Header Ads

  • Breaking News

    Trận đánh trên tỉnh lộ 7, từ ngày 21 tháng 3 đến ngày 25 tháng 3 năm 1975

     Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa - Vinh Danh Tưởng nhớ chiến sĩ anh hùng

    Trận đánh trên tỉnh lộ 7, từ ngày 21 tháng 3  đến ngày 25 tháng 3 năm 1975

    Bùi Anh Trinh

    Tại thị trấn Củng Sơn, quận Sơn Hòa

    Ngày 21-3,

    Lúc 4 giờ sáng, Liên đoàn 7 BĐQ tới Củng Sơn.

    Buổi sáng, ba ngàn người tị nạn xin được định cư tại Củng Sơn. Đây là những người Miền Núi sống tại khu vực LTL.7, họ không muốn di chuyển về đồng bằng, họ cho rằng VNCH sẽ giữ tỉnh Phú Yên cho nên họ xin ở lại Sơn Hòa.

    Lúc 5 giờ 30 chiều, theo tài liệu của Phạm Huấn : “4 trái bom của Không quân thả trúng vị trí phòng thủ của hai tiểu đoàn BĐQ có chiến xa bảo vệ. 4 chiến xa bị cháy, Biệt động quân thiệt hại rất nặng”.

    *( Có lẽ đoạn này Phạm Huấn viết theo tài liệu The Final Collapse của Tướng Cao Văn Viên vào ngày 20-3-1975 : “Trước mặt đoàn di tản là Phú Túc đã bị địch chiếm. Đoàn quân tiến chậm, vừa chống trả, vừa tiến đi. Không quân đến oanh kích nhưng không may, một trái bom rơi vào đoàn quân đi đầu gây thương vong gần 1 tiểu đoàn”( Bản dịch của Nguyễn Kỳ Phong ).

    Nhưng Tướng Viên viết theo báo cáo của Tham mưu trưởng Quân đoàn 2 Lê Khắc Lý. Mà Lê Khắc Lý thì báo cáo láo để giải thích tại sao không có đánh nhau mà quân VNCH tan rã. Đặc biệt không nói là tiểu đoàn nào của liên đoàn nào và tại đâu.

    Theo như tường thuật của Thiếu tá Kế Phan Văn Kế, Tiểu đoàn trưởng Tiều đoàn 58 BĐQ, thì sau khi có lệnh bỏ súng băng rừng vào chiều 18-3 thì chỉ có một trận đụng độ với quân du kích CSVN tại Chi khu Phú Túc vào sáng ngày 20-3 mà quân ta không bị thiệt hại gì cả. Kế từ lúc đó cho tới khi về Tuy Hòa thì các đơn vị BĐQ cũng không bị thiệt hại nào.

    Và rồi cho tới khi qua Mỹ, các Tiểu đoàn trưởng của 2 Liên đoàn 7 và Liên đoàn 4 BĐQ đã gặp lại Tướng Phạm Duy Tất và cho biết các tiểu đoàn BĐQ về tới Sài Gòn đầy đủ, không có tiểu đoàn nào bị thiệt hại ( Đỗ Sơn, Chuẩn tướng Phạm Duy Tất và Sự thật cuộc triệt thoái Quân đoàn II ).

    Tài liệu của Tướng Cao Văn Viên luôn luôn nói tới Liên đoàn 6 BĐQ là lực lượng chính bảo vệ đoàn di tản. Nhưng thực ra đó là Liên đoàn 7 BĐQ. Sở dĩ có chuyện lầm lẫn này là vì Tướng Viên căn cứ vào sách của Tướng CSVN Văn Tiến Dũng.

    Theo sách của VTD thì Tướng Phạm Duy Tất nói Liên đoàn 6 BĐQ đi sau cùng nên bảo vệ đoàn di tản tại Củng Sơn và mở đường từ Cũng Sơn về Tuy Hòa. Không biết là do Tướng Tất nhớ lầm hay sách của Văn Tiến Dũng viết sai. Thực ra Liên đoàn 4 BĐQ đi sau cùng, còn đi đầu là Liên đoàn 6 Công binh Kiến tạo, cùng với Thiết đoàn 19 Thiết kỵ. Và đơn vị BĐQ bảo vệ cho Liên đoàn 6 Công binh là Tiểu đoàn 34 BĐQ ( Của Liên đoàn 6 BĐQ ).

    Còn Liên đoàn 6 BĐQ lúc đó đang tăng phái cho Sư đoàn 22 BB để giữ phía Bắc của Tiểu khu Bình Định, hai tiểu đoàn 51 và 35 đóng tại đèo Bình Đê, ranh giới Bình Định và Quảng Ngãi. Trước đó nhiệm vụ này là của Liên đoàn 4 BĐQ, nhưng đến giữa năm 1974 thì hai liên đoàn hoán đổi cho nhau. Riêng Tiểu đoàn 34 còn kẹt lại tại làng Trung Nghĩa, trên Quốc Lộ 19 để bảo vệ Liên đoàn 20 Công Binh có nhiệm vụ duy tu cầu đường trên QL.19 ).

    Ngày 21-3,

    Hồi ký của Tướng CSVN Đặng Vũ Hiệp : “Ngày 21-3, các chiến sĩ Trung đoàn 64 ( Thuộc Sư đoàn 320 CSVN ) đuổi kịp lực lượng rút chạy trước của địch và vây diệt chúng ở Phú Túc” ( trang 431).

    Tướng Hiệp không nói rõ đuổi kịp như thế nào và vây diệt ra sao, kết quả như thế nào. Chứng tỏ chỉ là vào tiếp thu. So lại với lời kể của các sĩ quan Liên đoàn 7 BĐQ thì những người sau cùng của đoàn di tản đã cùng LĐ 7/BĐQ rời Phú Túc vào sáng sớm ngày 20-3.

    Đặc biệt những ghi chép của Tướng Hiệp ghi nhận Sư đoàn 320 nhận được lệnh đuổi theo đoàn di tản, nhưng chỉ có Tiểu đoàn 9 là đụng trận như thế nào, chiến công ra sao. Còn lại nguyên Sư đoàn 320 không thấy nói đụng trận nào cả. Vậy phải chăng sự thực Sư đoàn 320 CSVN chỉ có Trung đoàn 9 và Tiểu đoàn 9 thuộc Trung đoàn 64? Bởi vì sau vụ đó cho đến hết cuốn sách chỉ thấy nói về Trung đoàn 9 và Tiểu đoàn 9 của Sư đoàn 320 CSVN.

    Trung đoàn 9 của Sư đoàn 320 CSVN là Trung đoàn còn nguyên vẹn sau trận Pleime vào tháng 7 và tháng 8 năm 1974. Theo hồi ký của Tướng CSVN Đặng Vũ Hiệp thì trong trận đánh Ban Mê Thuột, Trung đoàn 9 CSVN được giao nhiệm vụ chốt chận tại Thuần Mẫn ( Ranh giới Pleiku và Darlac ), còn hai trung đoàn 64 và 48 không giao nhiệm vụ gì. Đặc biệt Tiểu đoàn 9 của Trung đoàn 64 ( Có Tham mưu trưởng sư đoàn đi theo ) thì được giao nhiệm vụ chốt chận giữa Thuấn Mẫn và Hậu Bổn, cách Hậu Bổn 7 cây số

    Ngày 22-3,

    Lúc 8 giờ sáng, BCH Liên đoàn 7 BĐQ được trực thăng bốc về Nha Trang. Tiểu đoàn 58 của Liên đoàn 7 nhận được lệnh băng đồng về Tuy Hòa, cách Củng Sơn khoảng 30 cây số đường chim bay.

    Lúc 3 giờ chiều, theo Phạm Huấn: “Cựu Trung tướng Mỹ Timmes, một nhân vật cao cấp của CIA tới BTL Quân đoàn 2, thảo luận với Tướng Phú về tình hình Khánh Dương và Nha Trang (?)”. Thiếu tá Phạm Huấn không hiểu Tướng Timmes có ý đồ gì cho nên ông đặt một dấu hỏi. Tuy nhiên thời điểm Timmes tới Nha Trang là sau khi mặt trận Khánh Dương bị tràn ngập vào lúc 8 giờ sáng ngày hôm đó.

    Ngày 23-3,

    Qua khỏi Củng Sơn, LTL.7 tiếp tục chạy tới Quốc lộ 1 bên tả ngạn sông Ba. Tuy nhiên theo Tướng Cao Văn Viên thì có một đoạn đường trên LTL.7 tại Cũng Sơn đã bị quân Đại Hàn gài mìn sau khi họ rút đi từ năm 1972, cho nên BCH hành quân quyết định lập cầu phao băng qua bờ hữu ngạn sông Ba để theo Hương lộ 436 về Tuy Hòa.

    Lúc 10 giờ 30 sáng, Tướng Phú bay ra Phú Yên để theo dõi việc vận chuyển vật liệu lập cầu phao qua sông.

    Lúc 4 giờ 15 chiều, cầu vượt sông đã hoàn thành được 95%.

    Ngày 24-3,

    Lúc 9 giờ 30, cầu vuợt sông Ba đã lắp xong, đoàn di tản bắt đầu vượt sông và theo hương lộ 436 để về Tuy Hòa. Tướng Phạm Duy Tất sử dụng một số đơn vị còn lại thuộc Liên đoàn 7 và Liên đoàn 4 BĐQ để làm lực lượng bảo vệ an ninh cho đoàn di tản.

    Tuy nhiên quân du kích địa phương đã nhận được lệnh tấn công quấy rối đoàn di tản. Cách đoàn di tản 4 cây số là đồn 42 của Đại Hàn cũ, quân du kích CSVN đã chiếm đồn đó làm chốt chận đoàn xe.

    Buổi sáng, hai phi tuần A.37 với 8 trái bom CBU dự trù thả xuống chốt 42 không thực hiện được vì thời tiết xấu ( Mây mù thấp ).

    Lúc 1 giờ trưa, quân BĐQ xung phong nhổ chốt 42 nhưng thất bại.

    Lúc 5 giờ chiều, 10 phi tuần A.37 thả bom CBU và Napaln xuống chốt 42 và các chốt kế cận. Các đơn vị du kích CSVN của tỉnh đội Phú Yên bị đánh tan, đoàn di tản tiếp tục lên đường.

    *Chú giải : Sở dĩ phi cơ A.37 tiêu diệt các chốt dễ dàng nhờ họ biết được quân du kích Phú Yên không có súng phòng không hay hỏa tiễn SA.7 cho nên họ bay sát mục tiêu và thả bom chính xác.

    Cũng theo Phạm Huấn, để thực hiện chính xác phi vụ ném bom, các phi công đã nghiên cứu chiến kỹ chiến thuật tấn công trước khi cất cánh, họ chia nhau một số phi cơ làm động tác giả, nhào lộn xuống trước để đánh lạc hướng phòng không của địch, trong khi những chiếc khác theo sau mới thực sự cắt bom.

    Buổi tối, đoàn di tản đến được đồi Hòn Kén là nơi có 1 tiểu đoàn ĐPQ của Tiểu khu Phú Yên trấn giữ.

    Ngày 25-3,

    Lúc 1 giờ trưa, đoàn xe đầu tiên đến Tuy Hòa là 13 chiếc M.113 của Chi đoàn 3 thuộc Thiết đoàn 3 Kỵ binh. Sau đó đoàn xe nhận được lệnh trở lại để giữ an ninh cho đoạn cuối của đoàn di tản.

    Lúc 5 giờ 30 chiều, đoàn di tản về đến thành phố Tuy Hòa.

    BÙI ANH TRINH

    CÁC TRẬN ĐÁNH NĂM 1975, (28) TRẬN LIÊN TỈNH LỘ 7, NHỮNG LỜI BỊA ĐẶT TỒI BẠI

    Trích sách “Giải Mã Những Bí Ẩn của Chiến Tranh Việt Nam” của Bùi Anh Trinh

    Đại tướng Cao Văn Viên viết :

    “Lẽ ra Tướng Phú phải bàn thảo kế hoạch với ban tham mưu và trực tiếp chỉ huy cuộc triệt thoái từ lúc bắt đầu cho tới khi kết thúc”. ( Bản dịch của Nguyễn Kỳ Phong )

    Đại tướng nói mà quên coi lại tài liệu cũng do ông ta viết : Nếu Tướng Phú và bộ tham mưu bám theo cuộc di quân từ đầu đến cuối thì chắc chắn tại Quốc lộ 21 Tướng Lê Trung Tường đã bị quân CSVN đánh tan tại Phước An từ chiều ngày 15-3. Và đến khuya hôm đó thì chiến xa của CSVN đã làm chủ Nha Trang bởi vì từ Phước An tới Nha Trang chỉ còn có duy nhất 1 Tiểu đoàn ĐPQ ( Khoảng 500 người ) chốt tại Khánh Dương mà thôi.

    Tướng Viên vô tình hoặc cố tình không thấy ra là có tới hai mặt trận cùng một lúc, một mình Tướng Phú không thể phân thân chỉ huy cả hai mặt trận cho nên ông ta phải chia thành hai bộ chỉ huy, chính Tướng Phú lãnh mặt trận Ban Mê Thuột là điểm nặng nhất, còn Tư lệnh phó là Tướng Trần Văn Cẩm lãnh phần nhẹ hơn; tức là đưa 5 Trung đoàn BĐQ, 1 trung đoàn Pháo binh, 2 trung đoàn Thiết giáp đi “đổi gió” tại Duyên hải.

    Từ ngày bắt đầu cho tới ngày cuối của cuộc di tản trên LTL.7 thì Tướng Phú đang chỉ huy mặt trận Quốc lộ 21 với quân số của địch là 4 sư đoàn ( Khoảng 40.000 người ), trong khi trong tay ông chỉ có Sư đoàn 23 là lực lượng chống trả duy nhất.

    Nhưng ngay từ đầu Trung đoàn 53 bị kẹt lại Phi trường Phụng Dực, không điều động được. Còn Trung đoàn 45 và Trung đoàn 44 thì đã tan hàng sau khi được trực thăng vận xuống Phước An. Cả sư đoàn hơn 10.000 người đến ngày 17-3 chỉ còn 548 người mà không đụng trận nào cả. Rồi đám tàn binh này, kể cả Chuẩn tướng Lê Trung Tường, đã không giúp gì được cho Tướng Phú; mà trái lại, còn bắt ông phải để tâm lo cứu họ từ Ban Mê Thuột về nơi an toàn.

    Suốt thời gian từ 15 cho tới 18-3 Tướng Phú phải chỉ huy mặt trận Quốc lộ 21 với 1 tiểu đoàn ĐPQ duy nhất ( 377 người ) để ngăn cản bước tiến của 4 sư đoàn địch ( Khoảng 40.000 người ). Thế mà ông đã thành công, giữ vững chốt Khánh Dương trước khi quân Dù khóa đèo M’Drak vào ngày 20-3.

    Và rồi tới sáng ngày 18-3, chính Bộ TTM của Tướng Viên đã cho Tướng Phú một tin dõm rằng Sư đoàn 320 CSVN đã đuổi kịp đoàn di tản. Trong khi đó Bộ tham mưu Quân đoàn II của Lê Khắc Lý biến mất không kèn không trống, Tướng Phú phải đích thân bay lên Phú Bổn tìm bốc Lê Khắc Lý và 13 sĩ quan tham mưu đầu não của Quân đoàn II (sic).

    Rồi từ đó ông đích thân chỉ huy cả hai mặt trận cho tới ngày 24-3 là ngày đoàn di tản về tới Tuy Hòa. Kết tội ông không chỉ huy, không theo dõi đoàn di tản là một điều vô cùng tàn tệ.

    Thiếu tá Phạm Huấn viết :

    “Tin Quân đoàn 2 “di tản chiến thuật” bay đi nhanh chóng. Mọi người, mọi giới hoang mang tột độ. Tôi tưởng rằng sau đó Tướng Phú sẽ bay trở lại Pleiku. Nhưng… không! “…Sự việc này làm tôi không thể hiểu nổi. Tôi nghĩ rằng Tướng Phú là người chịu trách nhiệm nặng nề nhất về sự thảm bại sau đó của cuộc rút quân”… ( trang 126 ).“Và sáng hôm nay, ông đã bỏ đi như một người chạy trốn, một cấp chỉ huy vô trách nhiệm” ( trang 127 ).

    Dò theo những trang sách sau đó, cũng do chính Phạm Huấn viết, để tìm hiểu xem Tướng Phú làm gì sau khi rời khỏi Pleiku sáng hôm đó :

    Ngày 15-3,

    “11 giờ 45 phút, sau những cái lệnh cho Bộ tham mưu Quân đoàn và Tướng Tất, Tướng Phú bay về Nha Trang”. ( trang 125 ). Suy ra khoảng 1 giờ trưa thì Tướng Phú đến Nha Trang.

    Lúc 15 giờ 30 : “Và ông ghé sát tai tôi : Anh gặp riêng Chuẩn tướng Tường nói nguyên văn lệnh của tôi : Lệnh của Tổng thống, rút bỏ Phước An, mang quân về phòng thủ tuyến Khánh Dương càng sớm càng tốt” ( trang 126 ). Nghĩa là Tướng Phú nhận được lệnh của Tướng Thiệu ngay sau khi ông tới Nha Trang.

    Lúc 15 giờ 55 : “Sau khi kín đáo chuyển đạt lệnh của Tướng Phú cho Chuẩn tướng Lê Trung Tường, Tư lệnh Sư đoàn 23 Bộ binh, tôi tìm gặp Đại tá Trịnh Tiếu….Đại tá Tiếu cho biết, với những tin tức tình báo xác thực nhất, hiện có 4 sư đoàn Cọng sản Bắc Việt trong vùng. Đó là các sư đoàn F.10, 320, 968, 316 và các trung đoàn pháo, chiến xa, phòng không. Trong khi đó lực lượng của ta ở cả hai mặt trận phước An và quanh thị xã Ban Mê Thuột chưa tới một sư đoàn, không chiến xa, không pháo binh 155 ly yểm trợ…” ( trang 127 ).

    “Mặt trận Phước An sẽ bị địch “bứt” bất cứ lúc nào, có thể là đêm nay…” ( trang 128 )

    Vậy thì đêm đó, đêm 15-3, Tướng Phú còn lòng dạ đâu để trở về Pleiku ? Và nếu ông trở lại Pleiku thì chỉ tổ dẫm chân Tướng Cẩm và Đại tá Lý bởi vì ông đã giao khoán mặt trận LTL 7 cho hai ông. Còn ông và Chuẩn tướng Lê Văn Thân phải lo tập trung giải quyết mặt trận Quốc lộ 21 ( Ban Mê Thuột – Phước An – Khánh Dương – M’Drak ) với 40.000 quân CSVN từ Ban Mê Thuột đang tràn xuống.

    Ngày 16-3 :

    – “lúc 9 giờ sáng, tôi cùng Tướng Phú bay đi Phước An”, ( trang 129 ).

    Lúc 10 giờ 40 : “trực thăng Tướng Phú đáp xuống Phước An, Tướng Tường trình bày tình hình vô cùng nguy ngập. Cộng quân với chiến xa đã tấn công đoàn quân tăng viện lúc 10 giờ”.( trang 129 ).

    Lúc 11 giờ : “Tướng Phú bay trở lại Nha Trang, ông ra lệnh cho Đại tá Lý Bá Phẩm, Tỉnh trưởng kiêm Tiểu khu trưởng Nha Trang phải đích thân lên chỉ huy mặt trận Khánh Dương” ( Quận Khánh Dương thuộc tỉnh Khánh Hòa, giáp giới với Phước An ). ( trang 129 ).

    Lúc 13 giờ : “một tin chấn động, tướng Tường bị thương ở cầu 31 gần Khánh Dương được trực thăng chở thẳng về Quân y viện Nha Trang” ( trang 130 )..

    Lúc 13 giờ 30, “ông vào Quân y viện thăm Tướng Tường để biết tình hình xác thực” ( trang 130 ).

    Lúc 14 giờ : “Tướng Phú bay lên Phước An chỉ huy Sư đoàn 23 Bộ binh” ( trang 132 ).

    Lúc 14 giờ 30 : “Tướng Phú bay chỉ huy mặt trận Phước An…. Phi cơ quan sát nhìn rõ các chiến xa địch di chuyển và cho tọa độ chính xác. Phi tuần phản lực đầu tiên từ Phan Rang bay lên đã bắn cháy 2 T.54 của địch…” ( trang 133 ).

    Lúc 15 giờ 40 phút : “Tướng Phú đề cử Đại tá Nguyễn Văn Đức ( Lê Hữu Đức ) xử lý thường vụ Tư lệnh Sư đoàn 23 Bộ binh” ( trang 133 ). Lúc này cả sư đoàn 23 BB quân số hơn 10.000 người chỉ còn khoảng 600 “tàn binh”.

    Vậy thì trong ngày 16 nàyTướng Phú có nên trở lại Pleiku hay không? Và để làm gì?

    Ngày 17-3,

    Lúc 9 giờ 30 sáng, “Đại tá Hoàng Thọ Nhu, Tỉnh trưởng Pleiku gọi về Nha Trang trình với Tướng Phú thì tình hình có rối loạn nhưng không ở múc độ trầm trọng… đoàn xe hơn 4.000 chiếc đã di chuyển” ( trang 142 )

    Lúc 10 giờ 15 phút sáng : “liên lạc lần cuối cùng giữa Tư lệnh Quân đoàn II và Tướng Cẩm tại Pleiku bằng STS-106” ( trang 143 ).

    Lúc 10 giờ 50 phút sáng : “Tổng thống Thiệu gọi ra lệnh giải tỏa gấp rút mặt trận Khánh Dương và Quốc lộ 21 bằng mọi giá…” ( trang 144 ).

    Lúc 13 giờ 40 trưa : “Tổng thống, Hội đồng nội các, và các tướng lãnh khen ngợi Tư lệnh và Bộ tư lệnh Quân đoàn II về cuộc rút quân” ( trang 144 ).

    Lúc 18 giờ 15 tối : “Đại tá Tham mưu trưởng báo cáo về tình hình Phú Bổn. Đã tổ chức, phân loại xe quân đội và dân sự. Ra lệnh cho các đơn vị không được tự ý tách rời đoàn xe đi riêng” ( trang 144 )..

    Vậy thì trong ngày 17 này Tướng Phú có nên trở lại Pleiku hay không? Trong khi Đại tá Tham mưu trưởng và Bộ tham mưu Quân Đoàn đã báo cáo là đoàn di tản đã về tới Phú Bổn vô sự và trong tình trạng kiểm soát được.

    Sang đến sáng hôm sau, ngày 18, thì đích thân Tướng Phú lên Phú Bổn để liên lạc với Tướng Cẩm và Tướng Tất. Đến chiều thì ông trở lại Phú Bổn để bốc toàn bộ Bộ tham mưu Quân đoàn 2 về Tuy Hòa. Và từ đó ông trực tiếp chỉ huy cả hai mặt trận cho tới khi đoàn di tản về đến Tuy Hòa ( Ngày thứ 10 ).

    Thế mà Đại tướng Cao Văn Viên và Thiếu tá Phạm Huấn đã cố tình để cho người đời nghĩ rằng Tướng Phú đã trốn tại Nha trang từ đầu chí cuối trong khi cuộc di tản trên LTL.7 không có ai chỉ huy. Tướng Viên là cấp chỉ huy trực tiếp của Tướng Phú, Thiếu tá Huấn là đệ tử cật ruột của Tướng Phú (sic). Cả hai cùng lên tiếng chê trách Tướng Phú thì ai mà không tin ?

    Đại tá Trưởng phòng Tình báo quân đội Mỹ tại Sài Gòn William Legro viết :

    “…lý do gần nhất của sự thất bại trong cuộc di tản là vị tư lệnh Quân đoàn đã không quan tâm tới ước lượng tình báo, và không sử dụng đúng lực lượng cơ hữu trong trận đánh Ban Mê Thuột …. Cũng như cuộc triệt thoái tồi dở theo đường 7.B. Ông ta ( Tướng Phú ) đã đưa đất nước tuột xuống một mặt dốc mà sự dũng cảm của hằng ngàn sĩ quan, binh sĩ VNCH không thể nào cứu vãn được ( Legro, Vietnam from Cease-Fire to Capitulation, trang 170. Chính Đạo dịch ).

    Trong khi đó chính Legro chuyển tin cho Tổng Thống Thiệu là quân CSVN sẽ đánh Pleiku chứ không đánh Ban Mê Thuột. Rồi sáng 18-3 cũng chính Legro chuyển cho Bộ TTM tin động trời :

    “Các đơn vị du kích CSVN tập trung được một số súng cối tại Tây Nam Hậu Bổn. Sẽ pháo đoàn xe từ Phú Thiện đến Tây Nam Hậu Bổn. Nếu thành công sẽ tiến dần về phía Nam, tiếp tục pháo, chặt đứt đoàn xe thành nhiều đoạn, làm trì trệ cuộc rút lui, chờ quân Bắc Việt tới… …Đêm qua Sư đoàn 320 CSVN đã bỏ mật trận Bắc Ban Mê Thuột tiến về Phú Bổn”.

    Chính tin này đã khiến chiều 18-3 Tướng Phú quyết định cho quân VNCH bỏ súng băng rừng để tách lính ra khỏi dân, tránh thảm họa như tại Đại Lộ Kinh Hoàng năm 1972. Trong khi sự thực hồi ký của tướng CSVN Đặng Vũ Hiệp, Bí thư quân ủy Mặt trận Tây Nguyên, cho thấy 1 tiểu đoàn của Sư đoàn 320 đã vào tiếp thu Phú Bổn sau khi quân VNCH đã rút đi hết vào chiều ngày 18-3, chẳng có bắn 1 trái đạn pháo nào.

    Đây là tất cả lý do tại sao cuộc triệt thoái bị thất bại. Hoàn toàn là do bàn tay đen đúa của Legro !

    BÙI ANH TRINH


    Không có nhận xét nào