Header Ads

  • Breaking News

    Tiếng Việt ngày nay sau 51 năm..

    Nguyễn Văn Tuấn/ Úc Châu

    02/5/2026

    “Dạ, chào buổi sáng ạ! Mình có mấy người ạ?”

    Cô tiếp viên độ đôi mươi, gương mặt sáng sủa, ánh mắt lanh lợi, niềm nở cúi chào tôi.

    “Chào buổi sáng… mình ạ.”

    Tôi khựng lại một chút.

    Đây là một khách sạn ở Cần Thơ, giữa miền Tây sông nước quê tôi. Vậy mà lời ăn tiếng nói bây giờ nghe sao lạ lẫm ghê nơi. 

    Cái “mình”, cái “ạ” cứ như từ đâu trôi dạt về, lịch sự thì có lịch sự, nhưng không còn cái mộc mạc, ngọt lành của xứ này.

    Tôi cười, ghẹo cô:

    “Cháu đang chào tôi, hay chào buổi sáng?”

    Cô ta bẽn lẽn:

    “Dạ… quen miệng ạ!”

    Tôi cũng cười:

    “Người miền Tây mình đâu có ‘ạ’.”

    Tiếng Việt bây giờ đã khác xưa khá nhiều, ít ra là so với thời 50 năm trước. Thời mà “cả nhà ơi” chưa kịp thành quốc hồn và “chốt đơn” chưa chen chân vào đời sống thường ngày. 

    Người miền Nam dạo này nói nhiều từ nghe rất Bắc, và ở mức độ thấp hơn, người miền Bắc cũng bắt đầu quen tai với không ít cách nói rất Nam. Tiếng Việt vì thế cứ như một nồi lẩu thập cẩm: Hán một chút, Bắc một chút, Nam một chút, hành chánh hoá một chút, thêm vài lát hiện đại, rắc chút mạng xã hội, rồi sôi lên thành thứ ngôn ngữ vừa quen, vừa lạ, vừa ... buồn cười.

    Nhờ đi lại thường xuyên ở Việt Nam, nên tôi có dịp quan sát, lắng nghe và ghi chép vài điều thú vị. Xin chia sẻ cùng các bạn như một chút mua vui, biết đâu đọc xong, bạn lại phát hiện chính mình cũng đang nói “lai vùng miền” từ lúc nào không hay.

    ■ A bờ cờ

    Con nhỏ cháu tôi tốt nghiệp đại học đàng hoàng. Vậy mà nó đánh vần một chữ tiếng Anh làm tôi kinh ngạc. Nó đọc:"Gờ 7", "Bờ Cờ Sờ". Tôi định hét lên, nhưng chợt nhớ là ngày nay cả nước đều nói như nó, nên đành ... chịu đựng.

    Theo tôi biết thì "a bờ cờ" này sanh ra từ thời Bình dân Học vụ hồi xưa. Thời đó, các thầy cô chế ra cho người mù chữ dễ nhớ, dễ học. Nên "a bờ cờ" là cách phát âm khi ghép vần thôi, chứ tên chữ cái phải là a, bê, xê chứ! Thế mà giờ nó lên chức thành tên luôn, oái oăm ghê! 

    Làm ơn trả lại đúng kiểu đi: a, bê, xê nghebn! Tham khảo thêm bài báo Dân Trí đây [1], họ cũng kêu ca y chang. 

    ■ Ạ

    Hôm ở Cần Thơ, vào một quán ăn ven sông, đúng chất miền Tây, cô tiếp viên lịch sự nói: “Bàn của mình là số 7 ạ”. 

    Trước đây nhân viên nào cũng “Dạ thưa anh, thưa chị, thưa quý khách.” Nhẹ nhàng, lễ phép, rõ ràng ranh giới. 

    Giờ thì ngọt xớt: "Bàn của mình là số 7 ạ", hay “Mình dùng gì ạ?” Tôi tự hỏi “mình là ai?” Sợ lẫn lộn với cách xưng hô ở miền Nam: “mình” chỉ vợ chồng.

    Dân miền Nam mà nói "ạ" theo người miền Bắc? Bác Phạm Duy nói “ạ” nghe hay, nhưng ông Lam Phương mà nói vậy thì … hơi kì. Một kiểu bắt chước nghe ... không thiệt chút nào. Nên nhớ rằng không phải “ạ” là sang đâu nghen.

    ■ Ấn tượng, nổi bật 

    "Chiếc áo của bác ấn tượng quá" -- một em học viên ở Sài Gòn nhận xét. 

    Ấn tượng? Ngày nay, danh từ "ấn tượng" (vốn có nghĩa là impression, là thứ in sâu vào tâm trí con người) đã bị biến dạng thành tính từ kiểu "Tôi rất ấn tượng với cô ấy." Phải nói là một kiểu biến tướng … kì cục. 

    Lại còn "chiếc áo" nữa chớ. Ngày nay, cái gì cũng chiếc: chiếc xe, chiếc tàu, chiếc máy bay, chiếc ghế, v.v. "Ôi! con gục đầu chua xót đắng cay" 🙂

    Sao không nói "Cái áo của bác nổi bật", nghe vừa dễ hiểu vừa chính xác.

    ■ Ba chỉ, ba rọi 

    Hôm ở dưới quê, tôi bắt gặp một cảnh khá vui. Anh chàng bán thịt heo sanh ra ở miền Tây đứng giữa chợ, giọng vang như loa phường: “Đây là thịt ba chỉ...” Lập tức, một chị khách hàng bên cạnh sửa liền: “Thịt ba rọi, mày ơi!” 

    Thế là chỉ một miếng thịt thôi mà Bắc — Nam gặp nhau chan chát giữa chợ quê. 🙂

    ■ Bức xúc, bức bối 

    Thú thiệt, bàn về mấy cách dùng từ thời nay tôi "bức xúc" lắm -- ủa quên, trăn trở lắm nghen.

    Mấy năm gần đây, đi đâu cũng nghe người ta nói "bức xúc" hiểu theo nghĩa khó chịu, tức tối. Thế nhưng tiếng Việt chúng ta đã có "bực bội" hay "bức rức" đủ mô tả trạng thái đó rồi. 

    Tôi tra từ điển (lại hỏi bác Hoàng Phê) thì thấy người ta giải thích "bức xúc" là "chật hẹp, nhỏ nhen, thiển cận, thôi thúc, ép buộc." À há! Vậy mà bấy lâu nay bà con dùng "bức xúc" để mô tả sự khó chịu là ... không đúng?

    ■ "Cả nhà ơi", "Mọi người ơi”, “Cô chú bác anh chị” 

    Ngày xưa mở đài phát thanh hay mở đài truyền hình ra là nghe những câu ngọt ngào, đàng hoàng: “Kính thưa quý vị khán/thính giả”, “Thưa quý vị thính giả gần xa”.

    Ngày nay, ai cũng có thể trở thành kí giả, chị bán rau cũng có thể trở thành xướng ngôn viên. Và, ngôn ngữ công chúng cũng bình dân hoá luôn. Hễ bật livestream, mở video là y như rằng: “Mọi người ơi! Cả nhà ơi!” 

    “Mọi người” thì quá rộng, còn “cả nhà” là cái nhà nào chớ? Nhà tôi có bốn người mà tự nhiên lên sóng quốc dân lại thành “cả nhà”, nghe thân mật thiệt đó, nhưng sao nó cứ lạc lõng, lủng củng sao đó. Nghèo nàn chữ nghĩa.

    ■ Cá thể

    Đọc bản tin trên báo thấy “lực lượng chức năng bắt giữ ba cá thể chó”, tôi suýt phun cà phê. Chó mà cũng thành cá thể? Sao không nói thẳng “ba con chó” cho dễ hiểu, hả trời?

    Cá thể là "individual" trong tiếng Anh. Mà, individual có nhiều nghĩa: cá nhân riêng lẻ (each individual), riêng lẻ (individual room), độc đáo (individual style). Nó không bao giờ dùng với "cá thể chó", "cá thể heo", "cá thể cọp" cả. 

    ■ Chuẩn, đúng

    Hôm kia, có một em học viên nói “Thầy nói chuẩn.” Đó là chữ xuất hiện gần đây trong văn nói được dùng để chỉ ý nghĩa đúng, chính xác (tôi đoán vậy). Chẳng hiểu sao và từ khi nào mà chuẩn = standard lại thành chuẩn = correct?

    Sao không đơn giản nói “Thầy nói đúng” hay “Thầy nói trúng phóc” mà trại thành “chuẩn”? Không rõ. Bậc cao nhơn giải thích rằng “chuẩn” cách nói của Tàu.

    Tình trạng Tàu hoá tiếng Việt ngày nay sâu đậm lắm.

    ■ Chế độ, quy chế 

    Danh từ “Chế độ” ngày nay đã vượt biên giới chánh trị sang nhiều lãnh vực khác, kể cả ăn uống, trợ cấp, tưởng thưởng, v.v.

    Chúng ta hay nghe/ đọc “chế độ ăn uống”, “chế độ lương hưu”, “chế độ thưởng”, v.v.

    Chế độ ăn uống thực chất là kế hoạch ăn uống sao cho cân đối, vậy sao không nói “phương án ăn uống”, "Thực đơn ăn uống"? Sao không là "Quy chế khen thưởng" cho dễ hiểu? Thiệt tình! 

    ■ Chuyển ngữ, dịch

    Chúng ta "dịch" từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt. Vậy mà ngày nay có người dùng "chuyển ngữ" để chỉ hành động dịch thuật. Thôi, hãy ngừng õng ẹo và viết cho đơn giản: dịch. 

    ■ Chức năng hay chức trách? 

    Mệnh đề "Cơ quan chức năng" có vẻ lên ngôi. Cơ quan chức năng là gì? Tôi nghĩ chắc là "Functional Organization" hay "Functional Agency"? Nghe như là phủi bỏ trách nhiệm vậy, bởi vì chỉ có "chức năng" thôi mà.

    Tôi tự hỏi tại sao không dùng "Nhà chức trách" hay "Cơ quan chức trách". Chức trách có nghĩa là vừa có chức năng mà vừa có trách nhiệm. Rõ ràng vậy mà lại bỏ là sao?

    ■ Cơ bản hay căn bản? 

    Ngày nay, "cơ bản" có vẻ lấn át "căn bản". Nhưng hai từ này khác nhau một cách tinh vi. Ngắn gọn là vầy: "cơ bản" dùng để chỉ nền tảng (foundation), còn "căn bản" dùng để chỉ gốc rễ/bản chất (root/essence).

    "Cơ bản" = cơ (nền móng, nền tảng) + bản (cốt lõi). "Căn bản" = căn (gốc rễ) + bản (bản chất, cốt lõi). Cơ bản thiên về nền tảng ban đầu, còn "căn bản" thiên về bản chất sâu xa. Chúng ta nói "Kiến thức cơ bản" (basic knowledge), nhưng nói "Về căn bản thì" (in essence).

    ■ Cú hích, động lực 

    Hôm nọ, tôi nghe trên một đài phát thanh Việt ngữ ở Úc, mà người xướng ngôn viên nói "Chánh sách này là một cú hích ...". Giật mình! Cái gì mà cú hích? 

    Đây là thói bắt chước từ ngữ trong nước, nhưng dùng sai. “Cú hích” nghĩa đen là một cái hích, một cái đẩy nhẹ hoặc mạnh bằng vai, khuỷu tay, thân người. (Xin nói thêm, “hích” trong tiếng Hán còn có một nghĩa cổ là thầy cúng, ông đồng). 

    Tôi tự hỏi sao cô xướng ngôn viên không nói "Chánh sách này là một tác nhân thúc đẩy ..." hay "động lực"? Tiếng Việt có chữ dễ hiểu hơn là cách nói ví von "cú hích". 

    ■ Đảm bảo hay bảo đảm 

    Từ này chẳng khác gì về ý nghĩa so với "bảo đảm". Bảo đảm là cách nói theo logic của người Việt, còn "đảm bảo" là cách nói theo logic của người Hoa -- các bậc cao nhơn bảo vậy. Điều đáng buồn là sau này, "đảm bảo" lấn át "bảo đảm". Đã đến lúc chúng ta dùng từ theo logic Việt.

    Ah, nói cho ngay, ngày nay người ta đã quay về "bảo đảm" thường xuyên hơn rồi. Hoan hô! 

    ■ Đăng kí, ghi danh 

    Mấy chục năm nay, người miền Nam như tôi làm quen với "đăng kí", mà trước đây là "ghi danh". Tôi ghi danh theo học, chớ đâu có đăng kí đăng kiếc gì.

    Tôi hỏi các bậc cao nhơn thì họ giải thích rằng "đăng kí" là từ Tàu: 'đăng' là cái đèn, 'kí' là ghi vô hồ sơ. Do đó, đăng kí có nghĩa là chép vào sổ một vật được đưa đến để mọi người biết, giống như bố cáo. Nó có liên quan đến luật pháp. Theo đó, 'đăng kí kết hôn' (tức là bố cáo cho mọi người biết) hoặc 'đăng kí bằng sáng chế' là hợp lí. Ấy vậy mà khi về Việt Nam, nó được mở rộng quá trời: đăng kí đi nước ngoài, đăng kí học tập, đăng kí nghĩa vụ quân sự, v.v.

    Hôm nọ, tôi đi ngang một đại học ở Sài Gòn, người ta ghi trên cái bích chương: “Ghi danh…” Đúng quá! Tôi chụp hình làm … lưu niệm. Ước gì các trường trung và đại học khác dùng từ “ghi danh”. 

    ■ Giải phóng hay giải toả? 

    Chúng ta đã quá quen với 'giải phóng' ('Này thanh niên ơi, quốc gia đến ngày giải phóng'). Từ này có ý nghĩa chánh trị, có nghĩa (đại khái là) làm cho con người được tự do, thoát khỏi sự áp bức, thoát khỏi nghèo khổ: giải phóng dân tộc, giải phóng nô lệ, giải phóng phụ nữ, v.v.

    Vậy mà chẳng hiểu sao trên báo chí lại xuất hiện "giải phóng mặt bằng". Tôi tự hỏi tại sao lại có sự phăng-ta-xi này trong khi chúng ta đã có "giải toả mặt bằng"?

    ■ Hỗ trợ, giúp đỡ 

    Ngày nay hình như người ta không giúp nhau nữa; người ta "hỗ trợ" nhau thôi. 

    Đây là một từ ghép từ hai chữ Hán: "hỗ" (lẫn nhau, qua lại, tương hỗ) và "trợ" (giúp, trợ lực). Tiếng Việt chúng ta cũng có từ có ý nghĩa tương đương: giúp đỡ hay "giúp đỡ lẫn nhau". Nhưng tiếc thay, “giúp đỡ” đã dần dần biến mất khỏi ngữ vựng tiếng Việt. 

    ■ Kênh, mương, rạch, sông 

    Ngày nay, người ta đã quá quen với "Kênh Nhiêu Lộc", mà ít ai biết rằng cái địa danh này có tên gốc (trước 1975) là "Rạch Nhiêu Lộc". Chữ "kênh" là cách viết ngoài Bắc. Cách viết "Kênh Nhiêu Lộc" là hoàn toàn sai.

    Người trong Nam phân biệt rõ ràng giữa sông, rạch, kinh, mương. Sông và rạch là dòng chảy tự nhiên. Còn kinh/kênh, mương là dòng chảy nhân tạo. 

    Ví dụ vầy cho dễ phân biệt: phía sau này tôi ở miệt quê có những cái mương, và cái mương này được đào để lấy nước từ rạch Lô Bích, và rạch Lô Bích là một nhánh của sông Chàm Trẹt.

    ■ Khả năng, có thể 

    Nghe hoài riết quen: "Hôm nay, có khả năng trời mưa". Các bạn có thấy từ "khả năng" trong câu đó hơi bất thường? Từ "khả năng" ở đây dùng để chỉ tình trạng bất định, có nghĩa là xác suất.

    Nhưng nên nhớ rằng khả năng từ hồi nào đến giờ có nghĩa là năng lực của con người có thể làm một việc nào đó.

    Có lẽ người ta lẫn lộn với chữ khả năng (capacity) với khả dĩ (possibility)? Tại sao không nói "Hôm nay, trời có thể mưa" cho dễ hiểu, mắc mớ gì phải "khả năng mưa?"

    ■ Liên hệ, quan hệ 

    “Liên hệ” thì gần như đã tiêu diệt hẳn “liên lạc”. Người ta viết “Vui lòng liên hệ qua hotline”, “Liên hệ ngay để được tư vấn miễn phí”.

    Liên hệ là relate, là có liên quan không thể tách rời (liên hệ gia đình); còn liên lạc (lạc là rơi, như 'toạ lạc') là contact chi tiết để giao tiếp hoặc tiếp xúc. Vậy mà chẳng ai buồn phân biệt nữa, cứ “liên hệ” cho nó sang, cho nó giống bên … Tàu (?)

    Có một chữ có liên quan đến "liên hệ" là "quan hệ". Trên mạng lan truyền một đoạn video ngắn vui vui, trong đó người công an hỏi cô gái trẻ: "Em quan hệ với chủ nhà như thế nào", và cô gái trả lời "Em quan hệ với ông chủ nhà khi vợ ông đi vắng". Đại khái vậy.

    Từ điển Tiếng Việt của Hoàng Phê giải thích rành rọt: quan hệ là "sự gắn liền về mặt nào đó giữa hai hay nhiều sự vật khác nhau, dẫn khiến sự vật này có thể biến đổi, thay đổi ..." Thí dụ như "Quan hệ giữa cung và cầu". Ấy vậy mà ngày nay, danh từ "quan hệ" bị biến dạng thành động từ về hành vi tình dục!

    ■ Ngoại thành, ngoại ô 

    Có khi nào bạn chú ý từ “ngoại thành”, như “một ngôi làng ngoại thành Hà Nội”. 

    Thật ra, thành phố chỉ có “ngoại ô” (chứ không phải “ngoại thành”). Ngoại ô là phía ngoài cửa ô, phía ngoài thành thành cổ truyền. Ngoại ô vừa là khu gia cư, vừa là khu kĩ nghệ, và có khi cả nông nghiệp. Ai còn nhớ một ca khúc có những câu: 

    “Vùng ngoại ô, Tôi có căn nhà tranh / Tuy bé nhưng thật xinh / Tháng ngày sống riêng một mình”. 

    ■ Nước dùng, nước lèo 

    Ngày nay ở trong Nam, "nước dùng" xuất hiện một cách ngạo nghễ, không phải do ai áp đặt, mà do thói bắt chước vô ý thức. 

    Thoạt đầu, tôi ngơ ngác chẳng hiểu gì cả vì nghe nó xa lạ quá. Khi tìm hiểu kĩ thì mới biết hoá ra đó là ... "nước lèo". Tiếng Anh là broth. Nó là một loại súp hầm từ xương gà, heo và có vị ngọt tự nhiên. 

    Trời đất thánh thần ơi! Nước lèo thì cứ nói là "nước lèo", mắc mớ gì mà biến nó thành "nước dùng"? Ba trợn. 

    ■ Sự cố, trục trặc 

    Thoạt đầu, "sự cố" xuất hiện làm cho người nghe/đọc cười cười vì thấy vui vui và vì nó xuất phát từ tiếng Tàu "cố sự". Lại Tàu hoá. 

    Nhưng sự dễ dãi đó đã cho "sự cố" bén rễ quá vững vàng, làm cho người ta quên rằng tiếng Việt đã có "trục trặc" và "rắc rối".

    ■ Tác động vật lí hay hành hung?

    Nhan đề một bài báo "Người phụ nữ bị chồng cũ 'tác động vật lý' đến mức nhập viện" làm tôi tò mò hỏi "tác động" kiểu gì mà phải nhập viện? 

    Đọc kĩ bài báo thì mới biết là anh chồng cũ đánh chị vợ. Nếu muốn dùng chữ cho 'báo chí' hơn thì sao không dùng "hành hung", mắc mớ gì phải dài dòng "tác động vật lí"? 

    Bàn thêm một chút để thấy "tác động vật lí" là cố ý dịch sai. "Tác động vật lí" nếu dịch sát nghĩa sang tiếng Anh là "physical impact" -- nghe nhẹ hều, vô tư. Nhưng trong tiếng Anh, có một từ tương đương với "hành hung": đó là "physical assault". Từ này, 'physical assault' được định nghĩa là hành động dùng võ lực hoặc bạo lực đối với người khác, với ý định gây tổn hại hoặc thương tích. Do đó, hãy dẹp đi trò uyển ngữ "tác động vật lí" và hãy viết đúng là "hành hung".

    ■ Tên lửa, hoả tiễn, phi đạn 

    Nhiều khi đọc báo và nghe đài tiếng Việt ngoài này, tôi cứ tưởng mình đang ở ... trong nước. Các xướng ngôn viên ra rả "tên lửa" y như trong nước! Tên lửa có xuất phát từ tiếng Anh "fire arrow", và nó khác với "hoả tiển" (rocket) chớ. Ngày nay chỉ có hoả tiển, chớ làm gì có tên lửa thời Trung Cổ.

    Ấy vậy mà họ dịch missile là "tên lửa" luôn. Xin thưa, missile là "phi đạn", chớ không phải là tên lửa đâu nghen.

    ■ Thanh toán hay trả tiền 

    “Mình thanh toán ở quầy bên này nha!” Tôi giật mình như điện giật! Đi ăn tô bún bò, đi mua một cái bánh thì tôi trả tiền, chớ thanh toán thanh tiết gì ở đây? “Thanh toán” làm tôi ... rùng mình vì nghĩ tới ngôn ngữ của giới giang hồ.

    Sao không giữ lại cái câu cũ mộc mạc mà dễ thương: “Dạ anh vui lòng sang bển tính tiền”? Nghe ấm áp, gần gũi biết bao.

    ■ Thập kỉ hay thập niên 

    Hồi nào tới giờ tôi hiểu rằng "thập niên" là 10 năm. Ấy vậy mà thời gian gần đây, báo chí (lại báo chí) viết là "thập kỉ" để chỉ 10 năm. Thấy mấy ông bà có bằng cấp đầy mình cũng dùng "thập kỉ". 

    Nhưng dùng "thập kỉ" để chỉ 10 năm là sai. Tôi hỏi các chuyên gia về ngôn ngữ thì họ giải thích rằng ngày xưa người ta tính 1 kỉ = 12 năm (Từ điển Hán Việt của Đào Duy Anh). Do đó, "thập kỉ" là 120 năm. 

    Tóm lại, chúng ta đã có "thập niên" để chỉ 10 năm, không nên sáng chế ra "thập kỉ" một cách bậy bạ. Báo GDVN cũng nói rõ ràng: "Nên dùng từ 'thập niên', không dùng 'thập kỷ'." [2]. 

    ■ Tiêu đề vs nhan đề 

    Hôm nọ, một bạn trẻ hỏi tôi: "Thầy ơi, tiêu đề của cuốn sách mới của thầy là gì?" Tôi định sửa anh ấy, nhưng nghĩa lại thôi. Anh ấy dùng "tiêu đề" không đúng.

    Tiếng Việt chúng ta phân biệt rất rõ giữa "nhan đề" (title), "tựa đề" (preface) và "tiêu đề" (heading). Nhan đề là tên của một tác phẩm, một bài viết. Tiêu đề là nhan đề nhỏ, là tên của một chương trong một tác phẩm. Còn tựa đề là lời tựa để giới thiệu cuốn sách.

    Cuốn sách của tôi có nhan đề là "Giấc mơ Kangaroo". Trong sách, có lời tựa và một chương với tiêu đề "Dòng Cửu Long chảy qua tôi". Vậy mà ngày nay người ta gộp tất cả vào một: tiêu đề. Bậy ơi là bậy!

    Tham khảo thêm để phân biệt nhan đề, tiêu đề, tựa đề: https://vusta.vn/nhan-de-tua-de-tieu-de-p76691.html

    [3] 

    ■ Trí tuệ hay thông minh? 

    Đỉnh cao nhứt có lẽ là “trí tuệ nhân tạo”. Từ “intelligent” bình thường chỉ là “thông minh”, vậy mà hễ ghép với “artificial intelligence” là lập tức được nâng lên một cảnh giới của tâm hồn: “trí tuệ nhân tạo”. Nghe cứ như nó sắp thành Phật đến nơi!

    Máy móc thôi mà, silicon với thuật toán thôi mà, làm gì đã đạt tới “trí tuệ”, cái danh từ vốn dành cho sự hiểu biết sâu sắc, sự sáng suốt của con người. Hãy gọi đúng bản chất của AI là “thông minh nhân tạo”, để tỏ ra khiêm tốn và không suy tôn quá đà.

    ■ Tuổi teen vs thiếu niên 

    Thoạt đầu nghe thì giựt mình vì không rõ đó là tuổi gì. Hoá ra là một cách nói lai căng: teen là cách người Anh nói ngắn chữ ‘teenagers’, chỉ người từ 13 đến 19 tuổi.

    Tiếng Việt mình có “Tuổi thiếu niên” dễ hiểu và rất Việt, sao không dùng mà lại dùng loại ngôn ngữ lai căng như vậy? "Lai căng". Nghe rõ chưa? 

    ■ Hãy góp phần làm cho tiếng Việt dễ hiểu

    Còn nhiều từ khác nữa mà tôi chưa hiểu: bỉm sữa, trộm vía, vòng xuyến, phượt, vãi, topping (cái này chắc là lai căng), v.v.

    Rất nhiều trẻ em và người lớn thốt ra những từ này, nhưng hình như họ cũng không hiểu là gì. Buồn cười nhứt là thanh niên miền Nam cũng bắt chước nói và viết những từ này, hình như để chứng minh rằng họ ... văn minh. Hôm nọ, thấy trên video một anh nói tiếng Nam giải thích rằng "cái ví" là từ chuẩn, chớ không có "cái bóp". Anh khách hàng nói ngay: "Vậy thì em ra ngoài Bắc mà bán ví nghen, trong này tui chỉ biết cái bóp". 🙂

    Mấy năm gần đây, tôi thấy "bố" lấn át "ba" khỏi văn nói trong miền Nam. Các bạn thử để ý một chút sẽ thấy những người sanh ra và lớn lên ở miền Tây, có khi đầu hai thứ tóc rồi, vậy mà lên đài nói "ông bố của tôi" một cách vô tư! 

    Dân Sài Gòn chưa bao giờ biết đến “phố đi bộ”, “đi từng ngõ, gõ từng nhà”, vậy mà ngày nay “phố” và “ngõ” xuất hiện tràn lan. 

    Tôi để ý thấy nhiều chữ dần dần bị biến mất khỏi phương ngữ Nam bộ. "Tân Sơn Nhứt" bây giờ thành "Tân Sơn Nhất" rồi. Nên nhớ rằng "Tân Sơn Nhứt" là tên gốc của ngôi làng xưa, một danh từ riêng. Tôi tự hỏi tại sao đổi tên lịch sử như thế? Cách làm đó xem thường lịch sử và tên gọi địa phương bao đời nay.

    Tôi không cực đoan, cũng không có ác cảm gì với những từ mới đâu. Tiếng nói là thứ sống, phải thay đổi chớ -- tôi hiểu (xin ai đó đừng lên lớp tôi). Nhưng thay đổi để hay hơn, đẹp hơn, chính xác hơn, chớ không phải để thô hơn, lủng củng hơn, sai lệch hơn. 

    Nhưng cách biện minh đó nói lên hai điều: 

    Điều thứ nhứt là sự thất bại của những người gác cổng học thuật. Họ là ai? Thầy cô, giáo sư, học giả. Họ là nhà báo, nhà văn, nhà thơ. Họ còn là công chúng nữa. Họ thất bại nên mới để cho những từ ngữ lai căng, có khi thô tục, lọt vào những phát ngôn và nghị luận. 

    Điều thứ hai là … ngạo mạn. Ngạo mạn vì bất cần đúng sai, bất cần lẽ phải, bất cần truyền thống; khi có nhiều người dùng loại ngôn ngữ đó thì nghiễm nhiên nó là ‘chuẩn’. Có lần, một nhà báo biết rằng “sân bay” là không đúng, nhưng biện minh rằng ngày nay nhiều người xài nó, và ám chỉ rằng như vậy nó đúng! 

    Tiếng Việt từng có thời trong sáng và duyên dáng, và từng làm bao thế hệ tự hào. Bây giờ nó đang bị bẻ cong, bị thô tục hoá, bị nghèo hoá, bị bóp méo từng ngày.

    Thôi thì từ nay, ít ra trong khả năng của mình, tôi sẽ cố gắng nói đúng, viết đúng một chút. Tôi chẳng phải là giỏi tiếng Việt đâu; tôi vẫn bị và được góp ý chỉnh sửa hoài. 

    Không “cả nhà ơi” hay “cô dì chú bác” với khán thính giả, không “mình” với khách, không “cả nhà” lung tung, không “thanh toán”, không “liên hệ” bừa bãi.

    Chỉ mong tiếng Việt, kể cả phương ngữ miền Nam, đừng vì quán tính của cái miệng, vì thói a dua mà đánh mất đi cái hồn, cái đẹp vốn có.

    _____

    [1] https://dantri.com.vn/.../can-doc-dung-ten-chu-tieng-viet...

    [2] https://giaoduc.edu.vn/nen-dung-tu-thap-nien-khong-dung.../

    [3] https://vusta.vn/nhan-de-tua-de-tieu-de-p76691.html

    Nguyễn Văn Tuấn


    Không có nhận xét nào