Header Ads

  • Breaking News

    Anh một mình gọi nhỏ / Chim ơi biết đâu tìm

    Nguyễn Văn Tuấn/Úc Châu

    07/5/2026

    Sáng nay, thức dậy đọc tin mới biết thi sĩ Phạm Thiên Thư đã qua đời ở Sài Gòn. Ông thọ 86 tuổi. Với nhiều người yêu thơ và nhạc, tên ông gắn liền với những vần thơ đã được phổ thành các ca khúc bất hủ như Ngày Xưa Hoàng Thị, Đưa Em Tìm Động Hoa Vàng, Vết Chim Bay. 

    Các tư liệu ghi rằng ông tên thật là Phạm Kim Long, sanh năm 1940 tại Hải Phòng, rồi vào miền Nam định cư từ thuở thiếu niên. Năm 24 tuổi, ông vào chùa tu học và trở thành tu sĩ. Gần mười năm sau, ông hoàn tục, sống đời cư sĩ.

    Ông để lại cho đời rất rất nhiều câu thơ. Theo Nhà văn Võ Phiến thì ông đã viết "ngót chục vạn câu thơ". Nói theo tiếng Anh, ông là người prolific. 

    Làm sao ông có thể viết nhiều thơ đến như vậy? Trong một lần trả lời phỏng vấn trên tạp chí Bách Khoa, ông cho biết là có 3 yếu tố giúp ông sáng tác: thiên nhiên, tĩnh lặng, và quán cà phê. Có lẽ chính vì thế mà sau 1975 ông mở quán cà phê Hoa Vàng? 

    Hành trình sống của ông đã góp phần làm nên phong cách thơ rất riêng của Phạm Thiên Thư: đạo và đời quyện vào nhau, tình yêu và vô thường soi chiếu lẫn nhau. Ông đã thi hóa kinh Pháp Cú bằng thể lục bát, chuyển một bộ kinh vốn không dễ hiểu thành những câu thơ thuần Việt, dung dị, gần gũi với tâm hồn người đọc.

    Nguyễn Du có Đoạn Trường Tân Thanh. Phạm Thiên Thư có Đoạn Trường Vô Thanh [1], một công trình trường thi mà ngày nay có lẽ không còn được nhắc đến nhiều như trước. Tác phẩm gồm 3290 câu lục bát, được xem như một tập Hậu Truyện Kiều, ra mắt năm 1969. Vài năm sau, vào năm 1973, tác phẩm được trao giải thưởng văn học toàn quốc. Chỉ cần đọc vài câu mở đầu cũng thấy được phong vị thơ của ông: 

    Lòng như bát ngát mây xanh

    Thân như sương tụ trên cành Đông mai

    Cuộc đời - chớp loé, mưa bay

    Càng đi, càng thấy dặm dài nỗi không

    Thân Tâm Bệnh - nghiệp trần hồng

    Lênh đênh trầm nguyệt, bềnh bồng phù vân

    Giam trong Tài, Mệnh, Giả, Chân 

    Trăm năm hồ dễ một lần bay cao 

    Đau lòng chuốt tiếng đàn nao 

    Năm cung nước chảy lại chao phận mình 

    Đời Kiều trải mấy nhục vinh

    Ngã, Nhân đã vượt, thế tình đã qua

    Đoạn Trường sổ gói tên Hoa

    Xưa là Giọt Lệ - nay là Hạt Châu

    Tác giả mượn thể thơ lục bát và Truyện Kiều để nói chuyện vô thường, nghiệp, thân phận và giải thoát. Cái hay là ngôn ngữ rất Việt, nhưng bên dưới lại có chiều sâu Phật học. Những câu thơ đi từ thân phận mong manh đến ý thức vô thường, rồi từ nỗi lênh đênh của kiếp người đến khát vọng vượt thoát. Không có giảng đạo trực tiếp. Tác giả để đạo lí thấm vào hình ảnh: mây xanh, giọt sương, chớp loé, mưa bay, trăng chìm, mây nổi. Vì vậy thơ ông có vẻ rất nhẹ, nhưng đọc kĩ lại thấy rất sâu.

    Riêng tôi, tôi nhớ đến Phạm Thiên Thư nhiều nhứt qua những bài thơ tình được phổ nhạc. Có lẽ nổi tiếng hơn hết vẫn là Ngày Xưa Hoàng Thị (Phạm Duy), bài hát mà nhiều thanh niên thế hệ tôi đều biết, và ít nhiều thấy bóng dáng mình trong đó. Nhưng với tôi, ám ảnh hơn cả là Đưa Em Tìm Động Hoa Vàng (Phạm Duy), với hai câu:

    Rằng xưa có gã từ quan

    Lên non tìm động hoa vàng nhớ nhau

    (Đưa Em Tìm Động Hoa Vàng qua tiếng hát Duy Quang https://www.youtube.com/watch?v=JW-xP7WhY6M )

    Không hiểu sao ở cái tuổi 18-20, khi đời còn rất xanh, mình đã biết mơ tới một “động hoa vàng”. Lời thơ, lời nhạc đó đã chắp cánh cho một tâm hồn còn trẻ, khiến người ta tưởng như ở đâu đó, ngoài cõi đời thường, vẫn có một nơi để tìm về, để nhớ nhau, và để lánh xa những bụi bặm nhân gian.

    Bài thứ ba tôi thích -- à không, phải nói là 'mê' -- là Vết Chim Bay do Nhạc sĩ Cung Tiến phổ nhạc: 

    Ngày xưa anh đón em

    Nơi gác chuông chùa nọ

    Con chim nào qua đó

    Còn để dấu chân in

    Anh một mình gọi nhỏ

    Chim ơi biết đâu tìm

    Mười năm anh qua đó

    Còn vẫn dấu chân chim

    Anh một mình gọi nhỏ

    Em ơi biết đâu tìm

    Mời nghe Vết Chim Bay qua tiếng hát của Bích Liên: 

    http://youtube.com/watch?v=iwN6R54_VMM&list=RDiwN6R54_VMM...

    Đây là ca khúc như một bài thơ tình nằm đúng vào vùng giao thoa rất riêng của Phạm Thiên Thư: tình yêu, kỉ niệm, đạo vị và vô thường. 

    “Vết chim bay”? 

    Chim bay qua trời thì làm sao để lại dấu vết? Vậy mà nhà thơ vẫn gọi đó là một “vết”. Chữ “vết” này không nằm trên trời, mà nằm trong tâm tưởng người nhìn. Nói cách khác, chim bay thì không dấu, nhưng lòng người thì còn dấu. Đó chính là nghịch lí hay hay: cái mong manh nhứt lại trở thành điều khó quên nhứt!

    Tình yêu trong thơ của ông không nặng xác thịt. Cũng chẳng có gì để gọi là bi lụy. Nhưng nó giống một cuộc gặp gỡ giữa hai bóng người trong cõi tạm. Yêu đó, nhớ đó, nhưng vẫn biết mọi thứ rồi sẽ tan vào mây trời. Vì vậy, Vết Chim Bay không chỉ là một bài thơ tình, mà còn là một bài thơ về sự mất dấu. Người yêu, tuổi trẻ, cuộc đời, tất cả đều như cánh chim qua bầu trời: có thật, đẹp thật, nhưng không thể giữ lại.

    Hình ảnh cánh chim cũng gợi cảm thức vô thường: mọi hiện hữu đều biến chuyển, không có gì đứng yên. Nhưng Phạm Thiên Thư nói ra điều này bằng hình ảnh rất nhẹ: một cánh chim bay qua. 

    Ngày Xưa Hoàng Thị là kí ức học trò với tà áo, con đường, cơn mưa. Đưa Em Tìm Động Hoa Vàng là giấc mộng lánh đời của tình yêu. Vết Chim Bay có vẻ trầm hơn, vắng hơn. Nhìn theo một cánh chim, cũng là nhìn theo một đời người, một cuộc tình, một thời tuổi trẻ đã bay xa.

    Điều này cũng làm cho bài thơ gần với nhận xét của Nhà văn Võ Phiến về tình yêu trong thơ Phạm Thiên Thư: tình yêu ấy không đưa tới hoan lạc hay khổ đau dữ dội, mà đưa tới một trạng thái bâng khuâng trước mênh mông. Vết Chim Bay chính là cái bâng khuâng đó. Người ta không còn nắm được bóng chim, không còn giữ được người xưa, chỉ còn một khoảng trời rộng và một dấu vết vô hình trong lòng. 

    Ở trên tôi nhắc đến Nhà văn Võ Phiến, một người tôi rất ngưỡng mộ. Trong bộ Văn Học Miền Nam, Võ Phiến nhận xét rằng tình yêu của Phạm Thiên Thư là thứ tình yêu không có nụ hôn:

    “Đã có ai bắt gặp cái hôn nào trong tình yêu của Phạm Thiên Thư chưa nhỉ. Ái tình ở đây cơ hồ không nhằm mưu cầu hạnh phúc. Yêu nhau như thể không vì hoan lạc mà chỉ để cùng thấm thía cái tính cách bọt bèo của kiếp người. Ái tình không đưa tới hạnh phúc, cũng không đưa tới những quằn quại, ghen tuông, khổ đau, sầu não v.v… Nó chỉ đưa tới sự ngẩn ngơ. Ngẩn ngơ trước mênh mông, vắng lặng.”

    Có lẽ chính cái ngẩn ngơ đó làm nên Phạm Thiên Thư. Nay ông đã đi xa, để lại trong chúng ta một sự ngẩn ngơ, một giọng thơ đã làm cho tình yêu, đạo vị và vô thường gặp nhau trong vẻ đẹp thuần Việt. Ngẩn ngơ trước một tà áo Hoàng Thị, một động hoa vàng, một cánh chim không biết đâu tìm:

    Anh một mình gọi nhỏ

    Chim ơi, biết đâu tìm.

    ___

    [1] Có thể đọc Đoạn Trường Vô Thanh ở đây: 

    https://thuvienhoasen.org/.../doan-truong-vo-thanh-pham...

    [2] Văn Học Miền Nam (Võ Phiến), nxb. Văn Nghệ, California 1999. 

    Nhà văn Võ Phiến viết về Phạm Thiên Thư: 

    "Phạm Thiên Thư xuất hiện muộn ngưng bút sớm, mà sự nghiệp thi ca của ông vẫn đồ sộ. Năm 1975, mới ba mươi lăm tuổi ông đã có ngót chục vạn câu thơ. Phong phú là một đặc điểm của thế hệ văn nghệ sĩ bấy giờ. Riêng ông Phạm, ông từng dùng đến những tiếng: vơi óc, ốm người, mửa máu v.v… để nói về sự cố gắng của mình (Tạp chí Bách Khoa, số vừa dẫn); tuy nhiên người ta thấy có những trường hợp không có lý do để cố gắng ông vẫn làm thơ rất nhiều rất nhanh. Cuốn Kinh Hiền mười hai nghìn câu ông viết trong một năm rưỡi: việc đạo phải nỗ toàn lực nên thế. Còn cuốn Quyên từ độ bỏ thôn đoài gồm 111 bài thơ ông cũng chỉ làm xong trong vòng hăm ba ngày. Mỗi ngày năm bài thơ, đều đều. Lý do gì vậy?

    Không ai đi trách một người… làm quá nhiều thơ. Duy không biết có phải cái lượng đã hại cái phẩm chăng. Vì trong cái lượng đồ sộ nọ số dở khá nhiều. Trong lắm bài có những câu thật hay lạc vào giữa các câu dở làm ta tiếc ngẩn tiếc ngơ."

    Nguyễn Văn Tuấn


    Không có nhận xét nào