Cú đại phẫu ngành tài chính và chiến thuật “ nắn dòng tiền”.
Nguyễn Thuận
18/4/2026
Ngay sau kỳ họp Quốc hội đầu tiên của khóa 16, ngày mùng 7-4 vừa qua, khi ông Lê Minh Hưng chính thức được bầu làm Thủ tướng Chính phủ, cùng với hai Phó Thủ tướng là ông Phạm Gia Túc và ông Nguyễn Văn Thắng, đều là những người có nền tảng sâu về tài chính và ngân hàng, đây không chỉ là sự sắp xếp nhân sự đơn thuần, mà còn phản ánh đúng điểm nghẽn lớn nhất của nền kinh tế hiện nay, đó là dòng vốn. Khi tăng trưởng đòi hỏi nguồn lực khổng lồ, nhưng hệ thống ngân hàng - trụ cột cung cấp vốn lại đang căng thẳng về thanh khoản và đối mặt với áp lực nợ xấu gia tăng. Lựa chọn này rõ ràng không phải ngẫu nhiên. Câu hỏi đặt ra là Chính phủ mới sẽ giải bài toán này theo lối cũ, hay sẽ có những bước đi khác biệt?
I. Thực trạng đáng báo động
1. Vấn đề cấp bách hiện nay nhất chính là tình trạng mất cân đối nghiêm trọng giữa huy động vốn và dư nợ cho vay trong hệ thống ngân hàng.
- Tính đến cuối tháng 9-2025, trong khi tổng tiền gửi của dân cư và tổ chức đạt khoảng 16,2 triệu tỷ đồng, thì tổng dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế đã vọt lên tới 17,78 triệu tỷ đồng. Thực trạng này đẩy hệ số dư nợ trên vốn huy động của nhiều nhà băng chạm ngưỡng 110%. Hiểu một cách đơn giản theo ngôn ngữ thị trường, ngân hàng chỉ có 10 đồng vốn nhưng đã phóng tay cho vay tới 11 đồng. Để bù đắp lỗ hổng 1 đồng thiếu hụt này, các ngân hàng buộc phải bước vào một cuộc đua lãi suất huy động khốc liệt. Có nơi đã chạm mốc 10%/1 năm, nhằm giành giật từng đồng tiền gửi để đảm bảo các chỉ số an toàn.
- Khi chi phí vốn đầu vào bị đẩy lên cao, lãi suất cho vay đầu ra cũng có thể bị kéo lên mức 13-15%. Nếu điều này xảy ra, nó sẽ trở thành rào cản khiến các doanh nghiệp sản xuất rơi vào tình trạng ngộp thở. Sự khan hiếm tiền mặt còn thể hiện qua lãi suất liên ngân hàng qua đêm, nơi mà các ngân hàng vay mượn lẫn nhau, có thời điểm, từng vọt lên mức 17%, một mức giá quá khủng khiếp, phản ánh áp lực thanh khoản đang căng như dây đàn.
2. Để giải cứu thanh khoản, Ngân hàng Nhà nước buộc phải bơm tiền ra thị trường thông qua các kênh thị trường mở, tuy nhiên, đây cũng là một con dao hai lưỡi đầy rủi ro.
- Trong bối cảnh các kênh sản xuất thực tế có vẻ đang đình trệ vì chi phí vốn quá cao, dòng tiền được bơm ra không thẩm thấu được vào nhà máy, xí nghiệp mà có nguy cơ chảy ngược vào lĩnh vực đầu cơ như bất động sản để tìm kiếm lợi nhuận nhanh, đây là điều mà không ai mong muốn.
- Nếu kịch bản đó xảy ra, thì đó chính là mầm mống khiến nợ xấu gia tăng, hiện đã chạm mốc 262.000 tỷ đồng. Số vốn bị đông cứng này tương đương với tổng mức đầu tư của gần 4 dự án đường sắt tốc độ cao đoạn Hà Nội - Vinh.
- Giả thuyết này có nghĩa là thay vì được quay vòng để tạo ra giá trị thặng dư cho xã hội, nó lại trở thành gánh nặng, trích lập dự phòng rủi ro, làm suy yếu năng lực tài chính của toàn bộ hệ thống và trực tiếp đe dọa đến mục tiêu tăng trưởng trong dài hạn.
3. Nhìn về tương lai, áp lực tài trợ cho các mục tiêu tăng trưởng GDP hai con số là một thách thức vô cùng lớn, đòi hỏi một nguồn lực tài chính vượt xa khả năng hiện tại.
- Theo VN Economy, để đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số, thì từ năm 2026 này, Việt Nam sẽ cần khoảng 1.400 tỷ USD trong vòng 5 năm, tức là trung bình mỗi năm là khoảng 280 tỷ USD, đây là một con số rất lớn nếu đặt trong bối cảnh hiện nay. Trong đó thì dòng vốn FDI dự kiến chỉ dao động khoảng 24-30 tỷ USD/năm, nghĩa là phần lớn nhu cầu, tức là khoảng 250 tỷ USD ấy, vẫn phải dựa vào nguồn lực trong nước. Và như thực tế lâu nay, ngân hàng vẫn là kênh cung cấp vốn chủ yếu.
- Ngay cả trong kịch bản tích cực, khi nhóm 4 ngân hàng quốc doanh cam kết bơm ra thị trường khoảng 1 triệu tỷ đồng, tương đương với 39 tỷ USD, cộng với FDI thì cũng mới chỉ đáp ứng được khoảng 70 tỷ USD. Như vậy thì nền kinh tế đang đối mặt với sự thiếu hụt lên tới 210 tỷ USD/năm, một con số lớn gấp 3 lần tổng mức đầu tư của siêu dự án đường sắt tốc độ cao Bắc Nam.
4. Cái khó thì cũng không chỉ nằm ở số lượng vốn mà còn nằm ở cấu trúc vốn lệch pha, kỳ hạn đầy rủi ro.
- Thực tế hiện nay, các dự án hạ tầng khổng lồ như cao tốc thường có tới 70% vốn là vay ngân hàng, đây là một nghịch lý về quản trị tài chính. Ngân hàng đang phải dùng tiền gửi ngắn hạn của người dân để đổ vào các dự án có thời gian thu hồi vốn kéo dài tới 20 năm, như Chủ tịch của ACB, ông Trần Hùng Huy đã từng nhận định: "Quy mô của hệ thống ngân hàng nội địa hiện nay vẫn còn quá mỏng để đơn phương gánh vác các siêu dự án quốc gia, nếu không sớm khơi thông được thị trường trái phiếu và cổ phiếu để huy động thêm nguồn lực trực tiếp từ xã hội, thì hệ thống ngân hàng sẽ sớm chạm tới ngưỡng chịu đựng tối đa và phải đối mặt với nguy cơ mất an toàn hệ thống"
- Vậy thì đứng trước những tình thế này, Nhà nước đã và đang làm gì? Thực tế thì ngay sau khi kiện toàn bộ máy, Chính phủ đã bước luôn vào cuộc đua với thời gian bằng một cuộc đại phẫu thuật toàn diện và thực chất.
II. Hành động của Chính phủ: đứng trước tình thế đó, Nhà nước đã triển khai một loạt các giải pháp cấp bách.
1. Đầu tiên và là quan trọng nhất chính là đề xuất cho phép mua bán nợ xấu theo giá thị trường.
- Trong quá khứ, chúng ta xử lý nợ xấu theo kiểu gom rác vào một góc thông qua VAMC bằng trái phiếu đặc biệt. Chưa biết thì VAMC hay là Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam được thành lập vào năm 2013. Thực chất, đây là một hình thức theo kiểu trì hoãn nợ, nơi mà khoản nợ xấu vẫn nằm trên bảng cân đối kế toán của ngân hàng dưới dạng tài sản ngoại bảng và chờ xử lý dần trong từ 5-10 năm.
- Nhưng với cơ chế mới, ngân hàng sẽ được phép bán đứt các khoản nợ này cho các định chế tài chính hoặc các quỹ đầu tư theo giá trị thực tế của thị trường. Việc bán nợ theo giá thị trường giúp ngân hàng lập tức làm sạch bảng cân đối kế toán, giải phóng dòng vốn đang bị đóng băng để tái đầu tư vào các lĩnh vực sinh lời.
- Thay vì ngồi chờ thu hồi nợ trong vô vọng, ngân hàng chấp nhận cắt lỗ thực tế để đổi lấy thanh khoản tươi. Ví dụ như là ngân hàng có một khoản nợ xấu 1.000 tỷ đồng, được đảm bảo bằng một dự án bất động sản đang đắp chiếu đi, thay vì giữ khoản nợ này và phải trích lập dự phòng rủi ro lên tới hàng trăm tỷ đồng mỗi năm, ngân hàng sẽ có thể bán đứt khoản nợ này cho một quỹ xử lý nợ với giá giả dụ như là 600 tỷ đồng. Thì ngay lập tức, ngân hàng sẽ thu về 600 tỷ đồng tiền mặt để cho vay cho các ngành sản xuất đang khát vốn. Dòng vốn này thì nó sẽ được luân chuyển lập tức, thay vì bị chôn chân vào một góc, giúp tăng vòng quay tiền tệ trong nền kinh tế.
Không có nhận xét nào