Không thể chỉ dựa vào hồ thủy điện: Chiến lược mới về chống lũ sông Hồng, cần phải phản biện khoa học độc lập
Nguyễn Ngọc Chu
18/5/2026
“...Dòng sông “đi theo huyết đạo của địa chất”, là sự kết hợp của địa hình, cấu trúc địa chất, độ cứng mềm của đất đá, vận động kiến tạo, và chính động lực của dòng nước. Sông không chảy ngẫu nhiên. Nó luôn tìm con đường tiêu tốn ít năng lượng nhất để nước thoát xuống thấp hơn. Dòng sông là mạng lưới vận chuyển vnước, phù sa, khoáng chất, dinh dưỡng, là “huyết mạch của địa hình”. Cho nên không thể tuỳ tiện can thiệp.
Chúng ta xây dựng quy hoach Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm. Ngày 14/12/2025 HĐND TP HN với kết quả 100% đồng thuận thông qua Nghị quyết số 498/NQ-HĐND chủ trương đầu tư dự án Trục đại lộ cảnh quan sông Hồng, đi qua 19 phường với tổng đầu tư 855 000 tỷ đồng [5]. Chưa đầy 5 tháng sau, cũng với sự đồng thuận 100%, HĐND TP HN thông qua dự án Trục đại lộ cảnh quan sông Hồng, phương án thay đổi - chỉ còn 16 phường và tổng đầu tư 736 963 tỉ đồng [6] – một sự thay đổi to lớn.
Tầm nhìn nào vậy?”.
1. THUẬN ĐẠO TRỜI
Theo các nhà địa chất, cách đây khoảng 20–30 triệu năm, khi dãy Himalaya nâng lên mạnh do mảng Ấn Độ va vào mảng Á-Âu, làm địa hình Tây Nam Trung Quốc – Bắc Việt Nam bị chia cắt mạnh, tạo ra các hệ thống sông lớn như Dương Tử, Mekong, và Hồng Hà.
Đứt gãy sông Hồng (Red River Fault) là một trong những đứt gãy lớn nhất Đông Nam Á. Hoạt động kiến tạo này tạo thung lũng, định hướng dòng chảy, và giúp hình thành lưu vực sông Hồng.
Trên lưu vực sông Hồng, các cộng đồng cư dân – tổ tiên xa của người Việt cổ – đã sinh sống từ nhiều chục nghìn năm trước. Dấu tích còn lưu lại từ Văn hóa Hòa Bình – Bắc Sơn (10.000–20.000 năm trước), qua Văn hóa Phùng Nguyên – Đồng Đậu – Gò Mun, đến đỉnh cao là Văn hóa Đông Sơn (khoảng 2.500 năm trước).
Đối diện với sông Hồng là đối diện với bề dày lịch sử hàng triệu năm vận động của thiên nhiên và hàng chục nghìn năm mưu sinh, trị thủy và hình thành văn minh của con người.
Nay được biết Bộ NNMT ban hành Văn bản hợp nhất số 47/VBHN-BNNMT bãi bỏ các vùng phân lũ, chậm lũ của hệ thống sông Hồng mà không khỏi lo lắng. Việc thay đổi này có liên quan đến các dự án giao thông và bất động sản khu vực trong ngoài đê sông Hồng, trong đó có dự án Trục đại lộ cảnh quan sông Hồng.
Văn bản số 47/VBHN-BNNMT [1] “Bãi bỏ hệ thống phân lũ sông Đáy, không còn áp dụng quy chế phân lũ khẩn cấp về sông Đáy như theo Nghị định 62/1999/NĐ-CP trước đây để bảo vệ vùng hạ du; Xóa bỏ các khu phân lũ, làm chậm lũ như Tam Thanh, Lập Thạch (Phú Thọ) và Lương Phú – Quảng Oai, Ba Vì (Hà Nội).
Thay đổi sang chiến lược trị thuỷ mới, dựa vào hệ thống thủy điện. Việc phòng chống lũ hiện nay nhờ vào khả năng cắt, giảm lũ chủ động của các hồ thủy điện lớn trên thượng nguồn (như Sơn La, Hòa Bình, Tuyên Quang, Thác Bà).
Giới hạn an toàn mới – Thay vì dùng các khu phân lũ, quy định kiểm soát lũ hiện hành áp dụng mức an toàn là lưu lượng nước qua trạm Hà Nội không vượt quá 20 000 m3/s và mực nước không vượt quá 13,4 m” [1].
2. CÁC LUẬN CỨ CẦN SUY NGHĨ KỸ
Trong bối cảnh khí hậu đang biến đổi bất thường không tiên lượng, mà tin rằng hệ thống hồ thủy điện có thể kiểm soát tuyệt đối đại hồng thủy sông Hồng là một giả định đầy rủi ro.
Hồ chứa chỉ phát huy hiệu quả khi còn dung tích phòng lũ. Nhưng nếu mưa cực đoan kéo dài nhiều ngày đồng thời trên các lưu vực sông Đà, sông Thao và sông Lô, lượng nước khổng lồ sẽ nhanh chóng lấp đầy các hồ Hòa Bình, Sơn La, Thác Bà và tất cả các hồ thuỷ điện khác trong khu vực. Khi đó, để bảo vệ an toàn thân đập, việc xả lũ lớn là điều bắt buộc. Đây là giới hạn vật lý không thể vượt qua bằng ý chí hay mệnh lệnh hành chính.
Điều đáng lo hơn là các cực đoan khí hậu đang liên tục vượt khỏi dữ liệu lịch sử từng dùng để thiết kế công trình. Năm 2021, thành phố Trịnh Châu (Trung Quốc) hứng khoảng 617 mm mưa chỉ trong 3 ngày, riêng một giờ ghi nhận hơn 200 mm — gần bằng lượng mưa nhiều tháng cộng lại. Cũng trong năm 2021, lũ ở Đức và Bỉ làm hơn 200 người thiệt mạng dù châu Âu có hệ thống cảnh báo rất hiện đại. Năm 2022, Pakistan hứng lượng mưa cao hơn trung bình khoảng 190%, khiến gần một phần ba diện tích đất nước bị ngập. Năm 2023, Libya xảy ra thảm họa vỡ đập tại Derna sau mưa cực lớn do bão Địa Trung Hải, cuốn trôi cả thành phố.
Ngay tại Việt Nam, bão Yagi (11,24 m, 12/9/2024) cho thấy dấu hiệu cực đoan ngày càng rõ. Nhiều nơi ở miền Bắc ghi nhận lượng mưa vài trăm milimét chỉ trong thời gian ngắn; có khu vực miền núi vượt 400–500 mm. Hệ thống sông suối, hồ chứa và đô thị đã chịu áp lực rất lớn chỉ sau vài ngày mưa liên tục. Nếu một hình thế tương tự kéo dài thêm vài ngày, hoặc đồng thời xảy ra trên diện rộng toàn lưu vực sông Hồng, khả năng cắt lũ của các hồ thủy điện sẽ suy giảm nhanh chóng. Khi đó, nguy cơ phải xả lũ lớn xuống hạ du là hoàn toàn hiện hữu.
Điểm thứ ba khó bác bỏ là không một quốc gia nào quản trị lũ lớn chỉ bằng đê và hồ chứa. Các hệ thống trị thủy hiện đại đều duy trì vùng thoát lũ, vùng chậm lũ hoặc không gian chứa nước khẩn cấp. Bởi trong kịch bản siêu lũ cực hạn, lựa chọn thực tế không còn là “ngập hay không ngập”, mà là “nơi nào chấp nhận ngập để giảm thiệt hại tổng thể”.
Vì vậy, bên cạnh hệ thống hồ thủy điện, Việt Nam vẫn cần duy trì và chuẩn bị nghiêm túc các phương án phân lũ chiến lược cho đồng bằng Bắc Bộ. Các hướng thoát lũ qua sông Đáy, sông Đuống, các vùng trũng, hồ điều hòa lớn và những khu vực có mật độ dân cư thấp hơn cần được bảo vệ như một phần của hạ tầng an ninh quốc gia. Đó là nguyên tắc tối thiểu của quản trị rủi ro hiện đại - tạo không gian thoát nước để tránh thảm họa cho trung tâm đồng bằng và Thủ đô Hà Nội.
Mực nước 13,4 m trên sông Hồng được gọi là “ngưỡng an toàn”, nhưng điều cần hỏi là vì sao lại là 13,4 m? Nếu lũ lịch sử năm 1971 từng đạt 14,13 m mà Hà Nội vẫn tồn tại, tại sao không lấy 14 m làm chuẩn? Ngược lại, nếu đỉnh lũ bão Yagi 2024 chỉ quanh 11,30 m, vì sao không chọn 12 m để tạo biên an toàn lớn hơn? Khoảng 13–14 m ấy được xác lập bằng mô hình khoa học nào, dựa trên xác suất rủi ro nào, với sai số bao nhiêu và trong điều kiện khí hậu nào?
Vấn đề nằm ở chỗ xã hội thường chỉ được nghe “con số kết luận” của người ký quyết định, mà không thấy toàn bộ logic phía sau nó. Một ngưỡng an toàn 13,4m cho Thủ đô không thể chỉ là kinh nghiệm vận hành hay sự thỏa hiệp giữa phát điện, chống lũ và quỹ đất phát triển đô thị. Nó phải là kết quả của mô hình thủy văn khoa học công khai, có kiểm định độc lập và cập nhật số liệu theo các cực đoan khí hậu mới.
3. TRỊ THUỶ SÔNG HỒNG - BÀI TOÁN NGÀN NĂM
Việc xây dựng Trục đại lộ cảnh quan sông Hồng có ảnh hưởng đến thoát lũ của sông Hồng không? Đây là việc vô cùng hệ trọng. Là bài toán không phải trăm năm mà là ngàn năm.
Lịch sử thế giới cho thấy nhiều nỗ lực can thiệp quá mức vào các sông lớn - cuối cùng đã gây hậu quả nghiêm trọng về địa chất, môi trường và xã hội. Điển hình là trường hợp sông Mississippi (Mỹ), Hoàng Hà (Trung Quốc) và thảm họa biển Aral tại Trung Á.
MISSISSIPPI (Hoa Kỳ)
Trong thế kỷ 19–20, Mỹ xây dựng hệ thống đê, kè và kênh chỉnh trị khổng lồ dọc sông Mississippi nhằm chống lũ, phục vụ vận tải và bảo vệ đô thị. Dòng sông bị “nhốt” vào lòng dẫn cố định, không còn tràn đồng như tự nhiên. Hậu quả lớn nhất là phù sa không còn bồi đắp cho đồng bằng Louisiana. Hàng nghìn km² đất ngập nước và đầm lầy ven biển bị mất do xói lở và sụt lún. Các vùng đệm tự nhiên chống bão suy giảm mạnh, khiến New Orleans dễ tổn thương hơn trong bão Katrina năm 2005. Ngoài ra, việc khóa dòng làm thay đổi cấu trúc lòng sông, tăng tốc độ dòng chảy và gây xói lở ở nhiều khu vực hạ lưu.
Giải pháp hiện nay của Mỹ là chuyển sang phục hồi dòng chảy tự nhiên - mở lại một số vùng ngập lũ, dẫn phù sa trở lại đồng bằng và khôi phục đầm lầy ven biển [2].
HOÀNG HÀ (Trung Quốc)
Hoàng Hà là con sông mang lượng phù sa cực lớn từ cao nguyên Hoàng Thổ, nơi đất rất mềm và dễ xói mòn. Trong hàng ngàn năm, con người liên tục đắp đê để ép dòng sông vào luồng cố định nhằm bảo vệ đồng bằng đông dân cư. Khi phù sa không được tràn ra đồng, chúng lắng lại ngay trong lòng sông, khiến đáy sông ngày càng nâng cao. Có nơi mặt nước sông cao hơn vùng dân cư xung quanh nhiều mét, tạo nên hiện tượng “sông treo trên mặt đất”.
Hậu quả là mỗi lần vỡ đê đều trở thành đại thảm họa. Hoàng Hà nhiều lần đổi dòng hàng trăm km, gây chết chóc và phá hủy trên diện rộng trong lịch sử Trung Quốc. Việc nâng đê liên tục làm đê càng cao thì khi vỡ đê tai hoạ càng lớn [3]
BIỂN ARAL (Liên Xô)
Tại Trung Á, Liên Xô từng chuyển hướng hai con sông Amu Darya và Syr Darya để tưới cho các cánh đồng bông quy mô lớn. Kết quả là nguồn nước cấp cho biển Aral bị cắt giảm nghiêm trọng. Chỉ trong vài thập niên, một trong những hồ nội địa lớn nhất thế giới gần như khô cạn.
Hậu quả vô cùng nặng nề: nghề cá biến mất, khí hậu địa phương khắc nghiệt hơn, đáy hồ khô phát tán muối và hóa chất độc hại hàng trăm km, gây khủng hoảng sức khỏe cộng đồng và suy thoái kinh tế toàn vùng.
Các nước Trung Á hiện cố gắng cứu phần phía bắc biển Aral bằng đập nhỏ và quản lý nước hiệu quả hơn, nhưng phần lớn thiệt hại được xem là gần như không thể đảo ngược hoàn toàn [3].
Ba trường hợp trên cho thấy sông và hệ nước tự nhiên không chỉ là “dòng nước” để điều khiển tùy ý, mà là các hệ địa chất – sinh thái cực kỳ phức tạp. Khi can thiệp thiếu hiểu biết dài hạn, hậu quả có thể “tàn khốc” cho nhiều thế hệ.
VỀ CÁC ĐẬP THUỶ ĐIỆN BỊ PHÁ BỎ
Hồ thuỷ điện Hoà Bình và Sơn la với dung tích gần 19 tỷ m3 nước đã góp phần không nhỏ trong điều tiết lũ. Nhưng hy vọng các hồ thuỷ điện kiểm soát được đại lũ mà không cần phân lũ, như trên đã phân tích, là niềm tin đầy rủi ro. Bài toán trị thuỷ các con sông lớn, không phải là trăm năm mà là hàng ngàn năm.
Nhiều quốc gia từng tin rằng có thể “thuần hóa” hoàn toàn các sông lớn bằng đập thủy điện, đê điều và nắn dòng chảy. Nhưng kinh nghiệm thế giới cho thấy can thiệp quá mức vào hệ thống sông thường dẫn đến hậu quả lớn về địa chất, thủy văn và sinh thái.
Hoa Kỳ từng xem đập thủy điện là biểu tượng của phát triển, nhưng nhiều công trình lớn sau đó phải tháo dỡ vì gây mất cân bằng nghiêm trọng cho hệ thống sông, địa chất và sinh thái. Theo American Rivers và US Dam Removal Information Portal, Mỹ đã dỡ bỏ hơn 2.000 đập kể từ năm 1912 [4].
Hoa Kỳ là ví dụ điển hình. Hai đập Elwha (cao khoảng 33 m, dài gần 330 m) và Glines Canyon (cao khoảng 64 m) trên sông Elwha, bang Washington, sau gần một thế kỷ hoạt động đã phải tháo dỡ giai đoạn 2011–2014. Nguyên nhân không chỉ vì sinh thái mà còn vì chúng giữ lại hơn 20 triệu tấn phù sa, làm hạ lưu và cửa sông mất nguồn bồi đắp tự nhiên, gây xói lở và suy giảm nghiêm trọng quần thể cá hồi. Hệ thống đập Klamath tại California–Oregon cũng đang bị tháo dỡ từ 2023–2024 do gây nước tù, tảo độc, biến đổi nhiệt độ dòng sông và phá vỡ cân bằng trầm tích.
Điểm cốt lõi là sông không phải một “kênh nước cố định”. Nó là hệ động lực địa chất sống. Dòng sông luôn tự điều chỉnh qua bồi tụ, xói lở và vận chuyển phù sa. Khi con người can thiệp mạnh bằng đập, kè cứng hoặc nắn dòng theo cảm tính, hệ cân bằng này có thể bị phá vỡ trong nhiều thập niên sau đó.
Sông Hồng đặc biệt nhạy cảm vì đây là con sông phù sa lớn, lòng dẫn mềm và biến động mạnh. Dù Việt Nam đã xây các hồ chứa rất lớn trên sông Đà như Hòa Bình và Sơn La, vẫn không thể khẳng định đã “trị thủy hoàn toàn”. Hai hồ này giúp cắt giảm đáng kể lũ lớn, nhưng không loại bỏ được mọi rủi ro. Hệ thống sông Hồng còn phụ thuộc vào lượng mưa cực đoan do biến đổi khí hậu; các phụ lưu chưa kiểm soát hoàn toàn; đặc biệt là phần thượng nguồn nằm trong lãnh thổ Trung Quốc; cùng hệ thống sông Lô và các lưu vực khác chưa có khả năng điều tiết triệt để.
Ngoài ra, hồ chứa lớn luôn đối mặt với các vấn đề dài hạn như tích tụ phù sa làm giảm dung tích hữu ích; thay đổi dòng chảy tự nhiên; hạ thấp phù sa về hạ lưu và gia tăng xói lở lòng và bờ sông phía dưới đập.
Ngay tại Mỹ, nhiều đập từng được xem là “biểu tượng hiện đại hóa” cuối cùng vẫn phải tháo bỏ hoặc thay đổi vận hành. Vì vậy, về lý thuyết, không thể loại trừ khả năng các hồ chứa lớn hiện nay trong tương lai cũng phải điều chỉnh sâu hoặc tháo dỡ từng phần nếu chi phí môi trường – địa chất vượt quá lợi ích.
Do đó, việc đào bãi bồi, lấn sông hay nắn dòng sông Hồng đoạn qua Hà Nội cần đặc biệt thận trọng. Các bãi bồi giữa sông hiện nay không phải “đất thừa”, mà là một phần của cơ chế phân tán năng lượng lũ và ổn định dòng chảy. Nếu can thiệp tùy tiện, có thể làm đổi hướng dòng chủ lưu; tăng tốc độ xói lở bờ; hạ thấp hoặc nâng đáy sông bất thường; tạo xoáy dòng nguy hiểm cho cầu, kè và đê điều.
Những quyết định như vậy không thể chỉ dựa vào cảm tính hoặc lợi ích ngắn hạn, mà phải dựa trên khảo sát địa chất, mô phỏng thủy lực và đánh giá dài hạn cho toàn hệ thống sông Hồng.
4. TẦM NHÌN NÀO?
Dòng sông “đi theo huyết đạo của địa chất”, là sự kết hợp của địa hình, cấu trúc địa chất, độ cứng mềm của đất đá, vận động kiến tạo, và chính động lực của dòng nước. Sông không chảy ngẫu nhiên. Nó luôn tìm con đường tiêu tốn ít năng lượng nhất để nước thoát xuống thấp hơn. Dòng sông là mạng lưới vận chuyển vnước, phù sa, khoáng chất, dinh dưỡng, là “huyết mạch của địa hình”. Cho nên không thể tuỳ tiện can thiệp.
Chúng ta xây dựng quy hoach Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm. Ngày 14/12/2025 HĐND TP HN với kết quả 100% đồng thuận thông qua Nghị quyết số 498/NQ-HĐND chủ trương đầu tư dự án Trục đại lộ cảnh quan sông Hồng, đi qua 19 phường với tổng đầu tư 855 000 tỷ đồng [5]. Chưa đầy 5 tháng sau, cũng với sự đồng thuận 100%, HĐND TP HN thông qua dự án Trục đại lộ cảnh quan sông Hồng, phương án thay đổi - chỉ còn 16 phường và tổng đầu tư 736 963 tỉ đồng [6] – một sự thay đổi to lớn.
Tầm nhìn nào vậy?
Không thể vội vã. Đây không phải là thời chiến. Vấn đề trị thuỷ sông Hồng và xây dựng Thủ đô gắn liền số phận không chỉ thế hệ hiện nay mà còn muôn đời sau.
TÀI LIỆU DẪN
[1] https://nguoidothi.net.vn/truc-dai-lo-canh-quan-song-hong...
[2] Blum & Roberts, Drowning of the Mississippi Delta (Nature Geoscience, 2009)
[3] UNESCO flood history studies
[4] US Dam Removal Information Portal, https://www.damremovalinfo.org/
[5] https://vnexpress.net/ky-vong-ky-tich-song-hong-tu-truc...
[6] https://laodong.vn/.../dua-3-phuong-ra-khoi-pham-vi-du-an...
Không có nhận xét nào