Header Ads

  • Breaking News

    Lại thêm một anh chàng Nam Hàn nhận xét về kinh tế Việt Nam

    Nguyễn Văn Tuấn/Úc Châu

    10/4/2026

    Những gì anh này nói không phải là mới, vì có nhiều nhà quan sát quốc tế và trong nước đã nhận ra từ lâu. Cốt lõi của vấn đề nằm ở mô hình tăng trưởng hiện tại của Việt Nam chủ yếu dựa vào “ngoại sinh”, tức là phụ thuộc lớn vào vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và các tập đoàn đa quốc gia. 

    ■ Phụ thuộc vào FDI

    Việt Nam chưa làm chủ được các công nghệ lõi (core technologies). Chuỗi giá trị cao chủ yếu vẫn nằm ở tay các công ti ngoại quốc.

    Anh chàng Nam Hàn này ví von rất hình tượng: nền kinh tế Việt Nam giống như một rạp hát do người Việt dựng lên, nhưng đào kép chánh là người nước ngoài, còn người Việt chúng ta chỉ đóng vai phụ, lo phần đạo cụ và hỗ trợ hậu trường. 

    Số liệu thực tế cho thấy mức độ phụ thuộc này khá rõ nét. Các doanh nghiệp FDI đóng góp khoảng 70-76% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam. 

    Riêng Samsung, năm 2024 đã chiếm khoảng 13-16% tổng xuất khẩu quốc gia. Nếu Samsung gặp vấn đề (ví dụ bị ảnh hưởng bởi chánh sách thuế quan của Mĩ), hàng loạt nhà máy phụ trợ tại Bắc Giang, Bắc Ninh bị “rung chuyển”. Kinh tế Việt Nam dễ “cảm lạnh” chỉ vì một ông lớn nước ngoài “hắt hơi”.

    Câu chuyện của Nike cũng vậy. Việt Nam hiện sản xuất khoảng 50% tổng số giày Nike bán ra trên toàn thế giới. Con số rất “ấn tượng”. 

    Thế nhưng, giá trị mà người công nhân Việt Nam nhận được cực kì nhỏ. Một đôi giày bán lẻ với giá tương đương 150.000 won (khoảng 2.700.000 VNĐ), công nhân Việt chỉ nhận được khoảng 2.000-3.000 won, tức chỉ khoảng 2% giá trị. 

    Phần lớn giá trị nằm ở thiết kế, marketing, công nghệ và thương hiệu, tất cả đều ở Mĩ hoặc các nước phát triển. Việt Nam chủ yếu chỉ gia công và đóng gói.

    Khi các tập đoàn này chuyển dịch sang tự động hóa, AI và sản xuất thông minh, lợi thế “nhân công giá rẻ” của Việt Nam sẽ dần dần mất đi trong tương lai.

    ■ Cách tân và sáng tạo vs nhân tài ra đi 

    Việt Nam thường xuyên kêu gọi “sáng tạo” và “đổi mới sáng tạo”, nhưng thực tế năng lực nghiên cứu và phát triển (R&D) còn rất hạn chế. Đầu tư cho khoa học cơ bản thấp, các trường đại học đào tạo ra nhiều cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ nhưng thiếu kinh nghiệm thực chiến và khả năng ứng dụng. 

    Hầu hết các tập đoàn nước ngoài đều đặt trung tâm R&D tại Ấn Độ, Singapore hoặc các nước khác, chứ ít chọn Việt Nam.

    Trong khi đó thì nhân tài ra đi. Số người có tay nghề cao bỏ Việt Nam sang các nước phát triển lên đến hàng vạn mỗi năm trong suốt 20 năm qua. Úc, Mĩ, Nhật, Hàn hưởng lợi từ nhân tài Việt. 

    Một lí do quan trọng khiến nhân tài bỏ đi là lương thấp và đãi ngộ kém. Anh ta lấy một ví dụ: một chuyên viên viết chương trình máy tính giỏi có đồng lương rất thấp, nhưng khi sang Mĩ hay Nhật thì đồng lương cao hơn nhiều lần. 

    Ở Việt Nam, nhiều người phải lao động cả nửa thế kỉ mới đủ tiền mua một căn hộ nhỏ ở Hà Nội hay TP.HCM; nhưng khi ra nước ngoài, chỉ cần làm việc trên dưới 20 năm là có thể sở hữu nhà cửa đàng hoàng. Vậy thì lựa chọn đối với giới có thực tài ở Việt Nam quá rõ ràng. 

    Ngoài ra, văn hoá và môi trường làm việc ở Việt Nam nhiều khi “phản tiến bộ”. Người ta thăng tiến dựa vào các mối quan hệ hơn là thực tài. Những ý tưởng mới lạ hay “disruptive” thường bị phản đối hoặc không được khuyến khích, khiến cho người có sáng kiến không có cơ hội. 

    Đó cũng là một lí do khác mà giới trẻ và thực tài chọn đi nước ngoài. Có người không đi nước ngoài nhưng làm việc cho các trung tâm của Tân Gia Ba / Singapore: thân xác thì ở Việt Nam, còn trí não thì ở ngoài. 

    Một đất nước mà nhân tài liên tục ra đi (brain drain), người về thì rất ít, lại không sở hữu công nghệ cốt lõi, thì triển vọng trở thành nước giàu thực sự là rất ảm đạm.

    ■ Bài học Thái Lan và Mã Lai

    Anh chàng này ví von rằng một quốc gia không có công nghệ nội sinh (endogenous technology) giống như “người to con nhưng không có cơ bắp”, trông thì mạnh mẽ, nhưng thực chất rất yếu. Đây là một “căn bệnh” kinh niên.

    Thái Lan và Mã Lai là bài học gần gũi. Vào thập niên 1990, hai nước này từng được coi là “con cọp mới nổi”, thu nhập tăng nhanh nhờ FDI dồn dập. Nhưng họ cũng không làm chủ được công nghệ lõi. Hơn 30 năm sau, cả hai vẫn kẹt trong bẫy thu nhập trung bình (middle-income trap). Nhiều chuyên gia lo ngại rằng, nếu không thay đổi căn bản, Việt Nam có nguy cơ đi theo vết xe đổ của Thái Lan và Mã Lai.

    Tóm lại, bài phân tích của anh chàng Nam Hàn (có vẻ rất am hiểu Việt Nam) là một lời cảnh tỉnh đáng suy ngẫm. Việt Nam đã đạt được tăng trưởng rất tốt nhờ mở cửa và thu hút FDI. 

    Nhưng để trở thành nước giàu thực sự như Nam Hàn, Việt Nam cần chuyển mình từ “gia công” sang “sáng tạo”, từ phụ thuộc ngoại sinh sang xây dựng năng lực nội sinh, từ giữ chân nhân tài đến tạo môi trường để họ thực sự cống hiến.

    ___

    [1] https://m.youtube.com/watch?v=_Tw0EoZyii4&t=11s

    Nguyen Khac Toan

    Một quan sát rất hay và tinh tế. Có 2 ví dụ em đã gặp như sau.

    1. Về R&D: Việt Nam hô hào nghiên cứu phát triển, nói sẵn sàng đổ tiền tài trợ cho các nghiên cứu. Nhưng chỉ thích làm những thứ gọi là thực sự đột phá, đột phá hơn cả Âu, Mỹ, Hàn, Nhật, Trung từ con số 0. Nghiên cứu cơ bản, xây nhà từ móng thì không muốn đầu tư. Đơn cử như việc đào tạo phương pháp khoa học và đạo đức đúng còn chưa tốt thì lấy đâu ra nghiên cứu có công nghệ lõi đây?

    2. Về mức lương của trí thức. Chúng ta đang sống trong thế giới tưởng tượng, tưởng tượng rằng mức lương có thể giúp trí thức sống, làm việc và thậm chí cống hiến! Cách đây một vài tháng, em nhìn thấy một tấm biển tuyển nhân viên trông giữ xe bao ăn ở, có mức lương là 8 triệu/tháng. Em bất chợt nhìn lại mức lương BSCKII của mình, sau hơn 10 năm công tác, vẫn chỉ là 7,7 triệu 

    Em rất đồng tình với bài phân tích nhưng cũng thấy một số nỗ lực đang được triển khai trong nước. Một số trường Đại học, đặc biệt là tư nhân, đang chuẩn hoá chương trình theo hướng quốc tế. Một số tập đoàn tư nhân và nhà nước đang cố gắng nắm bắt các công nghệ sâu hơn. Tuy còn nhiều gian nan nhưng hi vọng là có ạ.

    Tom Jerry

    Vấn đề lớn ai cũng thấy mà ít dám nói:

    1. Ô nhiễm môi trường do tập trung công nghiệp vn chịu nhưng sinh ra của cải cho người Việt thì thấp.

    2. Chính sách không trọng dụng người tài, thời bình không còn thế lực nào để thay đổi chính trị từ phía người dân nhưng khoảng năm 2019 nhà nước đổi quy định trưởng phòng phó phòng trở lên phải có thẻ Đỏ.

    3. Giáo dục hệ TS thì nhiều nơi đào tạo lèm bèm kiểu chịu đấm ăn xôi đủ bằng tiếng anh đủ năm nhận bằng TS. Làm cho một thế hệ lầm tưởng và đánh đồng kiến thức. Sau đó họ dùng bằng TS để đứng dạy hoặc thăng tiến quan trường. Làm quản lý ko vững chuyên môn không vực dậy khcn được.

    Nguyễn Văn Tuấn


    Không có nhận xét nào