Nguyễn Văn Tuấn/Úc Châu
25/4/2026
“...Nhà văn Nguyễn Đình Toàn đã viết ra một bài hát mà giá trị vượt xa giá trị của một ca khúc thông thường. Ông đã tạo nên một chứng từ về một thời đại, một tấm bia tưởng niệm bằng âm thanh cho một Sài Gòn đã mất, và một không gian cảm xúc nơi mà hàng triệu người Việt Nam khắp thế giới có thể gặp nhau, chia sẻ cùng một nỗi nhớ, cùng một niềm đau”.
Nhà văn Nguyễn Đình Toàn (1936 – 2023)
Tôi nghe ca khúc này lần đầu tiên qua giọng ca Khánh Ly trong một trại tị nạn ở Thái Lan. Chỉ nghe qa lời nhạc thôi mà đã thấy như tác giả viết dùm mình. Khi nghe câu mở đầu “Sài Gòn ơi, ta mất người như người đã mất tên“, tôi bỗng hiểu ra rằng mình đã mất một thứ gì đó mà bấy lâu nay tôi chưa biết gọi tên. Đó cũng là cảm giác chung của hàng triệu người Việt Nam sau biến cố lịch sử. Và đó cũng là lí do tại sao trong hàng trăm ca khúc viết về Sài Gòn và về nỗi nhớ quê hương sau 1975, “Sài Gòn niềm nhớ không tên“ [1] được xem là ca khúc hay nhứt ở hải ngoại.
Nhà văn Nguyễn Đình Toàn
Trước khi bàn về ca khúc, thiết nghĩ cần phải nói đôi điều về tác giả. Nhà văn Nguyễn Đình Toàn sanh năm 1936 tại Gia Lâm, Hà Nội. Ông di cư vào Nam năm 1954. Ở trong Nam ông trở thành một trong những cây bút quan trọng của văn học miền Nam giai đoạn 1954-1975. Tác phẩm “Áo mơ phai“ của ông được trao Giải Văn Học Nghệ Thuật năm 1973, một giải thưởng có uy tín bậc nhứt thời VNCH. Ông còn là người dẫn chương trình nổi tiếng của đài phát thanh Sài Gòn, với chương trình “Nhạc chủ đề” mà nhiều thế hệ thính giả vẫn còn nhớ đến giọng đọc trầm ấm, sâu lắng của ông [2].
Nguyễn Đình Toàn là một người đa tài. Trong bộ sách Văn Học Miền Nam, Võ Phiến dành hai chương viết về ông: một Nguyễn Đình Toàn là nhà văn, và một Nguyễn Đình Toàn nhà thơ. Nhà phê bình Võ Phiến nhận xét rằng thơ của Nguyễn Đình Toàn viết toàn sự thật, sống sao viết vậy. Có lẽ phản ảnh đời thường, nên thơ của ông không có những vần điệu hay tuân theo qui luật. Ông thuộc thế hệ những người cầm bút mà âm nhạc chỉ là một phần mở rộng của văn chương, một cách khác để nói lên những điều mà ngôn từ văn học chưa nói hết được. Chính vì vậy, ca từ trong các ca khúc của ông mang tính văn học rất cao, đầy chất thơ, giàu hình ảnh, và có chiều sâu triết lí mà ít ca khúc phổ thông nào có được.
Sau 30/4/1975, Nguyễn Đình Toàn bị bắt đi ‘cải tạo’. Ông bị giam giữ 6 năm trời trong các trại cải tạo [2]. Sau khi được trả tự do, ông tiếp tục sống ở Sài Gòn thêm một thời gian rồi sang Mĩ định cư vào năm 1998 theo chương trình H.O. Ông mất năm 2023 tại Nam California, thọ 87 tuổi.
Khoảng năm 1998, tôi có dịp gặp ông ở Nam California, không lâu sau khi ông sang Mĩ định cư. Ấn tượng đầu tiên của tôi về ông là một người hiền lành, ít nói. Trong buổi trò chuyện, ông thường chỉ lặng lẽ ngồi nghe bạn bè bàn luận, hầu như không góp lời. Khi có người hỏi về những năm tháng trong trại tù cải tạo, ông cũng không kể nhiều. Ông chỉ nhắc đến một lần nhà văn Nguyễn Tuân được đưa vào giảng bài cho tù nhân. Nhưng khi bước lên bục, Nguyễn Tuân không nói gì cả. Ông chỉ nhìn xuống, nhìn quanh, rồi khi thấy một con bướm bay ngang, ông lặng lẽ đuổi theo nó và… biến mất. Nhà văn Nguyễn Đình Toàn sau đó diễn giải hành động đó rằng Nguyễn Tuân có lẽ chẳng biết phải nói gì. Trước mặt ông là những đồng nghiệp văn nghệ sĩ, có người tài năng, học vấn và danh tiếng còn hơn ông, nay đang chịu cảnh khổ cực. Trong hoàn cảnh đó, ông còn có thể nói gì, và làm sao dám đứng đó để “giảng” cho họ nghe?
Sài Gòn niềm nhớ không tên
“Sài Gòn niềm nhớ không tên“ ra đời trong một hoàn cảnh đặc biệt. Thoạt đầu, ông đặt tên cho ca khúc là “Nước mắt cho Sài Gòn” và kí tên là Hồng Ngọc. Theo những gì Nguyễn Đình Toàn kể lại trong các buổi phỏng vấn sau này, ca khúc được sáng tác vào khoảng cuối thập niên 1970, tức là vài năm sau biến cố 30/4/1975. Lúc đó, Sài Gòn đã bị đổi tên, và thành phố đã khoác lên mình một bộ mặt khác.
Nguyễn Đình Toàn viết ca khúc này trong lúc ở tù, như là một chứng nhân của sự biến mất từng ngày của một Sài Gòn thân thuộc. Đây là một chi tiết quan trọng mà tôi muốn nhấn mạnh. Rất nhiều ca khúc viết về Sài Gòn sau 1975 được sáng tác ở hải ngoại, bởi những người đã rời xa thành phố. Nỗi nhớ của họ, dù chân thành và sâu sắc, vẫn là nỗi nhớ từ xa, nỗi nhớ qua kí ức đã được thời gian và khoảng cách định hình lại. Còn nỗi nhớ của Nguyễn Đình Toàn là nỗi nhớ của người đang nhìn thấy từng ngày sự biến mất của một nền văn hóa, một cách sống, một Sài Gòn mà ông yêu thương. Đó là một ca khúc có sức nặng của một chứng từ, chớ chẳng phải chỉ là một khúc ca hoài niệm thông thường.
Ca khúc được ông viết và lưu giữ trong bí mật. Theo một số tư liệu, ca khúc được lén đưa ra nước ngoài qua những người vượt biên, và lần đầu được thu âm ở hải ngoại qua giọng hát của ca sĩ Jeannie Mai (con gái của Nhạc sĩ Lê Hựu Hà) vào năm 1978 ở Pháp. Tuy nhiên, ca khúc được biết đến rộng rãi hơn sau đó qua tiếng hát Khánh Ly, trong băng nhạc “Người Di Tản Buồn” phát hành năm 1979. Từ đó, bài hát lan truyền trong cộng đồng người Việt ở khắp nơi trên thế giới và nhanh chóng trở thành một trong những ca khúc tiêu biểu nhứt của dòng nhạc hải ngoại, mặc dù nó được viết từ trong nước.
“Sài Gòn ơi”
Điều làm tôi nhớ và yêu ca khúc này là lời ca. Nếu chú ý kĩ, tác giả bắt đầu ca khúc với ba chữ ‘Sài Gòn ơi!’ và được nhắc đi nhắc lại đến sáu lần trong bài hát! Đó rõ ràng là một chọn lựa có chủ đích. Cách thêm chữ “ơi” sau một cái tên là cách gọi tha thiết nhứt, và cũng có khi đau đớn nhứt. Mẹ ơi. Em ơi. Sài Gòn ơi. Chữ “ơi” biến một danh từ riêng chỉ địa danh thành một lời gọi hướng về một thực thể sống, một con người, một ai đó có thể nghe được tiếng mình. Khi Nguyễn Đình Toàn viết “Sài Gòn ơi”, ông đang gọi Sài Gòn như gọi một người thân hay một người bạn đã khuất vậy.
Hãy để ý cách sáu tiếng gọi ấy xuất hiện. Lần thứ nhứt mở đầu bài hát: “Sài Gòn ơi / Ta mất người như người đã mất tên“. Lần thứ hai mở ra khung cảnh thành phố xưa: “Sài Gòn ơi / Đâu những ngày khi thành phố xôn xao“. Lần thứ ba gợi nhớ mưa mùa và tình yêu: “Sài Gòn ơi / Đâu những ngày mưa mùa khoác áo đi“. Lần thứ tư khóc cho nền văn nghệ đã mất: “Sài Gòn ơi / Thôi hết rồi những ngày hát bên nhau“. Lần thứ năm trở lại với nỗi mất mát: “Sài Gòn ơi / Ta mất người như người đã mất tên / Như hàng cây lá đỏ trông tìm“. Và lần thứ sáu, lần cuối cùng, như một lời vĩnh biệt: “Sài Gòn ơi / Ta mất người như người đã mất tên / Như mộ bia đá lạnh hương nguyền“.
Sáu tiếng gọi đó tạo nên cấu trúc của bài hát. Mỗi lần “Sài Gòn ơi” vang lên, người nghe biết rằng đó là một lớp kí ức mới sắp được mở ra. Nhưng đó cũng là sáu lần người viết phải dừng lại, hít một hơi thở sâu, rồi mới tiếp tục câu chuyện của mình. Nó giống như cách một người đang khóc mà cố kể một câu chuyện: cứ nói được vài câu lại phải dừng lại, gọi tên người đã mất, rồi mới kể tiếp được. Cấu trúc này tạo hiệu ứng của một vòng lặp cảm xúc, như người đi trong mê cung cứ quay lại cùng một chỗ. Dù có nhớ về mưa mùa, về hàng me, về quán nhạc, về Khánh Ly, về Phạm Duy, thì rốt cuộc vẫn trở về cùng một câu: ta mất người. Nỗi mất mát ấy là trung tâm, là trọng lực, và mọi kí ức đẹp đẽ đều bị kéo về phía nó.
Thật ra, Sài Gòn đâu có mất; Sài Gòn vẫn còn đó. Nhưng cách gọi “Sài Gòn ơi” trong ca khúc có lẽ mang một ý nghĩa thầm lặng khác. Vào thời điểm bài hát được viết, cái tên “Sài Gòn” đã chánh thức bị xóa bỏ, nên việc gọi “Sài Gòn ơi” là một hành vi vừa hoài niệm vừa riêng tư vừa mang tính tuyên ngôn. Mỗi lần gọi “Sài Gòn ơi” là một lần khẳng định rằng cái tên ấy vẫn sống, vẫn tồn tại trong lòng người, dù đã bị xóa trên bản đồ.
■ “Còn gì đâu“: điệp khúc của một nỗi mất mát
Nếu phải chọn một cụm từ làm linh hồn của bài hát, tôi sẽ chọn ba chữ “còn gì đâu“. Ba chữ này được tác giả nhắc đi nhắc lại đến 4 lần trong bài hát. Nó giống như một tiếng thở dài từ tận đáy lòng. Nó cũng có thể xem như là một câu trả lời cho tất cả những câu hỏi mà bài hát đặt ra.
Lần đầu là sau khi nhắc về “những ngày thành phố xôn xao, trong niềm vui tiếng hỏi câu chào, sáng đời tươi thắm vạn sắc màu“: “Nay còn gì đâu“.
Lần thứ hai xuất hiện sau khi nhắc về “Phạm Duy với tình ca sầu, mắt lệ rơi khóc thuở ban đầu“: “Còn gì đâu“.
Lần thứ ba sau khi nhắc về “thời âu yếm xa xưa“: “Nay còn gì đâu“. Và lần cuối cùng, như một lời kết của cả bài hát: “Còn gì đâu“.
Một nhà văn khác có thể viết “mất hết rồi”, “tan hoang hết rồi”, “chẳng còn gì hết”, những câu mang tính khẳng định mạnh mẽ của sự tuyệt vọng. Nhưng tác giả chọn “còn gì đâu“, một câu hỏi mà thực ra là một câu than vãn. Đó là ngôn ngữ của người đã đi qua đau khổ và đến được bờ bến của sự chấp nhận, nhưng vẫn đau, vẫn nhớ, vẫn thấm. Mỗi lần “còn gì đâu” vang lên, người nghe lại thấy thêm một lớp mất mát được bóc tách ra.
“Sài Gòn ơi / Ta mất người như người đã mất tên”
Tôi thích câu mở đầu này vì nó phù hợp với tâm trạng cá nhân (và chắc cũng của hàng triệu người). Tôi đoán “Mất người” ở đây mang nhiều ý nghĩa. Nó là mất đi một người yêu dấu, như người ta vẫn hay nói về một tình yêu đã qua. Nhưng “người” cũng là cách gọi thân mật cho chính thành phố Sài Gòn, được nhân cách hóa thành một người tình, một người bạn, một người thân. Và “người” còn là tất cả những con người của Sài Gòn xưa, những người đã rời đi, đã nằm xuống, đã biến mất trong cuộc đổi thay lịch sử.
Cấu trúc ví von “ta mất người như người đã mất tên” cũng đáng suy nghĩ. Việc mất một người nào đó được so sánh với việc người ấy mất đi chính cái tên của mình. Sài Gòn đã mất tên thật, bị đổi thành một cái tên khác, và cùng với việc mất tên ấy là sự mất đi của một bản sắc, một linh hồn, một cách hiện hữu. Khi một thành phố mất tên, nó vẫn còn đó về mặt địa lí, nhưng nó đã khác rồi, nó đã thuộc về một thế giới khác.
Những câu tiếp theo triển khai nỗi mất mát ấy qua những hình ảnh đầy chất thơ:
Như dòng sông nước quẩn quanh buồn,
Như người đi cách mặt xa lòng,
Ta nhủ thầm em có nhớ không.
Hình ảnh dòng sông quẩn quanh buồn là một hình ảnh đầy ám ảnh. Dòng sông Sài Gòn vẫn chảy, nhưng chẳng còn chảy về phía trước nữa, mà quẩn quanh, ứ đọng, buồn bã. Đó là hình ảnh của một thành phố đã mất đi dòng chảy sinh động của nó. Còn câu “người đi cách mặt xa lòng” là một câu ca dao đã được tái sử dụng để nói lên sự xa lìa không chỉ về khoảng cách mà còn về tâm hồn. Và câu “ta nhủ thầm em có nhớ không” mang tính chất của một lời gọi trong đêm, một lời hỏi mà người hỏi biết rõ chẳng bao giờ có câu trả lời.
Phần tiếp theo của bài hát mở ra một bức tranh rộng hơn về Sài Gòn đã mất:
Sài Gòn ơi!
Đâu những ngày khi thành phố xôn xao,
Trong niềm vui tiếng hỏi câu chào,
Sáng đời tươi thắm vạn sắc màu,
Nay còn gì đâu!
Người hỏi biết rõ rằng những ngày ấy đã qua đi vĩnh viễn, nhưng vẫn phải hỏi, vì câu hỏi ấy chính là cách để giữ lại kí ức, để chứng minh rằng những ngày ấy đã từng tồn tại. Hình ảnh “tiếng hỏi câu chào” gợi lên cái không khí thân thiện, cởi mở của Sài Gòn xưa, nơi mà người lạ cũng có thể trở thành bạn, nơi mà phố xá vang lên tiếng người chào hỏi nhau qua lại.
Rồi đến những hình ảnh cụ thể hơn:
Ai ra đi nhớ hàng me già,
Thu công viên hoa vàng tượng đá,
Thôi hết rồi mộng ước xa xôi,
Theo dòng đời trôi.
Hàng me già của Sài Gòn. Công viên với hoa vàng và tượng đá. Những hình ảnh mà chỉ người Sài Gòn cũ mới hiểu hết được ý nghĩa. Hàng me trên đường Duy Tân, Nguyễn Du, Tú Xương. Công viên Tao Đàn với những bức tượng đã chứng kiến bao nhiêu mối tình học trò. Những con đường, những góc phố, những khung cảnh đã làm nên hồn của một thành phố.
Và rồi đến đoạn mà tôi cho là đẹp nhứt trong bài, đoạn gợi nhớ về sinh hoạt văn nghệ của Sài Gòn xưa:
Sài Gòn ơi!
Đâu những ngày mưa mùa khoác áo đi,
Tay cầm tay nói nhỏ câu gì,
Đâu quầy hoa quán nhạc đêm về,
Đâu rộn ràng giọng hát Khánh Ly.
Sài Gòn ơi!
Thôi hết rồi những ngày hát bên nhau,
Đâu Phạm Duy với tình ca sầu,
Mắt lệ rơi khóc thuở ban đầu,
Còn gì đâu!
Đây là một đoạn vừa riêng tư vừa mang tính lịch sử. “Những ngày mưa mùa khoác áo đi / Tay cầm tay nói nhỏ câu gì” là hình ảnh của một mối tình trẻ, của tuổi yêu đương ở Sài Gòn. “Quầy hoa quán nhạc đêm về” là hình ảnh của sinh hoạt đô thị. Và đặc biệt, việc tác giả nhắc đến đích danh Khánh Ly và Phạm Duy trong bài hát là một chi tiết… đắt giá. Đó là hai cái tên gần như là biểu tượng của âm nhạc miền Nam trước 1975. Khánh Ly với giọng hát huyền thoại, Phạm Duy với những ca khúc đa dạng và bất hủ. Khi Nguyễn Đình Toàn nhắc tới họ, ông chẳng chỉ nhắc tới hai người nghệ sĩ, mà nhắc tới cả một nền văn nghệ, một cách cảm nhận âm nhạc, một không gian văn hóa đang bị xóa sổ.
Ở đoạn gần cuối, bài hát đi vào những hình ảnh thê lương nhứt:
Sài Gòn ơi!
Ta mất người như người đã mất tên,
Như hàng cây lá đỏ trông tìm,
Mặt trời soi dáng nhỏ dịu hiền,
Đang ngậm ngùi trên môi lắng im.
Hình ảnh “hàng cây lá đỏ trông tìm” đầy gợi cảm. Hàng cây lá đỏ đang trông ngóng, đang tìm kiếm một cái gì đó đã mất. Và “mặt trời soi dáng nhỏ dịu hiền / Đang ngậm ngùi trên môi lắng im” là một hình ảnh đẹp đến thê lương, như một bức tranh thủy mặc về sự im lặng của mất mát. Mặt trời vẫn còn đó, dáng nhỏ dịu hiền của người yêu dấu vẫn còn đó trong kí ức, nhưng tất cả đều đang ngậm ngùi, đều đang im lặng.
Và đoạn kết của bài hát là một trong những đoạn kết bi thương nhứt:
Sài Gòn ơi!
Ta mất người như người đã mất tên,
Như mộ bia đá lạnh hương nguyền,
Như trời xa đã bỏ đất liền,
Còn gì đâu!
“Mộ bia đá lạnh hương nguyền”. Bốn chữ này chứa đựng cả một tấn bi kịch. Lời thề nguyền xưa bây giờ chỉ còn là nén hương lạnh trên mộ bia đá. Tình yêu đã chết, đã được chôn, và chỉ còn lại cái mộ bia im lặng làm chứng. Rồi hình ảnh “trời xa đã bỏ đất liền” là một hình ảnh siêu thực, một hình ảnh mang tầm vóc vũ trụ. Bầu trời đã bỏ rơi mặt đất. Cái liên kết giữa trời và đất, giữa cao và thấp, giữa thiêng liêng và phàm tục, đã bị cắt đứt. Đó chẳng phải chỉ là nỗi mất mát của một người, của một thành phố, mà là nỗi mất mát của cả một trật tự thế giới, của cả một cách hiểu về cuộc sống. Và ba chữ “còn gì đâu” kết thúc bài hát như một tiếng thở dài cuối cùng. Sau tất cả những gì đã được nhắc tới, sau tất cả những hình ảnh đã được vẽ ra, chỉ còn lại ba chữ ấy: còn gì đâu!
Tại sao đây là ca khúc hay nhứt về Sài Gòn sau 1975?
Có nhiều ca khúc hay viết về Sài Gòn sau 1975. “Đêm nhớ về Sài Gòn“ của Trầm Tử Thiêng. “Khi xa Sài Gòn” của Kim Tuấn. “Sài Gòn ơi vĩnh biệt“ của Nam Lộc. Và nhiều ca khúc khác nữa. Mỗi ca khúc đều có cái hay riêng, đều ghi được dấu ấn trong lòng người nghe. Vậy tại sao “Sài Gòn niềm nhớ không tên“ lại được nhiều người xếp vào hàng cao nhứt? Theo tôi, có 3 yếu tố sau đây.
Thứ nhứt là hoàn cảnh sáng tác đặc biệt. Bài hát được viết ngay trong lòng Sài Gòn sau 1975, bởi một người đang sống với sự mất mát hàng ngày. Điều này khác với những ca khúc được viết ở hải ngoại sau khi tác giả đã rời đi. Nỗi nhớ trong bài hát của Nguyễn Đình Toàn là nỗi nhớ tức thời, nỗi nhớ của người đang nhìn thấy sự biến mất xảy ra trước mắt mình. Đó là chứng từ sống động của một giai đoạn lịch sử, chớ chẳng phải chỉ là kí ức đã qua bộ lọc của thời gian.
Việc nhắc đến Khánh Ly, Phạm Duy, quầy hoa, quán nhạc, hàng me, công viên, biến bài hát thành một bản ghi chép văn hóa về Sài Gòn xưa. Người nghe không chỉ cảm nhận được nỗi buồn, mà còn nhìn thấy được cả một thế giới đã mất. Đó là nghệ thuật bậc cao khi một ca khúc trở thành một tấm bia tưởng niệm cho cả một nền văn minh đô thị.
Thứ hai là tính phổ quát của cảm xúc. Dù được viết ra từ một hoàn cảnh cụ thể, bài hát lại chạm đến những tình cảm phổ quát của con người: nỗi nhớ, sự mất mát, cảm giác bất lực trước sự trôi đi của thời gian và sự biến đổi của lịch sử. Bất cứ ai, dù có từng sống ở Sài Gòn hay chưa, nghe bài hát cũng có thể đồng cảm. Dù đã hơn bốn thập niên trôi qua kể từ khi ca khúc ra đời, những người trẻ lớn lên ở hải ngoại, những người trẻ lớn lên trong nước sau 1975 khi nghe bài hát này vẫn cảm thấy rung động. Điều đó chứng tỏ bài hát đã vượt qua được giới hạn của một giai đoạn lịch sử cụ thể để trở thành một tác phẩm nghệ thuật có giá trị trường tồn.
Thứ ba là tính văn học của lời ca. Như đã nói ở trên, Nguyễn Đình Toàn trước hết là một nhà văn, một nhà thơ. Lời ca của ông có chiều sâu của văn học, mang tính biểu tượng cao, và chứa đựng những lớp ý nghĩa mà càng đào sâu càng thấy phong phú. Những câu như “ta mất người như người đã mất tên”, “như trời xa đã bỏ đất liền”, “như mộ bia đá lạnh hương nguyền” là những câu thơ đích thực, có thể đứng độc lập như những câu thơ trong một tập thơ.
Khúc ca của một thế hệ
Mỗi năm, khi ngày 30/4 đến gần, tôi lại nghe “Sài Gòn niềm nhớ không tên“ để nhớ lại những cảm xúc khi còn ở trong các trại tị nạn khổ cực ở Thái Lan. Và mỗi lần nghe, tôi lại hiểu thêm một chút về bài hát, về thời đại, về những con người đã sống qua biến cố đó. Đó là một ca khúc mà càng sống lâu ta càng hiểu, càng đi xa ta càng thấy gần, càng mất mát ta càng thấy thấm.
Nhà văn Nguyễn Đình Toàn đã viết ra một bài hát mà giá trị vượt xa giá trị của một ca khúc thông thường. Ông đã tạo nên một chứng từ về một thời đại, một tấm bia tưởng niệm bằng âm thanh cho một Sài Gòn đã mất, và một không gian cảm xúc nơi mà hàng triệu người Việt Nam khắp thế giới có thể gặp nhau, chia sẻ cùng một nỗi nhớ, cùng một niềm đau.
Có lẽ không ngoa khi nói “Sài Gòn niềm nhớ không tên” là một viên ngọc quí trong kho tàng âm nhạc hải ngoại sau 1975. Nhưng “Sài Gòn niềm nhớ không tên“ là một viên ngọc đặc biệt bởi vì nó mang trong mình ánh sáng của chính nỗi buồn đã tạo nên nó. Và chừng nào còn có người Việt Nam nhớ về một Sài Gòn đã qua, chừng đó ca khúc này còn sống, còn vang lên, còn làm cho mắt người nghe cay. “Sài Gòn ơi ” và “Còn gì đâu” như một tiếng thở dài từ đáy lòng, sẽ còn vang vọng mãi trong tâm thức của người Việt Nam, dù thời gian có trôi qua bao nhiêu mùa 30 tháng 4.
___
[1] “Sài Gòn Niềm Nhớ Không Tên” qua tiếng hát Khánh Ly: https://www.youtube.com/watch?v=oFwXn6XemxQ
Theo wiki thì ông bị “cải tạo” 10 năm. Nhưng theo nhà văn Ngô Thế Vinh, bạn thân của nhạc sĩ Nguyễn Đình Toàn, ông đi tù 6 năm: https://vanviet.info/nghe-thuat/nguyen-dnh-ton-tu-dong-co-toi-o-mo-phai/
[3] Khánh Ly vs Thái Thanh. Khi ca sĩ Khánh Ly trình bày ca khúc “Sài Gòn Niềm Nhớ Không Tên” lần đầu, chị ấy sửa lại là “Đâu rộn ràng giọng hát Thái Thanh” (nhưng bản gốc là “Đâu rộn ràng giọng hát Khánh Ly“). Khánh Ly biết mình sửa lời và giải thích rằng chị ấy ca một bài hát mà lời ca lại nhắc tên mình thì hơi kì, và chị ấy tự xem mình chưa bằng ca sĩ Thái Thanh. Tác giả Nguyễn Đình Toàn khi nghe lời ca của mình bị sửa, ông đã viết thư trách là không nên sửa lời vì tác giả viết sao thì hát vậy. Ông giải thích rằng lúc viết ca khúc đó, Khánh Ly đã đi Mĩ rồi, cho nên người ở lại mới nhớ người ra đi. Còn ca sĩ Thái Thanh thì thời gian từ 75-85 vẫn còn ở lại Việt Nam. Sau này, đến cuốn “Bông Hồng Cho Người Ngã Ngựa” thì Khánh Ly hát lại bài này với câu hát đúng “Đâu rộn ràng giọng hát Khánh Ly”.
Nguyễn Văn Tuấn
Không có nhận xét nào