Header Ads

  • Breaking News

    Niềm tin khoa học thay đổi thế giới (Joel Mokyr, Nobel Kinh tế 2025)

    MỘT SỐ Ý TƯỞNG ĐÃ ĐƯA JOEL MOKYR ĐẾN GIẢI NOBEL KINH TẾ 2025

    Nguyễn Xuân Xanh trình bày

     3 Tháng Tư, 2026

    Joel Mokyr (1946, 79t). Ảnh của Đại học Northwestern

    Niềm tin cơ bản rằng cuộc sống của con người có thể được cải thiện liên tục bằng cách nâng cao hiểu biết của chúng ta về các hiện tượng và quy luật tự nhiên, và áp dụng sự hiểu biết này vào sản xuất, chính là bước đột phá văn hóa đã tạo tiền đề cho những thành tựu sau này.

    Joel Mokyr (Culture of Growth)

    Để hiểu được Cách mạng Công nghiệp và sự khởi đầu của phương Tây trên con đường tăng trưởng kinh tế bền vững dựa ngày càng nhiều vào những tiến bộ trong khoa học và công nghệ, chúng ta cần phải tìm hiểu những gì đã xảy ra trong hai thế kỷ sau khi Columbus đặt chân đến Tân Thế giới. Đó là thời đại của những tiến bộ khoa học đáng kể, đôi khi được gọi là Cách mạng Khoa học. Đó cũng là thời đại của những tiến bộ công nghệ đáng kể trong một số lĩnh vực, mặc dù những tiến bộ này ít ấn tượng và đột phá hơn so với những tiến bộ đạt được trong thế kỷ trước đó hoặc những thế kỷ tiếp theo. Điều thay đổi trong thời đại này là văn hóa – niềm tin (beliefs) và thái độ (attitudes) của giới tinh hoa trí thức đối với kiến thức hữu ích (useful knowledge), cách thức tiếp thu, phân phối và ứng dụng nó. Những niềm tin thay đổi đó đã dẫn đến những định chế (institutions) mới phản ánh chúng, và những định chế đó lại tác động ngược trở lại lên các niềm tin. Kết quả cuối cùng là đến giữa thế kỷ XVIII, thái độ đối với sự tiến bộ vật chất dựa trên công nghệ đã thay đổi đáng kể, một hiện tượng mà tôi đã gọi trong các công trình trước đây là Thời kỳ Khai sáng Công nghiệp (Industrial Enlightenment) và là nền tảng của Cách mạng Công nghiệp. Nhưng nguồn gốc văn hóa của nó là gì?

     Joel Mokyr (Culture of Growth)

    Tháng Mười năm 2025, Viện Hàn lâm Khoa học Hoàng gia Thụy Điển đã quyết định trao Giải thưởng Sveriges Riksbank về Khoa học Kinh tế để tưởng nhớ Alfred Nobel năm 2025 cho ba nhà kinh tế học Joel Mokyr, Philippe Aghion và Peter Howitt, “vì đã giải thích được tăng trưởng kinh tế do đổi mới sáng tạo thúc đẩy” với một nửa cho Joel Mokyr, “vì đã xác định được các điều kiện tiên quyết cho tăng trưởng bền vững thông qua tiến bộ công nghệ”, và một nửa kia cho Philippe Aghion và Peter Howitt, “vì lý thuyết về tăng trưởng bền vững thông qua sự phá hủy sáng tạo.”

    Trong khuôn khổ giới hạn, tôi xin trình bày phần ý tưởng của Joel Mokyr, nhà sử học kinh tế người Mỹ và Israel, từng là giáo sư kinh tế và lịch sử, đồng thời là Giáo sư tại Đại học Northwestern, cũng từng là fellow của Trường Kinh tế Eitan Berglas thuộc Đại học Tel Aviv. Mokyr là một học giả rất uyên bác, có nghiên cứu rất sâu và dài hạn. Những tác phẩm nổi tiếng toàn cầu của ông như The Lever of Riches: Technological Creativity and Economic Progress;The Gifts of Athena: Historical Origins of the Knowledge Economy; The Enlightened EconomyAn Economic History of Britain 1700–1850 và A Culture of Growth: The Origins of the Modern Economy (The Graz Schumpeter Lectures), có tác dụng kết nối lịch sử, kinh tế học và khoa học. Nhiều nghiên cứu sâu của ông dành cho Anh quốc, quốc gia công nghiệp hóa đầu tiên, để hiểu những quy luật tiến lên sự phồn vinh.

    Câu hỏi trung tâm liên quan đến sự tiến bộ vật chất của con người: Từ đâu và bao giờ con người có khoa học, công nghệ ứng dụng vào cuộc sống làm ra của cải, và điều đó đã diễn ra trong môi trường văn hóa nào, bắt đầu ở phần đất nào trên thế giới. Trong sách Một nền văn hóa của Tăng trưởngNguồn gốc của Kinh tế hiện đại (A Culture of Growth: Origins of the Modern Economy), GS Joel Mokyr lập luận rằng, bên cạnh nhiều yếu tố khác như vai trò của thị trường, chính trị và xã hội, thì sự khởi đầu của tăng trưởng kinh tế hiện đại phụ thuộc rất nhiều vào những gì con người biết và tin tưởngcũng như cách thực hiện những niềm tin đó.

    Lịch sử tư tưởng và triết học châu Âu bắt đầu từ Hy lạp cổ đại và ảnh hưởng to lớn của nó hàng nghìn năm ở châu Âu. Nghiên cứu về tự nhiên qua những tác phẩm của Aristotle như ông đã dạy, có mục đích làm con người trở nên khôn ngoan, minh triết hơn, cũng như có hiểu biết về môi trường xung quanh, điều sẽ giúp họ trở thành người tốt hơn. Trong hầu hết lịch sử loài người, và ở hầu hết các xã hội mà chúng ta biết, Mokyr nói, luôn tồn tại một sự tôn kính gần như làm tê liệt dành cho tri thức của các thế hệ trước… Nhưng vào thế kỷ XVI và XVII, đã xuất hiện một phong trào ngày càng lớn mạnh cho rằng, ‘bạn biết không, các tác giả cổ điển này đã sai lầm về rất nhiều điều…’, hay sự sùng bái người xưa dẫn tới không thể sáng tạo cái mới.

    Vào cuối thế kỷ XVI nhà triết học người Anh Francis Bacon xuất hiện và nói rất kiên quyết rằng, “Không, chúng ta nên nghiên cứu tự nhiên để có thể tìm ra những ứng dụng thực tiễn, chúng ta thực sự có thể cải thiện điều kiện sống của con người.” Xã hội lúc đó là nông nghiệp, nghèo khó triền miên, nên khát vọng cải thiện là điều hiển nhiên. Đó là khúc quanh vĩ đại của lịch sử. Tư tưởng của Bacon sẽ ảnh hưởng cả chiều dài lịch sử về sau trên khắp châu Âu. Copernice, Galilei, Kepler và nhiều nhà khoa học khác bước lên vũ đài làm những khám phá mới khác hơn Aristotle, mà cao điểm của sự phát triển là Isaac Newton. Từ lúc đó trở đi, phong trào Khai sáng bắt đầu diễn ra trên phạm vi toàn châu lục.

    Thời kỳ Khai sáng là giai đoạn sau cùng trong quá trình tiến hóa văn hóa, cuối cùng dẫn đến cuộc Cách mạng Công nghiệp và sự tăng trưởng kinh tế hiện đại ở châu Âu.

    Joel Mokyr

    Khai sáng bao gồm hai dự án, một dự án chính trị nhằm tạo ra một xã hội tốt đẹp hơn và một dự án triết học “nhằm thay thế tôn giáo bằng tư duy hợp lý (Vernunft) và sự hiểu biết về tự nhiên”. Tuy nhiên, theo Mokyr, còn có một dự án thứ ba, đó là làm cho nền kinh tế tạo ra nhiều của cải hơn và do đó làm tăng cái mà các nhà kinh tế ngày nay gọi là phúc lợi kinh tế. Trong ba dự án của thời kỳ Khai sáng, dự án thứ ba là dự án thành công nhất. Sự đổi mới trí tuệ chỉ có thể xảy ra trong những xã hội khoan dung, nơi mà những ý tưởng đôi khi kỳ quặc do những người tưởng như cực kỳ ‘lập dị’ đưa ra mà không dẫn đến phản ứng bạo lực chống lại những người bị quy là “dị giáo”. Tuy nhiên thực tế, số người được khai sáng chỉ là một con số tương đối nhỏ, có lẽ khoảng từ 10 đến 15 phần trăm dân số Anh, là con số không quá xa thực tế. Immanuel Kant mới nói rằng chúng ta đang sống trong thời đại có nhiều yếu tố khai sáng chứ không phải thời đại được khai sáng. Bóng mây của quyền uy vẫn còn lơ lững trên đầu.

    Ở Trung Quốc, quyền uy của một thầy giáo dễ dàng được truyền bá từ góc này sang góc khác của đế chế và “không ai đủ can đảm để chống lại làn sóng dư luận, và hậu thế cũng không đủ mạnh dạn để tranh cãi những điều đã được tổ tiên chấp nhận rộng rãi.”

    Joel Mokyr

    Mokyr đã mô tả thế kỷ XVIII với khái niệm “Khai sáng Công nghiệp” (Industrial Enlightenment) như tên của một quyển sách của ông. Khai sáng Công nghiệp là sản phẩm của Khai sáng và Công nghiệp hóa đang diễn ra song song. Khai sáng Công nghiệp truyền đi niềm tin rằng sự tiến bộ vật chất và tăng trưởng kinh tế có thể đạt được thông qua việc tăng cường kiến thức của con người về các hiện tượng tự nhiên và làm cho kiến thức này dễ tiếp cận với những người có thể sử dụng nó trong sản xuất. Người ta tin rằng tiến bộ xã hội có thể đạt được thông qua “các ngành nghệ thuật hữu ích” (useful arts) như cách nói ở phương Tây, mà ngày nay chúng ta gọi là khoa học và công nghệ, những lĩnh vực này nên bổ sung và củng cố lẫn nhau.

    Trong nửa sau thế kỷ XVIII, các nhà trí thức quan trọng ngày càng tỏ ra phản đối mạnh mẽ cái mà các nhà kinh tế học hiện đại gọi là hành vi tìm kiếm lợi ích bất chính (rent-seeking), tức là việc sử dụng quyền lực chính trị để phân phối lại chứ không phải tạo ra của cải, hoặc họ ngăn cản, giới hạn quyền tự do cá nhân để tham gia thị trường bình đẳng. Tìm kiếm lợi ích bất chính có tác dụng kềm hãm sự phát triển tự nhiên của xã hội. Ảnh hưởng của phong trào chống đối này đã tác động đến sự phát triển lâu dài của nền kinh tế Anh, “chuyển hướng sự sáng tạo và năng lượng khỏi việc tìm kiếm lợi ích bất chính và hướng tới các hoạt động làm tăng sự thịnh vượng quốc gia và phúc lợi xã hội.” Chống lại nhóm lợi ích của phái trọng thương (mercantilism) như trong tác phẩm Phồn vinh của các Quốc gia của Adam Smith là điều ngày càng thiết yếu.

    Nhưng để thực hiện triết lý của Bacon, xã hội cần đến nhiều lực lượng thợ chuyên nghiệp, năng động và sáng tạo. Họ chưa được đào tạo thành kỹ sư chuyên nghiệp như sau này, nhưng họ là những “nghệ nhân lão luyện” và “thông thái”, virtuosi. Vào đêm trước của cuộc Cách mạng Công nghiệp, so với phần còn lại châu Âu, nước Anh đặc biệt có một đội ngũ tương đối lớn các thợ cơ khí và kỹ thuật viên lành nghề, những người khéo tay và có năng khiếu về cơ khí, được đào tạo như những người học việc (apprentice) chứ không phải qua trường lớp chính quy. Sự khác biệt với lục địa không chỉ nằm ở số lượng mà còn nằm ở sự phân bổ. Ở lục địa, nhà nước đã thu hút phần lớn nhân tài kỹ thuật trong các lãnh vực quân đội, hành chính và giảng dạy. Một “kỹ sư” ở Pháp là một quân nhân. Ở Anh, những người có cùng sở thích và năng lực đi tìm việc làm trong khu vực tư nhân.

    Tóm lại: ở Anh, như Mokyr trình bày, những người thợ có tay nghề cao hỗ trợ đổi mới sáng tạo, và đã góp phần tạo nên cuộc Cách mạng Công nghiệp. Đặc biệt, chính ở năng lực áp dụng, điều chỉnh và hoàn thiện các phát minh mà các thợ máy và kỹ sư lành nghề của Anh đã thể hiện sự xuất sắc. Họ là những ‘tinkerer’ mò mẫm để khám phá. Những kỹ năng này thường là “kỹ năng ngầm và không thể dễ dàng chuyển giao từ quốc gia này sang quốc gia khác.”

    Hệ thống giáo dục chính quy ở Anh trước năm 1850, ngoại trừ một thiểu số rất nhỏ, chỉ giới hạn ở những gì mà ngày nay chúng ta coi là giáo dục tiểu học. Nó hoàn toàn mang tính tự nguyện và tư nhân. Để bù đắp lỗ hổng này, có các trường học phi-chính thống, nơi dành cho những học sinh bị từ chối nhập học vào các trường trung học và đại học Anh giáo. Những trường này dạy rất nhiều kiến thức tôn giáo phi-chính thống, nhưng cũng dạy cả những môn học hữu ích như địa lý, toán học và khoa học.

    Tuy nhiên, phần đất có nền giáo dục phát triển mạnh mẽ và có giá trị là Scotland, nằm phía Bắc của nước Anh và được liên minh với Anh năm 1707. Đó là nơi đào tạo ra một số lượng lớn các nhà hóa học, bác sĩ và kỹ sư. Các trường ngữ pháp ở Scotland kết hợp môn tiếng La tinh bắt buộc với toán học, khoa học và các môn học thương mại. Scotland là quê hương của James Watt. Thật khó để tưởng tượng cuộc Cách mạng Công nghiệp ở Anh sẽ phát triển như thế nào nếu không có hệ thống giáo dục của Scotland, Mokyr viết. Ban đầu được thành lập để giúp chuyển đổi dân chúng sang Giáo hội Tin lành, hệ thống này ngày càng trở nên thế tục hơn sau năm 1660, một xu hướng được đẩy nhanh hơn nữa sau Liên minh 1707. Đại học Edinburgh, vốn vẫn là một trường học nghèo nàn và tỉnh lẻ vào năm 1700, đã trở nên nổi tiếng khắp thế giới trong thế kỷ thứ mười tám và trở thành trung tâm chính của Thời kỳ Khai sáng Scotland. Đó cũng là nơi Adam Smith từng học và giảng dạy.[1] Scotland thường có nhiều chuyên gia làm việc tại Nhật Bản thời Minh Trị. Hyundai cũng đã gửi hàng chục kỹ sư đến học nghề đóng tàu ở Clydeside, Glasgow.

     

    Tăng trưởng theo Smith vs theo Schumpeter

    Mokyr nói:

    Sự khác biệt giữa tăng trưởng theo kiểu Smith và Schumpeter là ở chỗ, đối với kiểu thứ nhất, trao đổi và hợp tác dựa trên lòng tin hoặc sự tôn trọng pháp luật được coi là một trò chơi giữa các cá nhân, trong khi bản chất của tăng trưởng theo kiểu Schumpeter dựa trên sự điều khiển các quy luật và hiện tượng tự nhiên, và do đó về bản chất nên được xem là một trò chơi với tự nhiên.

      

    Adam Smith và Joseph Schumpeter

    Cách đầu tiên dựa trên “hệ thống tự do tự nhiên” của Adam Smith, hay “các thể chế bao trùm” (inclusive institutions) như cách diễn tả của Daron Acemoglu và James Robinson, trong tác phẩm “Tại sao các quốc gia thất bại”, cho phép “mọi người tham gia vào các cơ hội kinh tế” một cách bình đẳng. Hai ông vừa nhận được giải Nobel kinh tế năm 2024.

    Ngược lại, công trình nghiên cứu của Joseph A. Schumpeter (1880-1950), người nhấn mạnh vai trò của đổi mới sáng tạo bằng kỹ thuật, công nghệ nhằm cải thiện sản phẩm, như một động lực tăng trưởng. Điều đó sẽ dẫn tới “sự phá hủy sáng tạo”, sẽ có nhiều doanh nghiệp bị phá sản, nhưng đồng thời có một số doanh nghiệp khác vươn lên. Nền tảng cho loại tăng trưởng này là những phát minh mới và những tiến bộ trong khoa học và công nghệ, và kỹ thuật sản xuất mới như một động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Những doanh nhân sáng tạo sẽ liên tục tìm kiếm những cơ hội để vượt trội hơn đối thủ và kiếm được nhiều lợi tức hơn. Kết quả là, điều mà Schumpeter gọi là “sự phá hủy sáng tạo” (creative destruction), sẽ xảy ra. Nền tảng cho sự “thay ngôi đổi chủ” này chính là những phát minh mới và những tiến bộ trong khoa học và công nghệ. Đó cũng chính là bản chất của nền kinh tế thị trường, hay chủ nghĩa tư bản. Sự đổi mới sáng tạo cũng như phá hủy sáng tạo là quá trình không ngừng nghỉ. Dừng lại đồng nghĩa với cái chết của kinh tế thị trường.

    Nhưng làm sao để đạt đến sự tiến bộ, và bền vững? Muốn thế, xã hội cần phải mở cửa để bảo đảm sự giao lưu thường xuyên với các ý tưởng mới giúp con người thức tỉnh, tò mò, học hỏi và sáng tạo. Mokyr lấy thí dụ của Nhật Bản thế kỷ XIX. Quốc gia này đã đóng cửa 200 năm đối với phần còn lại của thế giới, và sống rất tự mãn. Họ muốn giữ mọi thứ y nguyên như cũ. Nhật từng có súng vào thế kỷ XVI, nhưng sang thế kỷ XVII họ loại bỏ toàn bộ súng đạn. Từ đó trở đi, Nhật Bản không còn súng nữa. Nhưng rồi Đô đốc Perry xuất hiện trước vịnh Tokyo với bốn tàu chiến đen, và người Nhật nhận ra: “Thì ra ngoài kia là một thế giới rộng lớn, và họ đã tiến xa trong khi chúng ta đứng yên – và đó là một tình thế không hề ổn chút nào. Chúng ta hãy đi theo và học hỏi họ thôi”. Và phần còn lại thì ai cũng biết rồi. Mokyr cho rằng đây là sự khác biệt giữa một nền kinh tế khép kín và một nền kinh tế mở: trong một nền kinh tế khép kín, định luật Cardwell về sự tụt hậu gần như không thể tránh khỏi; nhưng trong một nền kinh tế mở, với sự giao thương và cạnh tranh với phần còn lại của thế giới, thì điều đó khó có thể xảy ra.

    Niềm tin và hiểu biết khoa học cần đi đôi với nhau thì mới tạo được sức mạnh để thay đổi thực tại nghèo khó. Không hiểu thì không có niềm tin mạnh mẽ, hay chỉ có niềm tin yếu ớt. Hiểu nhưng không có niềm tin thì sẽ không có động lực đi xa. Cái đơn giản nhất mà nhiều người ở xã hội nông nghiệp thường làm là niềm tin vào phép mầu của lực lượng thần thánh, và như thế khỏi phải học, giao trách nhiệm cho sự phồn vinh cho thần thánh. Các dân tộc châu Âu không làm vậy. Họ tin vào sức mạnh đổi đời của họ bằng khoa học, công nghệ. Đó là niềm tin vào Khai sáng công nghiệp đã diễn ra thế kỷ XVIII. Và châu Âu đã đi lên từ niềm tin đó. Hoặc như các quốc gia Tin lành, họ tin vào mệnh lệnh của Chúa, là xây dựng thiên đàng trên trái đất nên ra sức học hỏi và lao động. Có thể nói họ đi tiên phong trong sự phát triển kinh tế châu Âu từ rất sớm.

    Được hai chủ biên A. Kling và N. Schulz của quyển sách From Poverty to Prosperity (Từ nghèo khó đến phồn vinh) hỏi, Mokyr sẽ đề xuất những lĩnh vực nghiên cứu nào cho một nhà kinh tế trẻ hiện nay, ông trả lời:

    Vâng, còn gì khác hơn là lịch sử kinh tế chứ. Tôi nghĩ lịch sử kinh tế rất quan trọng để nhắc nhở những người chuyên về lý thuyết rằng đây là những vấn đề thực tế. Đây là về những con người thực, những sự kiện thực, những địa điểm thực mà bạn có thể chạm vào và không thể diễn tả bằng các ký hiệu toán học, về những người mà bạn có thể nhìn thấy hình ảnh của họ. Tôi nghĩ đó là một cách để minh họa bản chất của vấn đề này. Có một số nhà kinh tế học thực sự giỏi về lĩnh vực này, họ làm kinh tế học lý thuyết và mô hình hóa nhưng luôn ghi nhớ thực tế lịch sử. Tôi nghĩ đến một người mà tôi thực sự ngưỡng mộ, Daron Acemoglu. Ông ấy không phải là nhà sử học kinh tế được đào tạo bài bản như một ngành chuyên môn, nhưng ông ấy thực sự đọc [lịch sử], suy nghĩ về nó và quan tâm đến nó. Người bạn đó cực kỳ thông minh. Đó là kiểu công việc mà tôi nghĩ mọi người nên làm. Họ nên nghiên cứu lịch sử kinh tế để có thêm xương thịt cho các mô hình lý thuyết mà họ đang nghiên cứu, để chúng ta không trở thành, Chúa cấm, một nhánh của toán học ứng dụng. Tôi không nghĩ điều đó sẽ xảy ra, nhưng nguy cơ luôn luôn hiện hữu nếu mọi người không nghiên cứu những thứ mà tôi đang nghiên cứu.

    Tôi nghĩ, những lời đề nghị của Mokyr cũng rất hữu ích cho tất cả mọi nhà khoa học Việt Nam, không riêng các nhà kinh tế. Tôi cho đó là loại “giáo dục khai phóng”, hay “giáo dục tổng quát”, môn học rất cần thiết ở phương Tây trễ lắm từ thời Trung cổ phát triển quy mô ở toàn thể hệ thống đại học. Nó sẽ giúp tạo được chiều sâu lịch sử thay vì chỉ có những kiến thức cô lập khỏi môi trường lịch sử đầy sức sống của chúng, và giúp tạo ra thêm nhận thức, tầm nhìn, ý tưởng. Cần phải cho nó thêm “xương thịt” đó là “mệnh lệnh khai phóng” cho người nghiên cứu khoa học theo nghĩa rộng nhất.

    Lời bạt

    NHÂN TỐ TÔN GIÁO, Ý THỨC HỆ HAY TRUYỀN THỐNG 

    Chúng ta cần nhận thức tại sao tình hình như thế này hoặc như thế kia đã xảy ra. Một thí dụ hữu ích cho sự nghiên cứu lịch sử là một trong những câu chuyện sau đây mà Mokyr đã kể trong quyển sách From Poverty to Prosperity. Nó liên quan đến yếu tố tôn giáo như sự kềm hãm phát triển khoa học và kinh tế. Mokyr nói, mức độ mà chúng ta bám giữ vào trí tuệ của các thế hệ trước là một yếu tố vô cùng quan trọng quyết định mức độ đổi mới của một xã hội, bởi vì nếu bạn nghĩ kỹ, mỗi hành động phát minh đều là một ‘hành động nổi loạn’ (rebel) hay ‘bất tuân’. Châu Âu trung cổ chứa đầy những ví dụ như thế. Lịch sử cho thấy, không nổi loạn không có khoa họ.

    Galileo Galilei, người được Einstein đánh giá là “nhà vật lý hiện đại đầu tiên”, đã có những khám phá trái với tín điều tôn giáo

    Một xã hội rất sùng đạo tin rằng tất cả trí tuệ đều đã được hiển lộ cho tổ tiên của chúng ta, sẽ không thể đổi mới nhiều được. Khi phát minh ra một thứ gì đó, bạn ngầm nói rằng: ‘Nhìn xem, cách mà cha tôi, ông nội tôi và các thế hệ khác đã làm điều này là sai. Tôi có thể làm tốt hơn.’ Điều đó hàm ý một sự thiếu tôn trọng theo một nghĩa nào đó. Và điều đó, Mokyr nói, đã giúp ông giải quyết một bí ẩn mà ông chưa bao giờ giải được trước đây. Hãy nhìn vào lịch sử châu Âu trong 1.500 năm qua, tại sao lại có rất ít phát minh gắn liền với người Do Thái cho đến đầu thế kỷ XIX, khi người Do Thái trở nên thế tục hóa hơn và trở nên giống như mọi người khác theo một cách nào đó? Trước đó, người ta sẽ kỳ vọng người Do Thái sẽ đi đầu trong đổi mới, bởi vì họ có học thức và nhiều người trong số họ là thợ thủ công, nghệ nhân và thương nhân. Họ tham gia sâu rộng vào những lĩnh vực tiến bộ hơn của nền kinh tế, nhưng họ lại không phát minh ra bất cứ thứ gì. Tôi đã tìm kiếm khắp nơi trong lịch sử nhưng cho đến lúc đó, không có một người Do Thái nào quan trọng với tư cách là nhà khoa học, kỹ sư hay nhà phát minh cả. (Mokyr, nt, 131)

    Ở cấp độ đó, Mokyr nói tiếp, tôn giáo thực sự đóng vai trò rất quan trọng. Quá trình thế tục hóa bắt đầu từ thời Khai sáng, hoặc có thể sớm hơn. Nhưng sự thế tục hóa của chúng ta đi kèm với sự mất mát phần nào lòng kính trọng đối với trí tuệ của các thế hệ trước. Hầu hết các tôn giáo đều nói rằng, không, những người xưa thông minh hơn chúng ta và họ biết nhiều hơn, và nếu bạn muốn hiểu họ, bạn phải đọc lại Aristotle, hoặc bất cứ ai trong giới kinh điển (canon) của bạn. Chúng ta (ngày nay, ND) hầu như không có kinh điển cho bất cứ điều gì. Mọi người rất ít tôn trọng trí tuệ của các thế hệ trước, và tôi nghĩ rằng sâu xa, đó là một hiện tượng siêu hình. … Đó là một ví dụ điển hình về cách mà tôn giáo, và có lẽ cả văn hóa nhân loại, đã đóng vai trò như một phanh hãm. Và phanh hãm đó, như tôi đã nói, có thể được nới lỏng và có thể bị suy yếu; tôi nghĩ rằng nó đang bị suy yếu ngày nay. Tôi có những cảm xúc lẫn lộn về điều này. Không rõ ràng rằng đó là một điều hoàn toàn tốt, nhưng nó đang xảy ra. (Mokyr, nt, 131)

    Đó có lẽ là khởi điểm quan trọng cho sự nhận thức. Nghĩ rộng ra, trình bày trên của Mokyr cho thấy, mọi “ý thức hệ đều có tính giáo điều”, nghĩa là tự cho mình đúng độc nhất, sẽ có tác dụng làm tê liệt hoạt động tinh thần và có hại cho đổi mới sáng tạo. Nữ giáo sư kinh tế Deirdre McCloskey, người được Mokyr trích dẫn nhiều lần, cho rằng, chính những ý tưởng tự do (liberal ideas) đã thúc đẩy sự đổi mới. Thái độ khoan dung, cởi mỡ đối với tôn giáo, chính trị, kinh doanh, như từng diễn ra ở Anh, đã có ảnh hưởng rất lớn lên sự phát triển khoa học, công nghệ và thương mại của quốc gia này. Sự phát triển mạnh mẽ của Anh không thể tách rời khỏi một xã hội có tính khoan dung, tự do cao. Trong quyển sách “Phẩm giá của tầng lớp tư sản: Tại sao kinh tế học không thể giải thích thế giới hiện đại”, xuất bản năm 2010, bà McCloskey lập luận rằng sự gia tăng chưa từng có về phúc lợi con người trong thế kỷ 19 và 20, từ 3 đô la bình quân đầu người mỗi ngày lên hơn 100 đô la mỗi ngày, không phải xuất phát từ sự tích lũy tư bản mà từ sự đổi mới sáng tạo (Innovation) dưới ảnh hưởng của chủ nghĩa tự do (Liberalism) chưa từng có trước đó ở Tây Bắc châu Âu và các quốc gia chịu ảnh hưởng của nó.

    Ngoài tôn giáo, thiết nghĩ, còn có thêm những yếu tố truyền thống khác đã hằn sâu trong lối sống, như những thói quen của các xã hội nông nghiệp-phong kiến, sức ỳ không chịu đổi mới, không quan tâm đến sự thay đổi, chủ nghĩa định mệnh, không cần tri thức mới, không có tầm nhìn. Xã hội Nhật Bản thời Tokugawa chẳng hạn như được Mokyr dẫn ở trên, là một xã hội thích sống khép kín và tự mãn, để bảo vệ sự thống trị của họ một cách êm ả, lâu dài.

     

    THUNG LŨNG SILICON

    Thí dụ sinh động nhất gần đây: Thung lũng Silicon. Đó là nơi tuổi trẻ đã có niềm tin mãnh liệt vào khả năng thay đổi thế giới bằng công nghệ, rất cụ thể: bằng máy tính cá nhân, để con người tự chủ, độc lập, và tăng thêm sự thông minh. Thung lũng Silicon là trung tâm làm ra của cải lớn nhất, trung tâm hi-tech lớn nhất, nơi làm cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ ba của thế giới, nơi có những phát minh công nghệ đột phá, transistor, chip, máy tính cá nhân, nơi có một tinh thần kinh doanh, entrepreneurship, rất mới, và là nơi làm lại mới kinh tế Mỹ sau những năm nó đang đứng bên bờ vực thẳm. Nhưng trên hết, Thung lũng Silicon là một văn hóa, văn hóa đối lập (counterculture), một quan điểm, một state-of-mind, và một people.

    Steve Jobs, John Sculley, và Steve Wozniak, 1984.

    Tuổi trẻ ở đó chống lại sự thống trị của những “người anh cả”, từ chính quyền lớn thời chiến tranh Việt Nam đến các đại công ty như IBM, DEC, chống lại quan niệm máy tính lớn (mainframe machines), những cỗ máy khổng lồ đặc trưng cho quyền lực, sự kiểm soát và phục vụ chiến tranh lúc bấy giờ. Nhưng họ không phải rút lui để hưởng thụ cá nhân, mà lại có một định hướng mới về công nghệ, đó là tạo ra công cụ công nghệ mới để nhân dân làm chủ và tự quản lý đời mình. Nó thể hiện qua những chiếc máy tính cá nhân họ mơ ước – để trao quyền lực về nhân dân – power to the people – để được tự do, và kết nối với những người mình thích. Muốn thay đổi xã hội thì “Hãy thay đổi công cụ của họ”, như “nhà truyền giáo” của văn hóa đối lập đầy ảnh hưởng Stewart Brand, quan niệm. Brand là nhân chứng huyền thoại vẫn còn sống ở San Francisco (87t) của thời cách mạng sôi động nhất trong lịch sử trên một vùng đất nhỏ xíu tại vùng vịnh San Francisco, nhưng lại là vùng đất của thần Prometheus đem ngọn lửa mới lan tỏa khắp địa cầu. Nó truyền cảm hứng cho thanh niên và quốc gia trên khắp hành tinh, xuất phát từ một văn hóa, niềm tin ban đầu của những thanh niên tiến hành một cuộc “phiêu lưu” nhưng có định hướng như ý nghĩa của cuộc sống. Thung lũng Silicon trong nhiều nghĩa là trường học cho tương lai.

    HÀN QUỐC

    Dưới thời Park Chung Hee, giới lãnh đạo Hàn quốc có niềm tin mãnh liệt vào sự đổi đời của đất nước bằng con đường công nghiệp hóa, ứng dụng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Và họ đã làm quyết liệt, bất chấp bên ngoài biểu tình diễn ra, bất chấp không có sự hiểu biết từ các phe đối lập. Trong hai thập kỷ 1960 vả 1970 Park và các đồng sự, các nhà kỹ trị rất có năng lực của ông, đã thiết kế lộ trình công nghiệp hóa theo từng giai đoạn, đặt nền tảng vững chắc để kinh tế cất cánh sau đó. Trong vòng 40 năm đời người, thu nhập trung bình quân đầu người của Hàn Quốc đã tăng từ $100 năm 1961 lên tới xấp xỉ $20.000 vào năm 2005, nghĩa là sau 45 năm công nghiệp hóa0. Không chỉ có niềm tin sắt đá, mà giới lãnh đạo của Park Chung Hee còn ý thức quá trình công nghiệp hóa, từ phát triển công nghiệp nhẹ những năm 1960 đến phát triển công nghiệp nặng và hóa chất những năm 1970, xây dựng các cơ sở nghiên cứu khoa học, công nghệ và xây dựng cho bằng được, dù tình hình tài chính vô cùng khó khăn, khu liên hợp gang thép POSCO, đặt nền tảng cho sự phát triển công nghiệp nặng và quốc phòng. Giáo dục cũng phát triển toàn diện, bao gồm cả giáo dục và đào tạo nghề phục vụ cho công cuộc công nghiệp hóa đang phát triển nhanh và đòi hỏi phải có lực lượng kỹ thuật viên rành nghề phù hợp. Kỳ tích kinh tế của Hàn Quốc cũng gắng liền với kỳ tích của giáo dục. Trong bốn mươi năm, mentality xã hội nông nghiệp đã được biến đổi thành mentality hiện đại của một xã hội công nghiệp hóa.

    VIỆT NAM

    Chúng ta cần nhìn lại lịch sử Việt Nam xem có một lần nào giới tinh hoa, hay một nhóm trí thức có ảnh hưởng, chủ trương thực học (practical learning) và có niềm tin mạnh mẽ vào sự đổi đời với cái thực học không? Hàn quốc từng có phong trào như thế trong thế kỷ XVII. Đó là Sirhak. Nhưng phải đợi đến thời Park Chung Hee, thực học mới tỏa sáng như ngọn lữa để tinh luyện dân tộc này. Mời anh chị đón xem Dẫn nhập cho một quyển sách về Lịch sử của Triều Tiên sắp ra mắt.

    Xin bàn thêm một chút về điều này. Có lẽ người Việt Nam sống với cảm xúc nhiều hơn nên mới tập trung năng lực sáng tạo vào thơ văn, âm nhạc trữ tình, lãng mạn, cả tôn giáo với tính thiêng liêng có tính cứu rỗi. Họ không phải con người của lý tính, thích suy diễn, trầm tư, không quan tâm đến cái đẹp của tư duy logic, đến những cấu trúc vĩ đại của vũ trụ chi phối sự vận hành có thể ảnh hưởng đến con người. Họ cũng không quan tâm đến cấu trúc tinh tế của cơ thể con người và tạo vật trên trái đất, những cái đòi hỏi nghiên cứu mổ xẻ thí nghiệm suy luận. Khoa học là thách thức, không phải để thưởng thức như thơ văn, âm nhạc. Trong khi đó, Hy lạp là một dân tộc của tư duy, của lý tính. Trong khi tại những vùng đất văn minh khác xuất hiện những nhà lãnh đạo tôn giáo lớn, thì người Hy lạp rất sớm đã suy đoán về sự vận hành và cấu tạo của vũ trụ, điều sẽ đặt nền móng cho khoa khoa học sau này, và di sản tư duy đó được người châu Âu tiếp thu hết sức nhiệt tình, phát triển thành khoa học. Người châu Âu xem cái đẹp của các định luật vũ trụ, cấp vi mô và vĩ mô, là cái đẹp vĩ đại nhất. Lý tính của họ phát triển mạnh mẽ và không ngừng, từ thời Hy lạp qua đến thời Trung cổ châu Âu, và tiếp tục phát triển sau đó. Châu Âu là vùng đất mộ đạo có thể nói bậc nhất thế giới, xem sự hiện diện nhà thờ khắp nơi của họ. Nhưng những nhà lãnh đạo tôn giáo có tham vọng muốn hiểu cái mình tin, và đặt đức tin trên nền tảng của khoa học, của lý tính, của phân tích, chứ không chỉ là đức tin.

    Thật ra, theo những nét lớn, Hy lạp cũng có một thời “chuyển pha” từ thi ca với những nhà thơ lớn như Homer và Hesiod vào thế kỷ thứ tám vá bảy trước công nguyên sang giai đoạn cổ điển của văn xuôi và khoa học sau đó được khai mào bởi các “nhà vật lý” đầu tiên ở vùng đất Ionia. Quá trình này được thúc đẩy bởi sự phát triển của các thành bang, nền dân chủ và tư duy duy lý. Đức cũng là quốc gia từng chuyển từ “Dân tộc của các nhà thơ và tư tưởng” sang quốc gia của khoa học, công nghệ, phát minh và công nghiệp hóa mạnh mẽ.

    Rất tiếc, Việt Nam không nằm trong vùng đất của khoa học, như châu Âu nằm gần Hy lạp. Ngược lại, Việt Nam nằm gần những trung tâm tôn giáo, ý thức hệ lớn như Trung Hoa, Ấn độ, nên cũng như Hàn Quốc chẳng hạn vẫn tin rằng trung tâm của thế giới nằm tại Trung Hoa, ngay cả trong thời đại mà văn minh đó đã không còn nằm ở Trung Hoa nữa mà đã dịch chuyển sang phương Tây. Nhưng sau khi tiếp xúc với phương Tây những năm giữa thế kỷ XIX, Việt Nam cũng vẫn tỏ ra có sức ỳ lớn của quá khứ. Và cho đến hôm nay. Nhật Bản đã thức tỉnh một trăm năm mươi năm trước, có niềm tin mãnh liệt kiểu Mokyr, nên đã nhanh chóng thay đổi đất nước, kéo theo sự thức tỉnh lần lược của nhiều quốc gia khác theo cùng mô hình, cùng cất cánh, trong khi Việt Nam dường như vẫn có sức ỳ dai dẳng.

    Năm nay, lễ kỷ niệm thứ 100 ngày mất cụ Phan Châu Trinh được cử hành trọng thể, để nhắc nhở con đường Việt Nam còn phải đi phía trước. Nhưng con đường nào? Sự kiện Nhật thắng Nga trong chận chiến 1904-05 là tin sét đánh. Cả nước thêm sửng sốt trước những điều phi thường của dân tộc Nhật. Phan Châu Trinh nói với Phan Bội Châu một cách nóng lòng: “Tôi rất muốn sang Đông Kinh (Tokyo) cho biết rồi sẽ về nước ngay.” Và năm 1906 Cụ được toại nguyện. Sau khi quan sát các điều kiện xã hội của Nhật Bản, Phan Châu Trinh đã tóm tắt nhận định của mình với Phan Bội Châu về sự khác biệt giữa hai nền văn hóa: “Trình độ quốc dân người ta cao như thế ấy, trình độ quốc dân mình thấp như thế kia, không làm nô lệ sao được? Nay được mấy học sinh vào nhà trường Nhật Bản là sự nghiệp rất lớn của ông đấy…” Sau chuyến viếng thăm Nhật Bản 1906, đối với Cụ, một nước Việt Nam độc lập mà chưa canh tân sẽ dễ bị tổn thương trước các quyền lực lớn hơn trong vùng, và có nguy cơ phải thỏa hiệp nền độc lập vốn rất khó khăn mới giành được. Nước Nhật như đi vào tim của Cụ, và Cụ cảm nhận sâu sắc sự thành công của họ. Đó là thành công của văn hóa, của đạo đức, của sự thức tỉnh, của sự sắc bén trí tuệ, và của sự lãnh đạo kiên quyết và quyết đoán, của tinh thần bushido, của sự đổi mới toàn diện xã hội.

    Nhưng muốn nâng cao “trình độ quốc dân” thì phải làm gì? Dường như cụ Phan không có thì giờ để đi sâu. Hậu duệ phải đoán, bằng cách nhìn Nhật Bản, và bây giờ vào nhiều quốc gia khác cũng đã phát triển theo tấm gương Nhật Bản mà đoán. Bức tranh dưới đây cho thấy trung tâm hành phố Osaka năm 1929. Nó giống hệt như cảnh các thành phố ở châu Âu trong thế kỷ XIX. Nó cho thấy người Nhật đã công nghiệp hóa đất nước họ, một sự nghiệp vĩ đại chưa từng có ở các quốc gia ngoài châu Âu – 100 năm trước so với Việt Nam hôm nay. Họ làm như người châu Âu đã làm. Văn hóa nào đã tạo nên sự thay đổi đó? Tôi nghĩ, bức tranh rất đáng để chúng ta suy ngẫm. Năm 2022 tôi có viết một bài về trường hợp Hoa Kỳ sau cuộc nội chiến gợi ý về Cần một văn hóa khoa học để phát triển.

    Tôi nghĩ, đó là mẩu số chung của mọi sự phát triển để đổi đời quốc gia, không thể khác.

    Giao thông tại trung tâm thành phố Osaka năm 1929. Vào cuối những năm 1920, sự phát triển đã gây quá tải cho hệ thống giao thông chính quyền thành phố Osaka đã quyết định xây dựng một hệ thống đường sắt ngầm, do sáng kiến của Hajime Seki (1873-1935). Xem ảnh dưới:

    Ga Osaka đã biến khu phố Umeda thành trung tâm giao thông chính của thành phố, phát triển thịnh vượng, kết nối với Kyoto, Kobe và Sân bay Quốc tế Kansai.

    Để tiếp nối khai sáng của Phan Châu Trinh, các hậu duệ cần những loại khai sáng nào để “khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh”? Đây là việc làm hết sức quan trọng để cụ thể hóa khai sáng của Cụ. Chắc cần đến nhiều loại khai sáng, khai sáng khoa học, công nghệ, khai sáng công nghiệp hóa, khai sáng kinh tế Adam Smith, Schumpeter, Mokyr, khai sáng giải phóng con người khỏi “sự vô minh tự chuốc lấy” của Kant, dám biết, dám làm, khai sáng đạo đức, khai sáng về lòng yêu nước, trách nhiệm xã hội, khai sáng thể chế, về nhà nước kiến tạo và phát triển, khai sáng về văn hóa đọc, văn hóa học, như Nhật Bản từng là tấm gương vĩ đại, khai sáng về phát triển bức phá của các quốc gia như Nhật Bản, Hàn quốc, Đài Loan, và cả Trung Quốc hiện tại. Chúng ta cũng không quên khai sáng giáo dục đại học, tạm gọi khai sáng Humboldt, về vai trò hết sức quan trọng cho đổi mới sáng tạo, của nghiên cứu sâu khoa học và học thuật, là khâu hiện tại Việt Nam còn rất yếu. Tức là chúng ta cần một cuộc khai sáng bao trùm về tất cả mặt của đời sống quốc gia.

    Tôi tin, đó là những việc cần phải làm để tiếp nối và đưa khai sáng của Phan Châu Trinh ngày càng đi xa hơn và phù hợp với nhu cầu canh tân quốc gia. Giới tinh hoa Việt Nam cần tham gia sâu hơn vào quá trình phát triển bức phá.

    Nguyễn Xuân Xanh


    Không có nhận xét nào