Tác giả: Song Chi
01/5/2026
Loạt bài về chủ đề 51 năm ngày 30/4/1975
Từ trái sang phải: Nhà báo Đinh Quang Anh Thái, nhà văn Nguyễn Viện, nhà báo Từ Thức, nhà văn Nha Mân không gửi hình vì lý do an toàn.
51 năm, hơn một nửa thế kỷ kể từ ngày cuộc chiến Việt Nam kết thúc (30/4/1975 – 30/4/2026). Đối với một đời người là quá dài. Đối với một quốc gia, một dân tộc, quãng thời gian đó vừa rất ngắn lại vừa dài – tùy theo. Nếu chọn đúng đường, đúng mô hình thể chế chính trị thì sẽ có những bước tiến vượt bực, nhưng nếu chọn sai và cương quyết không thay đổi thì sẽ thụt lùi hàng trăm năm; còn như Việt Nam, sai rồi lại sửa, sửa rồi lại sai, bởi chỉ thay đổi nửa vời, thì con đường để trở thành một quốc gia thịnh vượng, một dân tộc hạnh phúc cũng xa vời vợi.
Nhân dịp này, Tạp chí Thế Kỷ Mới phỏng vấn một số nhà văn, nhà báo trong và ngoài nước, là nhà báo Đinh Quang Anh Thái (California, Mỹ), nhà báo Từ Thức (Paris, Pháp), nhà văn Nguyễn Viện (Sài Gòn, Việt Nam), nhà văn Nha Mân (Tuy Hòa, Việt Nam) chung quanh những nhận định về Việt Nam sau hơn nửa thế kỷ, vấn đề hòa giải hòa hợp, phong trào đấu tranh dân chủ cũng như tương lai của Việt Nam.
***
SC: Thưa các nhà văn nhà báo, theo các ông, sau 51 năm, Việt Nam dưới sự lãnh đạo của đảng và nhà nước cộng sản, là một quốc gia thành công hay thất bại, tại sao, và ở những khía cạnh, lĩnh vực nào?
Nhà báo Đinh Quang Anh Thái:
Thời điểm 1986, kinh tế Việt Nam đen tối tới độ, lãnh đạo Đảng Cộng Sản là Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh phải tuyên bố “đổi mới hay là chết”. Từ đó, Việt Nam mở cửa cho các tập đoàn doanh thương nước ngoài ồ ạt vào đầu tư, kết quả là kinh tế bắt đầu khởi sắc, đời sống người dân bớt khổ hơn. Các đô thị lớn thì cao ốc mọc lên như nấm, thoạt nhìn thì Việt Nam đang trên đà phát triển mạnh. Nhưng vì Đảng Cộng Sản chỉ “đổi mới” nửa vời với khẩu hiệu “kinh tế thị trường theo định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa”, nên thực chất, nền kinh tế của Việt Nam cho tới bây giờ vẫn là kinh tế “tư bản rừng rú.” Hầu hết lợi quyền lọt vào tay đám quan tham trong khi dân đen chỉ được hưởng lợi nhỏ giọt.
Trong đời sống xã hội dân sự, Đảng Cộng Sản vẫn toàn trị, kiểm soát mọi sinh hoạt của người dân, báo chí hoàn toàn trong tay đảng, tư pháp không được độc lập. Tóm lại, Việt Nam vẫn chưa thoát khỏi “vòng kim cô” của Đảng Cộng Sản.
Nhà báo Từ Thức:
Việt Nam ngày nay là quốc gia bị các tổ chức quốc tế xếp vào hàng cuối cùng về tự do, dân chủ, nhân quyền, một trong những nước đứng hàng đầu về đàn áp báo chí, tôn giáo, nghiệp đoàn; một quốc gia không có văn hoá, vì tất cả các sinh hoạt văn hoá đều do Đảng lãnh đạo.
Về ngoại giao, càng ngày càng lệ thuộc Tàu: những ký kết gần đây giữa Tô Lâm và Bắc Kinh là một bằng chứng.
Những cải tổ chính trị, hành chánh gần đây của Tô Lâm, nói là để vươn mình, sánh vai với thế giới, thực ra chỉ để củng cố Đảng, củng cố quyền lực của Tô Lâm và phe cánh Hưng Yên của Tô Lâm.
Đất nước ngày nay nằm trọn trong tay một nhóm mafia đỏ, với một đội ngũ công an càng ngày càng đông, với quyền lực vô giới hạn. Mô hình kiểm soát dân sự bề ngoài có vẻ bớt tàn bạo, nhưng chặt chẽ hơn, tinh vi hơn, theo đúng mô hình của Tàu.
Nhiều người, kể cả một số người Việt hải ngoại về thăm nhà, nhìn thấy nhà cao, cửa rộng, xa lộ, hải cảng, đã ca ngợi thành quả kinh tế của Việt Nam.
Quả thực kinh tế có khá hơn thời bao cấp, nhưng lợi tức trên đầu người của Việt Nam vẫn trong số thấp nhất trong vùng, chưa nói tới những nước thịnh vượng như Nam Hàn, Đài Loan, Singapore có lợi tức gấp 10, 20 lần.
Bất công, tham nhũng càng ngày càng khủng khiếp, sau những phong trào “đốt lò”, sự thực chỉ đốt những phe cánh đã thất thế.
Trên lý thuyết, Việt Nam có điều kiện để phát triển.
Thứ nhất, hàng tỷ dollars của người Việt tỵ nạn hay người Việt đi lao công, đúng hơn là đi làm nô lệ ở nước ngoài, gởi về. Thứ hai, chiến tranh thương mại giữa Mỹ và Tàu đã khiến các công ty quốc tế đổ vào đầu tư ở Việt Nam. Thứ ba: dân số Việt Nam tương đối trẻ, đầy nghị lực, chấp nhận đồng lương rẻ mạt, trong khi các quốc gia khác, kể cả Tàu, đang khốn đốn vì dân số càng ngày càng bớt, càng ngày càng già.
Mặc dầu vậy, cái phát triển của Việt Nam chỉ là giả tạo.
Câu dưới đây tóm tắt hiện trạng kinh tế Việt Nam, tác giả chắc chắn sẽ vào tù về tội phỉ báng nhà nước, bêu xấu chế độ, nếu không phải là Tô Lâm, được media nhà nước đăng tải, đại ý: “Việt Nam là một bãi rác công nghiệp của thế giới, vì trên 80% doanh nghiệp xuất cảng từ Việt Nam là của người nước ngoài. Chúng ta chỉ đổ mồ hôi làm chuyện lắp ráp, lợi nhuận khổng lồ trong ngành sản xuất đều rơi vào tay các tập đoàn nước ngoài” (Phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm tại Diễn đàn quốc gia phát triển doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam lần thứ VI)
Nhà văn Nguyễn Viện:
Sau 51 năm chấm dứt chiến tranh, Đảng và chính quyền Cộng sản đã định hình một Việt Nam là một quốc gia đầy mâu thuẫn, vừa muốn hoà nhập với thế giới, vừa tự khép mình vào một định chế đóng kín.
Hậu quả:
Về tổng thể, thu nhập quốc dân cũng như đời sống thực của từng con người, từng gia đình đã có những bước tiến rõ rệt. Cuộc sống được nâng cao hơn hẳn so với chính nó mấy chục năm trước.
Bước tiến về giáo dục là một ví dụ cho nỗ lực của chính quyền không thể phủ nhận, cho dù nó đầy khiếm khuyết. Gần như 100% trẻ em bậc tiểu học được khuyến cáo đến trường. Số lượng trường học và sinh viên tốt nghiệp đại học có một tỉ lệ đáng tự hào. Số lượng người trẻ du học ở nước ngoài cũng rất lớn so với thu nhập trên lý thuyết của người dân.
Cho dù thực chất thế nào, thế hệ tuổi trẻ hôm nay của Việt Nam không có gì phải tự ti với thế giới.
Tuy nhiên, chính quyền Cộng sản theo bản chất của nó, sẽ mãi mãi là một nhà nước độc tài. Những tiếng nói khác biệt vẫn bị vùi dập. Chủ nghĩa lý lịch vẫn cơ bản là yếu tố để thăng tiến trong quan trường. Và cơ chế nhân sự lãnh đạo vẫn không dành cho người dân quyền chọn lựa đích thực.
Hệ quả đó dẫn đến một thảm trạng hay thất bại lớn nhất của chính quyền Cộng sản là tạo ra một hệ thống thư lại tham nhũng không thể cứu chữa, cũng như một hệ thống đạo đức xã hội bị phá huỷ rất khó phục hồi.
Mặc dù đã có những thành tựu, nhưng với bản chất độc tài và nghi kỵ, chính quyền Cộng sản đã làm chậm sự phát triển của đất nước.
51 năm hoà bình, lẽ ra Việt Nam không chỉ như hôm nay.
Nhà văn Nha Mân:
Phải nói ngay là thất bại hoàn toàn. Nửa thế kỷ, thời gian quá dài để một quốc gia điều chỉnh, sắp xếp mô hình kinh tế xã hội. Nhưng sau 30.4.75, đảng và nhà nước Việt Nam vẫn rập khuôn theo mô hình Liên Xô và Trung cộng. Sai lầm lớn nhất là tập trung cải tạo công thương nghiệp ở miền Nam, xóa sổ nền công nghiệp đã thiết lập được nền tảng vững chắc, chuyển hẳn sang xí nghiệp quốc doanh, rồi giao cho cá nhân, tập thể không nắm vững sự chuyển động của nền kinh tế điều hành: hậu quả dẫn đến phá sản, đất nước đã nghèo càng nghèo, lạc hậu… dân đói khổ, phơi bày bộ mặt thảm hại của nền sản xuất XHCN!
SC: Khoan nói đến mô hình thể chế chính trị, nếu có thể chọn 1,2 lĩnh vực ưu tiên để từ đó thay đổi/sửa chữa/xây dựng lại làm nền móng cho một sự chuyển biến tốt đẹp hơn của Việt Nam trong tương lai, các ông sẽ chọn lĩnh vực nào? (ví dụ báo chí truyền thông, luật pháp, tư pháp, giáo dục, kinh tế v.v…)
Nhà báo Đinh Quang Anh Thái:
Bước khởi đầu cần phải thay đổi để Việt Nam đi tới, đó là phải có một nền giáo dục khai phóng, một nền tư pháp độc lập, một nền báo chí tự do.
Giáo dục khai phóng để phục hồi các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc đã bị Cộng Sản phá nát.
Tư pháp độc lập để phán xử công bằng mọi hành vi sai trái của bất cứ ai phạm luật – mà không bị sự chỉ đạo của đảng cầm quyền.
Báo chí tự do để giữ vai trò phê phán nhà cầm quyền và phản ảnh ước vọng của người dân.
Nhà báo Từ Thức:
Trước hết là tự do báo chí. Bởi vì tự do ngôn luận là cha đẻ cuả tất cả các quyền tự do khác. Khi độc tài lên cầm quyền, việc đầu tiên là đưa những người cầm bút vào nhà tù. Ở những nước độc tài tập sự, việc ưu tiên là triệt hạ uy tín của báo chí, để tạo một hệ thống media trung thành với người cầm quyền.
Trả lại tư do ngôn luận là việc khẩn cấp, nhưng sẽ không bao giờ xẩy ra ở một xứ Cộng Sản, dù chỉ là Cộng Sản nửa mùa, đúng hơn là một mafia đỏ. Bởi vì cho tự do báo chí là cưa cái cành cây mình đang ngồi.
Lãnh vực thứ hai là giáo dục, bởi vì giáo dục chuẩn bị tương lai cho cả một dân tộc. Việc cải thiện hệ thống hay triết lý giáo dục cũng sẽ không bao giờ xẩy ra ở Việt Nam vì mục đích của giáo dục trong một nước độc tài không phải là để chuẩn bị tương lai của đất nước, nhưng để đào tạo nô lệ, trung thành với Đảng, đào tạo những thề hệ không biết suy nghĩ, suy luận, không có lý tưởng, chỉ quan tâm đến quyền lợi vật chất cá nhân.
Tất cả những cuộc thảo luận nhằm cải thiện chuyện này chuyện kia trong một chế độ độc tài chỉ là bánh vẽ, bởi vì cải thiện thực sự sẽ làm lung lay chế độ.
Nhà văn Nguyễn Viện:
Nhìn vào thực tế xã hội Việt Nam, không có lãnh vực nào là không cấp bách phải sửa chữa, thay đổi. Và tôi thật sự nghĩ rằng, cái tệ hại nhất của mọi chính sách nhà nước chính là sự thiếu đồng bộ.
Dù thế, người ta vẫn nói giáo dục là căn bản cho mọi căn bản của một xã hội phát triển. Nhưng với tôi, Việt Nam hôm nay cần nhất một nền tư pháp độc lập và công minh, khả dĩ tạo lập niềm tin cho người dân về thể chế cũng như luân lý xã hội mà con người phải tuân thủ. Tiếc thay, cái nền tư pháp bệnh hoạn ngày nay chỉ cho phép người ta tin vào quyền lực và tiền bạc. Không khó để chỉ ra vô vàn các ví dụ điển hình về sự bất công mà nền tư pháp này đã thể hiện, bất chấp đạo đức và công luận.
Chỉ có một nền tư pháp công minh mới khiến người dân tin vào chính quyền.
Nhà văn Nha Mân:
Một đất nước phát triển tốt cần có những con người tốt, từ sự đào tạo bài bản, căn cơ như các nước tân tiến đã áp dụng. Để trở thành một kỹ sư cơ khí phải mất 4 năm, nhưng hiện nay, Việt Nam đã phí phạm thời gian 1 năm hay hơn để nhồi nhét môn kinh tế chính trị Mác–Lê nin cho sinh viên! Một môn học vô bổ, chẳng dính dáng và giúp ích gì đến ốc vít hay điều trị cho bệnh nhân… Do vậy, cấu trúc giáo dục phải thay đổi triệt để, có một tiêu chí hẳn hòi chứ không thể mập mờ, mò mẫm suốt 50 năm trong bóng đêm!
Nhưng bên cạnh, báo chí phải độc lập, được coi trọng, xem như đệ tứ quyền giúp phản biện, chỉ ra những sai sót cần điều chỉnh hợp lý. Dập tắt tự do báo chí đồng nghĩa với sự phủ nhận tuyệt đối con đường tiếp cận với sự tiến bộ, văn minh trên thế giới. Tất cả các chế độ độc tài trên hiện nay đều xem tự do báo chí là lực cản quyền lực, là kẻ thù nguy hiểm, hơn cả giặc ngoại xâm.
Với thể chế hiện nay, cộng với sự ràng buộc ý thức hệ và khuynh hướng độc tài đảng trị thì tự do báo chí ở Việt Nam xem như giấc mơ người dân được bay lên mặt trăng!
SC: Sau một cuộc nội chiến kéo dài 30 năm (1945–1975), quốc gia rất cần phải có một chính sách hòa giải hòa hợp dân tộc đầy thiện chí. Cho đến nay các ông đánh giá đảng và nhà nước cộng sản Việt Nam đã làm được những gì?
Nhà báo Đinh Quang Anh Thái:
Muốn hòa giải – hòa hợp dân tộc thì chế độ cầm quyền hiện nay cần phải: 1/ Sòng phẳng với quá khứ, nhìn lại lịch sử một cách khách quan chứ không thể viết lịch sử bằng sử quan Mác–Lê và ở vị thế kẻ chiến thắng. 2/ Chấm dứt mọi chánh sách, hành động, lời nói, văn bản với nội dung nhục mạ “bên thua cuộc”. 3/ Phục hồi danh dự cho những nạn nhân bị chết oan khuất dưới tay đảng Cộng Sản, và trả lại phẩm giá cho những người còn sống bị chế độ đầy đọa từ khi cộng sản quy đất nước về một mối.
Không thể hòa giải – hòa hợp dân tộc khi chế độ hiện nay vẫn chưa thực hiện các điều kiện nêu trên.
Nhà báo Từ Thức:
Họ thành công một cách đáng kể là, một mặt, biến những “người phản quốc, chạy theo bơ sữa của Mỹ” thành những “khúc ruột ngàn dặm” gởi hàng tỷ dollars về nuôi chế độ. Mặt khác, vẫn “hát trên những xác người”, reo mừng chiến thắng, kỷ niệm chiến công đã khiến hàng triệu người chết, hàng trăm ngàn người bỏ mạng trên biển cả.
Người ta đặt cầu hỏi: tại sao sau nửa thế kỷ, nhà nước không hoà giải, hoà hợp để cùng nhau xây dựng lại đất nước.
Vấn đề là một chế độ độc tài phải có kẻ thù để đóng vai lãnh đạo. Chống Mỹ thì mất đô la, vì kinh tế quá lệ thuộc vào việc xuất cảng sang Mỹ. Chống Tàu thì mất mạng. Cái kiêu hãnh duy nhất còn lại để mỗi năm khoe khoang là đã chiếm được miền Nam năm 75.
Nhà văn Nguyễn Viện:
Bởi vì thiếu niềm tin, họ đã làm được rất ít.
Nhà văn Nha Mân:
Không có gì cả. Không hòa, không hợp. Hòa giải hòa hợp chỉ là câu khẩu hiệu cửa miệng, là chiếc mặt nạ giả nhân, trí trá nhằm đánh lừa thế giới và moi đô la “khúc ruột ngàn dặm”! Xét về nhân cách, còn thua xa đám cướp ngày Lương Sơn Bạc! Chế độ lý lịch vẫn chễm chệ ngự trị trên bàn các quan chức cầm quyền mãi tận hôm nay. Nó ăn sâu vào não trạng của chế độ. Cho tới thời điểm này, chế độ vẫn mặc nhiên coi cán bộ, quân nhân, công chức miền Nam là đối tượng cần phải hết sức cảnh giác, đề phòng; con em họ không dễ gì đem tài năng ra thi thố hay phụng sự cho đất nước.
Và, chỉ khi nào khai tử điều 4 Hiến pháp CHXHCN Việt Nam thì lúc đó họa chăng mới có chuyện hòa giải hòa hợp!
Nhưng đáng buồn nhất là sự phân hóa Nam–Bắc (75) trong nhân dân. Đồng bào ruột thịt máu đỏ da vàng cùng một gốc mà không hiểu được nhau, không chia sẻ được nỗi đau thương, mất mát cùng nhau thì hòa với hợp chỉ là những lọn mây xám xịt trên bầu trời
cao, vòi vọi.
SC: Theo các ông, điều đáng lo nhất, mối nguy lớn nhất của Việt Nam hiện nay là gì? (Kinh tế, an ninh quốc phòng, chính sách đối ngoại, văn hóa, môi trường, đạo đức xã hội, giáo dục, dân trí, sự vô minh v.v…?)
Nhà báo Đinh Quang Anh Thái:
Mối lo nhất hiện nay là làm sao phục hồi con người Việt Nam thời trước khi Cộng Sản nắm quyền từ mùa Thu 1945 ở ngoài Bắc, sau đó là từ 1975 ở miền Nam.
Nhà văn Nguyễn Khải, người theo cộng sản cả đời, trong cuốn hồi đi ĐI TÌM CÁI TÔI ĐÃ MẤT, Nguyễn Khải mô tả các lãnh tụ cộng sản như sau:
“Họ nói dối, nói dối hiển nhiên, không cần che đậy. Vẫn biết rằng nói dối như thế sẽ không thay đổi được gì vì không một ai tin nhưng vẫn cứ nói. Nói đủ thứ chuyện, nói về dân chủ và tự do, về tập trung và dân chủ, về nhân dân là người chủ của đất nước còn người cầm quyền chỉ là nô bộc của nhân dân. Rồi nói về cần kiện liêm chính, về chí công vô tư, về lý tưởng và cả quyết tâm đưa đất nước tiến lên chủ nghĩa cộng sản. Nói dối lem lém, nói dối lì lợm, nói không biết xấu hổ, không biết run sợ vì người nghe không có thói quen hỏi lại, không có thói quen lưu giữ các lời giải thích và lời hứa để kiểm tra. Hoặc giả hỏi lại và kiểm tra là không được phép, là tối kỵ, dễ gặp tai hoạ nên không hỏi gì cũng là một phép giữ mình. Người nói nói trong cái trống không, người nghe tuy có mặt đấy nhưng cũng chỉ nghe có những tiếng vang của cái trống không.”
Lãnh đạo thì như thế! Người dân thì hàng ngày phải sống, phải chứng kiến sự dối trá lên ngôi như thế nên họ cũng quen dần với cách sống “nghĩ một đằng, nói một nẻo” mà không thấy đó là sai trái.
Đó là điều đáng lo nhất, mối nguy lớn nhất của Việt Nam hiện nay.
Nhà báo Từ Thức:
Tất cả những điều đó đều là mối nguy lớn của Việt Nam. Nhưng kinh tế, chính sách đối ngoại chỉ là những mối nguy nhất thời, có thể thay đổi rất nhanh nếu có một chính phủ sáng suốt, đặt quyền lợi của đất nước trên quyền lợi đảng phái.
Cái nguy hại ngàn đời là chế độ Cộng Sản đã tạo ra một dân tộc vô lý tưởng, giả vờ để sống qua ngày, không mong đợi gì ở tương lai, không biết đi hướng nào, đi về đâu. Cái nguy hại ngàn đời là một xã hội băng hoại, trong đó mọi giá trị tinh thần bị triệt hạ, đảo lộn.
Khi nào giấc mơ của thanh niên vẫn là trở thành công an, của thiếu nữ là lấy chồng Đài Loan, Nam Hàn, xã hội Việt Nam là một xã hội tuyệt vọng.
Nhà văn Nguyễn Viện:
Sự vô minh.
Nó không chỉ làm cho người ta mất khả năng phân biệt đúng/ sai, mà còn làm cho con người lạc lối và làm cản trở mọi thiện chí xây dựng.
Nhà văn Nha Mân:
Hình tướng của đảng và nhà nước Việt Nam hiện nay là sự vô minh toàn diện, chọn sai thiết chế chính trị dẫn đến đất nước vẫn mãi “lạch bạch” theo đuôi các nước trong khu vực. Không những thế, đất nước còn bị đặt trong tình trạng lệ thuộc về chính trị, kinh tế, không tìm ra lối thoát!
Các lĩnh vực văn hóa, giáo dục, đạo đức, dân trí xuống cấp nghiêm trọng: suy nghĩ và hành động theo quán tính bầy đàn… từ sự tuyên truyền dối trá và man rợ. Hình tướng này có thể giữ được sự ổn định tạm bợ cho chế độ, nhưng đồng thời sẽ càng phụ thuộc sâu hơn vào Bắc Kinh: chủ quyền và độc lập dân tộc như chiếc lá trôi giữa sóng nước! Cộng thêm sự tham nhũng tràn lan của các quan chức từ TW xuống địa phương càng phá nát sự phát tiển mọi mặt của đất nước.
SC: Phong trào đấu tranh dân chủ của Việt Nam gần như đã bị dập tắt hoàn toàn. Báo chí truyền thông độc lập cũng tồn tại một cách ngắc ngoải. Trong nước thì đã trở thành một chế độ độc tài công an trị rất vững từ trên xuống dưới. Trước tình trạng này, theo các ông, Việt Nam liệu có hy vọng gì để thay đổi theo hướng dân chủ hóa không hay sẽ giữ nguyên mô hình hệ thống này nhiều năm nữa và thế hệ bây giờ sẽ để lại cho con cháu một đất nước Việt Nam ra sao trong tương lai?
Đinh Quang Anh Thái:
Tương lai một nước Việt Nam dân chủ vẫn còn mờ mịt, xa vời. Việt Nam có những cá nhân đấu tranh cho dân chủ nhưng chưa có một tập hợp những người đấu tranh dân chủ để trở thành đối trọng với chế độ toàn trị hiện nay. Đó là chưa kể, một số không ít người tha thiết với dân chủ hiện sống ở trong nước và ở hải ngoại vẫn chỉ mới ở bước đầu là chống cái ác – biểu hiện là độc tài; còn bênh cái thiện – xây dựng dân chủ, tự do, nhân quyền – mới là bước đường dài cần nhiều nỗ lực, kiến thức.
Nhà báo Từ Thức:
Nếu bi quan, sẽ thấy ngày nay chế độ độc tài càng ngày càng mạnh tại Việt Nam, nhất là trong một thế giới khủng hoảng, bạo lực nắm thế thượng phong, chủ nghĩa quốc gia cực đoan lên mạnh, không ai tha thiết gì tới nhân quyền ở những nước khác. Người tranh đấu cho tự do dưới các chế độ độc tài càng ngày càng cô đơn.
Nhìn một cách lạc quan, vẫn còn những người bất chấp nguy hiểm, tranh đấu cho tự do. Và, trong lịch sử, những chế độ độc tài mạnh nhất, từ thực dân, apartheid, phát xít, tới Cộng sản Xô Viết, tưởng sẽ đứng vững ngàn thu, đều đã sụp đổ, nhiều khi chỉ một sớm một chiều, giữa lúc bất ngờ nhất.
Vấn đề là phải ý thức rằng xây dựng lại xã hội là một việc lâu dài, và mỗi người phải đóng góp, trong khả năng của mình.
Nhà văn Nguyễn Viện:
Việt Nam sẽ không có gì thay đổi sau nhiều năm nữa.
Nhà văn Nha Mân:
Báo chí truyền thông độc lập là mạch máu, là hơi thở của phong trào đấu tranh dân chủ, có vai trò và vị trí rất quan trọng trong mọi mặt kinh tế, chính trị, xã hội… Một khi bị dập tắt thì hiệu ứng đòi hỏi tự do dân chủ cũng lụi tàn. Điều này, nhà văn nhà báo Phạm Thị Hoài cũng đã nói rất rõ trên TCTKM (“Nhà văn, nhà báo Phạm Thị Hoài: Tự do ngôn luận khắp thế giới đang rất suy yếu. Báo chí độc lập phải chứng tỏ sự ưu việt bằng chất lượng”,Tạp chí Thế Kỷ Mới)
Không còn chút hi vọng gì báo chí truyền thông độc lập được trở lại hoạt động đúng chức năng của nó, vì như thế sẽ đụng chạm tận cùng những khuất tất của các quan chức từ địa phương lên trung ương. Họ bịt miệng báo chí độc lập, tăng cường kiểm soát nhân dân dưới mọi hình thức và trong mọi lĩnh vực. Họ điều hành đất nước không phải vì đồng bào, vì tổ quốc mà vì búa liềm, vì lợi ích của nhóm trong số 5 triệu đảng viên.
Thêm nữa, không có ai hoặc nhóm hội nào có đủ khả năng, tài đức để dẫn dắt phong trào đòi quyền tự do, dân chủ, tam quyền phân lập, để người dân tự do cầm lá phiếu chọn người đại diện xứng đáng cho mình trong nghị viện, chính phủ. Không hi vọng gì sẽ có cuộc “cách mạng màu”; đảng Cộng Sản Việt Nam vẫn tiếp tục đặt lợi ích tổ quốc, dân tộc dưới gót chân, sử dụng tài nguyên quốc gia và nguồn nhân lực hiện có như là tải sản riêng.
SC: Thưa các ông nhận thấy triết lý sống, phương châm sống hiện tại trong xã hội Việt Nam là gì? Triết lý, phương châm sống đó có gì không ổn?
Nhà báo Đinh Quang Anh Thái:
Tôi chưa về lại Việt Nam từ khi vượt biên cách đây hơn 40 năm nên không có cái nhìn dựa trên thực tế người thật – việc thật. Chỉ đọc qua báo chí của nhà nước và qua những người từ trong nước đi ra, những người từ hải ngoại về thăm nhà, thì thấy nổi cộm nhất trong cách sống của nhiều người mình là “cơm áo, gạo tiền” là trên hết. Nhưng cũng có những cá nhân biết nghĩ đến người khác.
Nhà báo Từ Thức:
Triết lý sống của người Việt ngày nay là được yên ổn làm ăn. Nhịn nhục để sống, coi những lợi lộc vật chất là lý tưởng ở đời. Câu nhật tụng của rất nhiều người: bây giờ Việt Nam không thua ai, cái gì cũng có. Quên rằng “cái gì cũng có” chỉ dành cho một thiểu số. Quên rằng cái gì cũng có, nhưng không có tự do, nhân phẩm là một bi kịch lớn nhất của con người.
Nhà văn Nguyễn Viện:
Người Việt Nam hôm nay thực dụng hơn bao giờ hết. Đó cũng là lý do Việt Nam sẽ không có gì thay đổi sau nhiều năm nữa.
Nhà văn Nha Mân:
Buông trôi, bất lực! Dân lao động thì “ai sao tui vậy”. Giới trí thức đa phần trùm chăn.
Một khi cất tiếng nói phản biện để góp ý điều chỉnh một vấn đề nào đó có lợi cho đất nước (nhưng hại cho nhóm lợi ích) thì Công An lập tức lôi các điều khoản trong bộ luật hình sự, quy kết là phá hoại, xâm phạm an ninh quốc phòng… mà điển hình và mới nhất là vụ cô Hồng Thái Hoàng!
Người dân trong nước rất sợ luật pháp, bởi nó không bảo vệ công lý, bảo vệ lẽ phải, mà bảo vệ cho các quan chức và quyền lợi của họ, điển hình là vụ Nguyễn Sỹ Cương và “tử tù” Hồ Duy Hải… tất cả trở thành nỗi ám ảnh, sợ hãi trong dân.
Tinh thần phản kháng, đả phá các bất công xã hội dần thoi thóp như người mắc bệnh ung thư thời kỳ cuối. Mầm móng yếu hèn này dễ dẫn đến mất nước, mà thực tế cũng đã chứng minh: Đảng CSVN đã để mất Trường Sa, ải Nam Quan, thác Bản Giốc cùng 25.000km vuông dọc biên giới Việt–Trung trước mắt quốc dân đồng bào, nhưng những người yêu nước vừa lên tiếng phản ứng, lập tức nhận ngay sự đàn áp dã man, khiến ta phải nghĩ dàn lãnh đạo đất nước lâu nay có khác gì những tên thái thú của Tàu như ngàn năm trước ?
SC: Theo các ông, khi nhìn lại 20 năm tồn tại ngắn ngủi của Việt Nam Cộng Hòa, có những điều gì mà đến nay sau hơn 50 năm, chế độ hiện tại vẫn chưa làm được?
Nhà báo Đinh Quang Anh Thái:
Lòng nhân ái và cách sống tử tế giữa người với người.
Nhà báo Từ Thức:
Việt Nam Cộng Hòa là một chế độ dân chủ tập sự, có nhiều khuyết điểm. Nhưng nhìn lại một cách công bình, người ta không khỏi ngạc nhiên thấy, chỉ trong 20 năm, trong hoàn cảnh chiến tranh ghê rợn, miền Nam đã thực hiện nhiều chuyện đáng kể.
Thí dụ một sinh hoạt văn hoá đa dạng, phong phú. Một hệ thống y tế tiến bộ, bình đẳng, miễn phí. Thí dụ một nền giáo dục nhân bản, coi việc trồng người là ưu tiên, và hoàn toàn miễn phí từ mẫu giáo tới đại học, từ làng quê tới thành phố. Độc lập vài năm, như một phép lạ, Việt Nam đã Việt Nam hoá các chương trình giáo dục, kể cả các đại học chuyên nghiệp trước kia còn ảnh hưởng Pháp rất mạnh.
Cái đáng kể nhất, và càng ngày người ta càng cảm thấy mất mát, là một xã hội tử tế. Xã hội tử tế, như miền Nam Việt Nam trước 75, là môi trường để xây dựng con người tốt, để xây dựng một đất nước mà mọi người hãnh diện sống, khác hẳn một xã hội cúi đầu sống qua ngày.
Nhà văn Nguyễn Viện:
Sự tự trọng.
Nhà văn Nha Mân:
Tôi rất tự hào từng là công dân Việt Nam Cộng Hòa, được hưởng thụ nền giáo dục nhân bản, dân tộc, khai phóng; được sống học tập, làm việc và hít thở bầu không khí tự do dân chủ.
Vấn đề lớn nhất mà hiện nay chế độc Cộng Sản Việt Nam chưa làm được, hoặc họ cố ý không muốn làm là thẳng tay dập tắt Tự do, Dân chủ, Công bằng ngay từ trong ý thức công dân qua con đường giáo dục. Một quốc gia thiếu tự do, dân chủ tất yếu thiếu tính minh bạch, dẫn đến độc tài, chủ quan, trì trệ: pháp quyền không rõ ràng, giáo dục thì bị chính trị hóa, giáo điều, xơ cứng, trở thành vật thế mạng, là nơi để công khai buôn bán bằng cấp như mớ rau con cá ngoài chợ. Mới thoạt nhìn, tưởng chừng mặt bằng dân trí, trình độ học vấn được nâng cao qua số liệu hàng chục ngàn, trăm ngàn thạc sĩ, tiến sĩ nhưng thực chất chỉ là những vỏ trấu, những hạt tấm mẳn!
SC: Câu hỏi dành cho 2 nhà báo đang sống ở ngoài nước: Có những ý kiến cho rằng cộng đồng người Việt ở nước ngoài là một cộng đồng đánh mất bản sắc, căn cước (identity) nhanh, chỉ đến thế hệ thứ hai, thứ ba sống ở nước ngoài là không còn sử dụng được tiếng Việt, không quan tâm gì nhiều đến lịch sử, văn hóa…Việt Nam nữa. Các ông nghĩ sao về điều này và liệu các cộng đồng người Việt ở nơi này nơi khác sẽ làm gì trước thực tế này?
Nhà báo Đinh Quang Anh Thái:
Cộng đồng di dân nào cũng trải qua kinh nghiệm như thế, nhất là với thế hệ thứ hai. Nhưng thế hệ thứ ba và các thế hệ sau sẽ có nhu cầu tìm hiểu cội nguồn. Dĩ nhiên họ sẽ vẫn nhận đất nước họ sinh ra và lớn lên là quê hương, nhưng song song, họ sẽ tìm cơ hội để về thăm vùng đất cội nguồn của cha ông họ.
Nhà báo Từ Thức:
Sự thực, đa số người Việt sống ở nước ngoài không từ bỏ căn cước của mình. Vẫn bám giữ văn hoá Việt, vẫn có nhu cầu sống quanh quẩn với nhau, ăn uống như người Viêt, quê hương vẫn nặng trong đầu, dù 2/3 hay 3/4 cuộc đời đã sống ở nước ngoài.
Thế hệ thứ hai, thứ ba ít lưu luyến với Việt Nam hơn. Điều đó cũng không đáng ngạc nhiên, vì tình cảm của con người được hình thành những năm đầu tiên trong đời. Nếu sinh ra ở nước ngoài, người ta thấy liên hệ tới quốc gia đang sống mạnh hơn là đối với một quốc gia xa lạ, nhất là khi các bậc cha mẹ người Việt ít khi trao đổi với con cái về dĩ vãng buồn nhiều hơn vui của đất nước mình.
Vấn đề của người Việt ở hải ngoại không phải là mất gốc nhanh chóng. Vấn đề của người Việt là cá nhân chủ nghĩa, coi cái tôi quá lớn, coi cái tôi quan trọng hơn cộng đồng. Từ đó đưa đến đố kỵ, chia rẽ, phân hoá trầm trọng. Khi nào mỗi người Việt chưa tự mổ xẻ để thấy cái xấu của chính mình, cộng đồng Việt vẫn không khá được, dù nhiều cá nhân đã thành công trên mọi địa hạt ở xứ người.
Vấn đề của người Việt là thiển cận, chủ quan, ít cầu tiến. Trong cái rủi mất nước, có cái may được sống trên khắp nơi trên thế giới. Đó là một cơ hội học hỏi quý giá, quan sát cái hay cái dở của thiên hạ, để xây dựng lại cộng đồng của mình, và sau này, xây dựng lại đất nước. Nhưng ít người Việt học được cái hay của thiên hạ. Thường thường chỉ học những cái xấu, để làm giầu thèm cái xấu của chính mình.
Bỏ được cái xấu, đặc biệt óc chia rẽ, đố ky, người Việt có thể xây dựng một nước Việt không thua bất cứ một dân tộc nào.
SC: Câu hỏi dành cho người đang sống ở Việt Nam. Các ông đánh giá thế nào về ông Tô Lâm và chính phủ mới? Theo các ông, điều tích cực nhất và điều tiêu cực, tồi tệ nhất nào mà ông Tô Lâm và các lãnh đạo ĐCS đã làm đối với đất nước kể từ khi ông Tô Lâm lên làm Tổng Bí thư?
Nhà văn Nha Mân:
Đó là cuộc đảo chánh quyền lực khi có trong tay lực lượng công an đủ mạnh để đàn áp đối thủ dưới chiêu bài diệt tham nhũng. Đây là lợi thế rất lớn để ông ta thâu tóm quyền lực. Mà ở Việt Nam, nạn tham nhũng như cào cào châu chấu, mở cửa ra là đụng mặt. Vua tham nhũng theo cách vua, tể tướng vơ vét theo cách tể tướng, rồi thập lục bộ, rồi tổng đốc, tri phủ… đến hương hào lý trưởng cũng thi nhau bòn rút ngân khố, tài sản quốc gia bằng nhiều cách nhiều ngả khác nhau. Bản thân ông Tô Lâm cũng đâu sạch sẽ gì cho cam. Vụ án AVG còn sờ sờ ra đó mà ai dám đụng?
Khi leo lên được bệ rồng, ông ta sắp xếp giang sơn bằng cách tạo vây cánh kiên rất cố và chắc chắn không thua gì dãy núi Andes ở nam Mỹ hay dãy núi Rocky ở bắc Mỹ.
Việc sát nhập các tỉnh trước hết không phải để phát triển kinh tế vùng mà tạo lợi thế, không còn đối thủ cạnh tranh để ông ta dễ dàng được đặt chân vào chức vụ cao nhất ở TW, loại bỏ sớm các đối trọng không thuộc phe. Thứ đến và nguy hiểm nhất là vung tay xóa bỏ ký ức văn hóa trong dân. Tên gọi các thành phố, làng xã từng là điểm hội tụ của dòng chảy lịch sử, văn hóa bỗng nhiên bị bóp chết tức tưởi.
Tôi thấy khá khôi hài trong vụ “sắp xếp lại giang sơn” này: guồng máy vẫn phải quay, tuy có xộc cót két, mà vẫn phải chạy; chạy với tâm trạng bấn lọan, thiếu sinh khí. Nhưng có một bộ phận kiên quyết chống lại tới cùng, ít nhất là cho tới hôm nay, đó là ngành logistics nhân dân. Mọi hàng hóa chuyển đi, đến đều theo địa chỉ cũ, khước từ thẳng thừng địa chỉ mới, đơn giản chỉ vì các shipper trong hệ thống logistics nhân dân không thể tìm ra khu phố Thổ An phường Lâm Tồn tỉnh Tây Ninh nào đó nằm chỗ nào? Đọc báo quốc doanh mấy tháng trước đưa tin: đàn cá voi xuất hiện ở biển Gia Lai, đàn cá heo nhảy múa ở biển Lâm Đồng. tàu đánh cá đang neo đậu ngoài biển Đắc Lắc bị cháy rụi v.v và v.v. Đọc những bản tin và cách rút tít này, các cư dân của “hãng thông tấn vỉa hè” có dịp đàm tiếu, thêm mắm dặm muối khiến bản tin nghiêm túc trở thành chuyện bi hài, bởi Qui Nhơn, Sông Cầu, Phan Thiết đã bị tẩy sạch trên văn bản hành chánh để tiếp tục xóa hẳn trong ký ức người dân.
Từ khi Tô Lâm thâu tóm quyền để lên Tổng Bí thư rồi Chủ tịch nước khoảng gần 1 năm rưỡi. Thời gian này cốt yếu thanh trừng nội bộ, củng cố quyền lực và đi cầu phong với hoàng đế phương Bắc, chưa thấy có một quyết sách nào khả dĩ mở đường cho đất nước phát triển trong tương lai!
Nhìn bộ mặt ngơ ngáo của ông Tô Lâm tại cuộc họp Hội đồng Hòa bình thế giới do Tổng thống Trump chủ xướng tai Washington D.C ngày 19.2.2026 rất dễ hình dung ông ta cũng chỉ như Đỗ Mười, Lê Khả Phiêu, Nông Đức Mạnh thôi. Khối u xơ di căn từ Thủ Thiêm, vườn rau Lộc Hưng, sân bay Long Thành, cả ngàn hecta quân đội chiếm dụng ở sân bay Tân Sơn Nhứt sẽ không xẹp đi, không lành nổi bệnh… Một viễn cảnh xám xịt cho tương lại Việt Nam về mọi mặt. Đúng, cụ George Orwell đúng là bậc thánh!
*Xin chân thành cảm ơn các nhà văn, nhà báo về cuộc trao đổi này.
Song Chi (thực hiện)
Không có nhận xét nào