên ngành trung ương về cho UBND cấp tỉnh theo phân cấp, trong khi các tỉnh, thành phố chưa được chuẩn bị về tổ chức, nhân lực, quy trình và cơ sở vật chất để tiếp nhận nhiệm vụ mới này.

    Ngay sau khi nghị định có hiệu lực, các cơ quan chuyên ngành tại địa phương như Sở Y tế, Sở Nông nghiệp và môi trường đều ngừng tiếp nhận hồ sơ do chưa có hướng dẫn thực hiện, khiến hàng hóa ùn tắc kéo dài.

    Không chỉ vậy, quy trình kiểm tra nhà nước đối với thực phẩm nhập khẩu theo Nghị định 46 được mở rộng từ một bước thành ba bước, thời gian kiểm tra thông thường là 10 ngày làm việc và kiểm tra chặt là 12 ngày làm việc, chưa bao gồm thời gian kiểm nghiệm, dẫn đến tổng thời gian thông quan thực tế có thể kéo dài hàng tháng.

    Điều này phát sinh chi phí lưu kho, lưu bãi rất lớn và gây hư hỏng đặc biệt đối với nguyên liệu tươi sống.

    Ngoài ra, VCCI còn chỉ ra vướng mắc về quy định chuyển tiếp và ghi nhãn hàng hóa; về quản lý thực phẩm bổ sung và định nghĩa kỹ thuật; vướng mắc về đăng ký nội dung quảng cáo thực phẩm bổ sung; về yêu cầu truy xuất nguồn gốc thực phẩm cũng như vướng mắc về năng lực hệ thống kiểm nghiệm.

    Đề xuất kéo dài thời gian tạm ngưng của Nghị định 46

    Từ những vướng mắc của doanh nghiệp, VCCI kiến nghị Chính phủ xem xét kéo dài thời gian tạm ngưng hiệu lực của Nghị định 46 và Nghị quyết 66.13 cho đến khi Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi) được Quốc hội thông qua và có hiệu lực.

    Đồng thời, tiếp tục áp dụng Nghị định số 15/2018/NĐ-CP làm cơ sở pháp lý trong giai đoạn chuyển tiếp.

    Nghị định 46 và Nghị quyết 66.13 sẽ được thay thế bằng văn bản quy định chi tiết hướng dẫn thi hành Luật An toàn thực phẩm mới, bảo đảm tính đồng bộ, nhất quán và hiệu quả.

    Đây là phương án được đa số doanh nghiệp và hiệp hội ngành hàng đồng thuận cao, phù hợp với thực tiễn và tránh tạo ra bất ổn pháp lý không cần thiết.

    Về xử lý khẩn cấp các vướng mắc trước mắt, trong trường hợp Chính phủ quyết định tiếp tục áp dụng Nghị định 46 và Nghị quyết 66.13 sau ngày 15/4/2026, VCCI kiến nghị Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo các bộ, ngành khẩn trương xử lý một số nội dung.

    Trong đó bao gồm, khôi phục cơ chế miễn thủ tục công bố và kiểm tra nhà nước đối với nguyên liệu, phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến, bao bì và dụng cụ tiếp xúc trực tiếp với thực phẩm chỉ dùng để sản xuất nội bộ, không tiêu thụ tại thị trường trong nước.

    Công nhận giá trị tương đương của các chứng nhận quốc tế còn hiệu lực như FSSC 22000, HACCP, ISO 22000, BRC, IFS thay thế cho Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm; cho phép doanh nghiệp có chứng nhận quốc tế tiếp tục sử dụng cho đến khi hoàn tất thủ tục xin cấp giấy chứng nhận mới.

    VCCI cũng kiến nghị cho phép áp dụng cơ chế thông quan trước – kiểm tra sau đối với các lô hàng nhập khẩu của doanh nghiệp có lịch sử tuân thủ tốt; cho phép đưa hàng về kho doanh nghiệp hoặc kho ngoại quan để bảo quản trong thời gian chờ kết quả kiểm tra; quy định tổng thời gian kiểm tra bao gồm cả thời gian kiểm nghiệm để bảo đảm tính minh bạch và khả năng dự liệu cho doanh nghiệp.

    Cần sớm ban hành hướng dẫn thống nhất về thẩm quyền cơ quan kiểm tra nhà nước đối với từng nhóm thực phẩm nhập khẩu; ban hành danh mục các chứng từ được chấp nhận thay thế giấy chứng nhận an toàn thực phẩm đối với các sản phẩm thông thường mà nước xuất khẩu không cấp loại giấy tờ tương ứng.

    Về tăng cường năng lực thực thi, VCCI kiến nghị Chính phủ chỉ đạo đánh giá toàn diện năng lực hệ thống kiểm nghiệm thực phẩm quốc gia trước khi triển khai đầy đủ các quy định của Nghị định 46; xem xét công nhận kết quả kiểm nghiệm của các phòng thí nghiệm nội bộ của doanh nghiệp đạt chuẩn hoặc của các tổ chức chứng nhận quốc tế uy tín.

    Đồng thời, việc phân cấp quản lý cho địa phương cần đi kèm với bảo đảm đủ nguồn nhân lực, chuyên môn và hướng dẫn thực hiện thống nhất trước khi chính thức giao nhiệm vụ.

    Cú sốc giá xăng dầu và 'quân bài tẩy' Nghi Sơn, Dung Quất

    Thái Bình

    Thứ tư, 11/03/2026 

    Biến động giá xăng dầu cho thấy tăng dự trữ là cần thiết trong ngắn hạn, nhưng về dài hạn an ninh năng lượng đòi hỏi cần tính đến chuyển dần sang các nguồn năng lượng khác, đặc biệt là năng lượng tái tạo.

    Trao đổi với TheLEADER, TS. Lê Xuân Nghĩa, thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách của Thủ tướng Chính phủ, Viện trưởng Viện Tư vấn phát triển (CODE) phân tích các rủi ro từ biến động giá xăng dầu, vai trò của hai nhà máy lọc dầu Nghi Sơn, Dung Quất và những yêu cầu đặt ra đối với chiến lược an ninh năng lượng trong thời gian tới.

    Giá xăng dầu và giới hạn của dự trữ chiến lược

    Thưa ông, quan sát diễn biến biến động giá xăng dầu những ngày vừa qua, có ý kiến cho rằng Chính phủ cần tính lại kế hoạch xăng dầu gắn với an ninh năng lượng, đặc biệt là vấn đề tồn trữ. Quan điểm của ông về vấn đề này như thế nào?

    TS. Lê Xuân Nghĩa: Hiện nay dự trữ xăng dầu của Việt Nam so với các nước là khá thấp. Các nước thường dự trữ khoảng 90 ngày. Việt Nam tối đa chỉ khoảng 1 tháng và có những thời điểm còn xuống khoảng 20 ngày.

    Nhưng gần đây Chính phủ đã bắt đầu quan tâm nhiều hơn đến chuyện dự trữ xăng dầu và tìm các biện pháp tăng dự trữ. Trong giai đoạn rất ngắn vừa qua, chúng ta đã tăng dự trữ lên được khoảng 45 ngày.

    TS. Lê Xuân Nghĩa, thành viên Hội đồng tư vấn chính sách của Thủ tướng Chính phủ, Viện trưởng Viện Tư vấn phát triển. Ảnh: Hoàng Anh.

    Mỗi tháng Việt Nam cần khoảng 2,2 triệu tấn xăng dầu. Trong nước cung cấp được khoảng 60%, còn lại là nhập khẩu. Chính phủ đang quyết tâm đẩy dự trữ xăng dầu lên cao hơn, đạt được mức từ 2 tháng trở lên. Dự trữ nội địa của Việt Nam cũng có hạn, nguồn dầu khai thác phụ thuộc vào tài nguyên.

    Quan trọng hơn là phải thay đổi chiến lược năng lượng, hướng tới sử dụng nhiều năng lượng tái tạo, đặc biệt là điện gió, điện mặt trời, rồi điện hạt nhân. Cố gắng đưa năng lượng tái tạo đạt khoảng từ 15% trở lên. Đây là tiềm năng sẵn có của Việt Nam và có thể làm thay đổi cán cân năng lượng, bớt phụ thuộc vào năng lượng hóa thạch.

    Ông có thể phân tích rõ hơn những khó khăn khi phát triển năng lượng tái tạo hiện nay?

    TS. Lê Xuân Nghĩa: Vấn đề là vốn đầu tư. Vốn đầu tư năng lượng tái tạo có chi phí rất lớn. Mặc dù Việt Nam có sẵn nguồn gió, mặt trời thuộc loại khá của thế giới, nhưng chi phí đầu tư cho hệ thống phân phối, đầu tư cho tích năng – cả điện gió và điện mặt trời – như pin tích năng, rồi hồ tích năng thủy điện, đều là những đầu tư đòi hỏi thời gian và vốn lớn.

    Ví dụ, đầu tư một hồ tích năng cũng mất khoảng 5 năm, chi phí rất lớn. Đầu tư pin tích năng để điều hòa điện gió, điện mặt trời cũng đòi hỏi chi phí cao và công nghệ phải học tập từ bên ngoài.

    Chính phủ đặt vấn đề năng lượng là vấn đề số một hiện nay về mặt chiến lược. Không chỉ là tránh những rủi ro từ biến động toàn cầu mà còn là vấn đề tăng trưởng nhanh, bởi tăng trưởng nhanh thì rõ ràng cần nhiều năng lượng.

    Ngoài ra còn có những nhu cầu mới như trung tâm dữ liệu quốc gia, trung tâm dữ liệu của các ngành, rồi công nghệ AI… đều sử dụng một khối lượng năng lượng rất lớn. Vì vậy trong các đầu tư chiến lược hiện nay, trọng tâm quan trọng nhất vẫn là năng lượng.

    Theo ông, nên tiếp cận bài toán xăng dầu ra sao trong ngắn hạn và dài hạn?

    TS. Lê Xuân Nghĩa: Để giải quyết khủng hoảng xăng dầu, trong ngắn hạn hoặc tạm thời thì phải tăng dự trữ. Nhưng về dài hạn, vừa phải tăng dự trữ ở mức độ nhất định đối với năng lượng hóa thạch, vừa quan trọng hơn là chuyển sang năng lượng tái tạo.

    Dù tăng dự trữ hay chuyển sang năng lượng tái tạo, vấn đề quan trọng vẫn là vốn đầu tư.

    Muốn tăng được đầu tư, nhất là đầu tư của khu vực tư nhân cho năng lượng tái tạo giá điện phải thay đổi, phải dần dần tiếp cận giá thị trường. Tôi cho rằng, muốn tư nhân đầu tư thì phải là giá thị trường họ mới đầu tư.

    Nếu giá còn mang tính bao cấp rủi ro đầu tư rất lớn, họsẽ không đầu tư.

    Nhưng vì sao dù khuyến khích đầu tư, nhiều dự án năng lượng tái tạo vẫn gặp khó?

    TS. Lê Xuân Nghĩa: Tư nhân có thể đầu tư xây dựng nhà máy điện gió, điện mặt trời, nhưng quan trọng hơn Chính phủ phải đầu tư vào mạng lưới phân phối. Đầu tư vào mạng lưới phân phối là vấn đề rất lớn, lâu nay là gánh nặng của Tập đoàn Điện lực Việt Nam.

    Nhiều khi chúng ta cứ hỏi tại sao không mua, tại sao mua giá này giá kia, nhưng thực tế không phù hợp với công suất của mạng lưới phân phối hiện tại.

    Ngay cả ở Mỹ, họ tính toán đầu tư vào mạng lưới điện mỗi năm cũng chỉ tăng được khoảng 2%. Khi khuyến khích điện gió, điện mặt trời thì các dự án thường nằm xa trung tâm tiêu thụ, khiến mạng lưới phân phối phải kéo dài hơn, tốn kém hơn và kém hiệu quả hơn.

    Đây là nguyên nhân khiến khu vực tư nhân rất ngại đầu tư, điển hình như điện gió ngoài khơi, điện mặt trời ở Ninh Thuận, Bình Thuận, Bình Phước, nhưng tiêu thụ chủ yếu ở Đồng Nai, TP.HCM nên vận tải điện đường dài rất xa.

    Vậy vai trò của EVN và Nhà nước trong đầu tư hệ thống điện cần được nhìn nhận thế nào?

    TS. Lê Xuân Nghĩa: Muốn đầu tư vào năng lượng tái tạo trước hết phải tập trung đầu tư vào mạng lưới phân phối. Điều đó quay trở lại vấn đề EVN phải có vốn để đầu tư.

    EVN là tập đoàn quốc gia, nên Chính phủ phải tạo nguồn để họ đầu tư. Một là phải làm sao để EVN có lãi để tái đầu tư, tức là giá cả phải hợp lý, đảm bảo bù đắp chi phí và có lãi. Giá mang tính bao cấp như hiện nay ảnh hưởng rất lớn đến đầu tư của tập đoàn năng lượng.

    Hai là phải trông chờ vào nguồn đầu tư từ ngân sách cho hệ thống phân phối, với những dự án lớn mà ngân sách phải tài trợ. Trong hệ thống đó còn có tích năng, điều hòa áp, rất phức tạp về vốn, công nghệ và quản lý.

    Hiện nay có thể sử dụng quản lý số hóa, AI để tối ưu hệ thống, giảm chi phí phần nào, nhưng trước mắt vẫn phải có nguồn vốn rất lớn. Theo tính toán mỗi năm cho toàn bộ hệ thống điện cần khoảng 27 tỷ USD trong vòng 5 năm tới theo Quy hoạch điện VIII sửa đổi.

    Chính phủ vừa đề nghị Bộ Công thương chủ trì hoàn thiện Đề án thành lập Trung tâm lọc hóa dầu và năng lượng quốc gia tại Khu kinh tế Dung Quất trong tháng 3, hứa hẹn nhằm đáp ứng tối thiểu 30% nhu cầu xăng dầu cả nước. Ảnh: Petrovietnam.

    Nghi Sơn – Dung Quất: Giới hạn của an ninh xăng dầu

    Quay lại câu chuyện xăng dầu, ông đánh giá thế nào về vai trò của hai nhà máy lọc dầu Nghi Sơn và Dung Quất hiện hữu cũng như mở rộng?

    TS. Lê Xuân Nghĩa: Thực ra chúng ta chỉ có một khó khăn lớn là nhà máy lọc dầu Nghi Sơn.

    Chủ đầu tư nhà máy này chủ yếu là Kuwait và Nhật Bản, phần của Việt Nam không đáng kể. Kuwait đương nhiên ưu tiên sử dụng dầu của họ và thiết kế nhà máy theo công nghệ sử dụng dầu của họ. Chúng ta đã đàm phán để thay đổi nhưng họ kiên quyết không thay đổi. Vì vậy trước mắt chưa thể nói đến chuyện tái cấu trúc nhà máy này, buộc phải chấp nhận.

    Còn việc mở rộng Nhà máy lọc dầu Dung Quất đã có ý định mở rộng từ lâu nhưng phụ thuộc rất lớn vào nguồn dầu thô. Theo tính toán, nếu mở rộng thì nguồn dầu thô trong nước cũng không đủ, lại phải nhập khẩu.

    Nếu không có biến động địa chính trị thì có thể nhập dầu từ Venezuela hay Nga, nhưng hiện nay đang trong tình thế rất khó. Mở rộng mà không tự chủ được nguồn dầu nội địa thì cũng chỉ giải quyết được rất ít.

    Vì vậy, việc tái cấu trúc các nhà máy lọc dầu để đảm bảo an ninh năng lượng là rất khó. Hướng chính vẫn là tăng dự trữ và đầu tư vào năng lượng tái tạo.

    Trước đây các quy hoạch đã đặt mục tiêu dự trữ rất cao nhưng đến nay vẫn khó đạt. Theo ông, vấn đề cốt lõi nằm ở đâu?

    TS. Lê Xuân Nghĩa: Dự trữ thì phải có tiền. Phần lớn các tập đoàn kinh doanh xăng dầu hiện nay là quốc doanh, giá được Nhà nước quản lý theo hướng nới lỏng hơn trước nhưng vẫn không hoàn toàn theo giá thị trường.

    Vì vậy tích lũy của các tập đoàn xăng dầu không lớn, không có lãi lớn để tăng dự trữ. Cuối cùng vẫn là vấn đề ngân sách. Nếu Nhà nước giữ nguyên giá như hiện tại thì phải bỏ tiền ra bù lỗ và đầu tư. Không thể vừa muốn giá không theo thị trường, vừa muốn có đầu tư lớn.

    Xin cảm ơn ông!


    Không có nhận xét nào