Header Ads

  • Breaking News

    Văn chương hải ngoại: nỗi chữ – nỗi quê.

    Kỳ 1

    Tác giả: Trần Doãn Nho

    05/5/2026

    Mục lục

    • Khó quan niệm một cộng đồng sống đầy đủ mà lại ngưng cảm nghĩ, mà bị cưỡng chế, mà bị cưỡng bức vào sự câm nín, không có được những thể hiện nghệ thuật tư tưởng.

          (Võ Phiến/Văn Học Nghệ Thuật, số ra mắt 4/1978)

    • Văn học hải ngoại, một mặt, là sự sống còn của những người thua cuộc; mặt khác, là một vết thương tự–gây (self–inflicted) của dân tộc. Cũng là thông điệp: sự thất bại của một chiến thắng.

                                                                (TDN)

    Đầu tháng 9/1993, tôi rời khỏi Việt Nam, trong tâm trạng một đi không trở lại. Sau hơn ba thập niên bon chen phấn đấu để tồn tại, dù vẫn chập chờn lạc lõng trong thân phận một người xa lạ, hải ngoại đã trở thành một phần đời thân thiết của tôi. Khi tôi đến, thế giới văn chương đã ở đó, lao xao, rộn ràng. Những sản phẩm chữ nghĩa khiêm tốn, nghèo nàn thuở ban đầu – phản ứng có điều kiện trước hoàn cảnh ngặt nghèo của những người tị nạn – đã lớn lên thành một nền, một thực thể, một hiện diện. Dù xa khuất, xa vắng và xa xăm với cội với nguồn, nó đẫm mùi quê. Thì, quê đâu chỉ là giàn thiên lý, con đường làng, con chim hót đầu rào hay cây ổi cây chuối. Quê còn là chữ, là tiếng, là giọng, là mùi…

    Tôi yêu tiếng nước tôi khi mới ra đời

    Tôi càng yêu tiếng nước tôi hơn khi tôi đánh mất…nước tôi.

    Người bỏ đi đâu dễ bạc lòng.

    1. Niềm…hải ngoại

    Trải qua một “quá trình” bàn cãi chữ nghĩa: văn học di dân, văn học ngoài nước/nước ngoài, văn học lưu vong, văn học nhập cư…, cuối cùng, văn học hải ngoại – một nhóm chữ “ba phải” và “nhạt chất chính trị”, theo Nguyễn Mộng Giác [1] – trở thành từ vựng, được thường xuyên sử dụng trên báo chí trong cũng như ngoài nước, để chỉ nền văn học của những người Việt Nam sinh sống ở nước ngoài sau biến cố 1975. Nó, theo Đặng Tiến, lần đầu tiên xuất hiện trên một cuốn sách do nhà xuất bản Sông Thu (Mỹ) phát hành năm 1985 với tựa đề “Truyện ngắn hải ngoại”, dần dần trở thành quen thuộc ở hải ngoại: “Nhìn lại 30 năm văn học hải ngoại” (Nguyễn Vy Khanh), “Tuyển tập văn chương hải ngoại” (nxb Tân Thư), chẳng hạn. Và cả ở báo chí trong nước: “Văn học hải ngoại 20 năm đầu thế kỷ 21” (Văn chương Việt), “Các nhà phê bình bàn về văn học hải ngoại” (VnExpress), “Văn học hải ngoại – một Việt Nam khác nhìn từ thế giới” (tạp chí Thái Nguyên),  “Văn học hải ngoại cũng là máu thịt của dân tộc” (Tuổi Trẻ), “Vài cảm nhận văn học Việt Nam hải ngoại” (Nguyễn Huệ Chi), “Đọc văn học Việt Nam hải ngoại” (Hoàng Ngọc Hiến), “Các nhà phê bình bàn về văn học hải ngoại” (sứ quán CHXHCNVN ở Hoa Kỳ đăng lại bài từ VnExpress); riêng trang mạng Văn Việt (2014) do Văn Đoàn Độc Lập chủ trương, có chuyên đề đặc biệt về “Văn Học Hải Ngoại”, vân vân.

    Nhà văn Nguyên Ngọc, người chủ xướng Văn Đoàn Độc Lập và tạp chí Văn Việt, viết:

    Chưa bao giờ trong lịch sử chúng ta lại có hơn hai triệu người ở nước ngoài như hiện nay. Tôi không thảo luận về nguyên nhân của thực tế này, chỉ nhấn mạnh rằng đó là một thực tế lịch sử sống động và to lớn. Những người Việt Nam ở nước ngoài trong mấy chục năm qua đã hoàn thành một khối lượng văn học không thể phủ nhận được. Đó là một bộ phận của văn học Việt Nam hiện đại, chẳng có gì phải bàn cãi. Cùng với văn học trong nước, văn học hải ngoại làm nên diện mạo của văn học Việt Nam ngày nay. Sẽ cực kỳ thiếu sót nếu biết văn học Việt Nam ngày nay mà không biết văn học Việt Nam hải ngoại.  (…) Thiếu nó, thì văn học chúng ta sẽ khuyết đi một mảng rất lớn và rất quan trọng của khuôn mặt con người Việt trong thời sóng gió hung bạo của lịch sử dân tộc như chúng ta đã, và đang, trải qua. Văn học Việt Nam do vậy sẽ què quặt.” [2]

    Thì là thế! Đơn giản là hiện có hai nền văn học: văn học trong nước và văn học hải ngoại, “chẳng có gì phải bàn cãi”!

    Hải ngoại là gì vậy?

    Hải ngoại ( 海外 = outre–mer = overseas = bên ngoài biển) đơn giản chỉ có nghĩa là ở nước ngoài. Ra hải ngoại là ly hương (diaspora). Ly hương không là một hiện tượng đặc thù, từ đầu thế kỷ 20 cho đến trước 1975, đối với người Việt: đi du học, đi lính, đi làm ăn. Xa quê nhưng không có cảm giác mất quê. Xa, vẫn có thể trở về. Nhưng sau biến cố 1975, hải ngoại đột nhiên mang một ý nghĩa hoàn toàn khác. Trong một giai đoạn lịch sử cực đoan kéo dài gần hai thập niên, hải ngoại không chỉ là một không gian địa lý, mà là hy vọng, là cứu chuộc, là dung thân. Là gian nan trốn chạy, vượt thoát, từ bỏ, và…đánh mất. Là hành trình tử sinh, là gánh định mệnh, là kiếp khác. Đi cái đã. Chết, cũng đi. Để đến một nơi chẳng có gì ngoài những cái “không”: không chính phủ, không ngân sách, không công an, không trường ốc, không đất đai, không tiếng Việt, không chữ Việt và không…tương lai. Cũng đành. Vì không thể sống nỗi dưới một chế độ mà mục tiêu lớn nhất sau chiến tranh là gây ra/gây thêm một cuộc chiến tranh khác. Là thực hành một lý thuyết, chứ không phải băng bó vết thương. Ngược lại, khoét sâu vết thương. Kẻ cầm quyền luôn luôn đặt toàn xã hội trong tình trạng báo động qua các biện pháp quyết liệt diễn ra thường trực: cấm, đốt, dọa, bắt, phá, rình, giấu…Sau này, dù là “ra đi có trật tự” (Orderly Departure Program/ODP), người đi vẫn mang tâm trạng của “thoát ra”, của “một đi không trở lại”. Hải ngoại, rốt cuộc, là hạnh phúc và nỗi đau. Một hạnh phúc đau đớn.

    Hãy nhắc lại trường hợp Mai Thảo, một trong những khuôn mặt tiêu biểu của Văn Học Miền Nam:

    Người Mỹ rút khỏi Sài Gòn năm 1975. Do các bài viết chống cộng trước đó, tôi bị liệt kê trong sổ đen những nhà văn có nguy hại cho chế độ. Hầu hết các nhà văn có tên trong danh sách ấy đều bị bắt đi tù, nhiều người bị chết trong tù vì thiếu ăn, thiếu thuốc men. Tôi thì may mắn hơn, được dân chúng chăm sóc và che chở. (…) Không có tình thương yêu của họ tôi đã không thể sống còn ở Việt Nam. Cộng sản ra thông báo là bất cứ ai tán trợ những nhà văn có tên trong sổ đen sẽ bị bắt giữ. Hệ thống an ninh của họ rất chu đáo. Họ chỉ định những người hàng xóm canh chừng nhau và báo cáo lên chính quyền địa phương. Nhưng vẫn có nhiều người liều mạng để che chở cho tôi. Họ che dấu tôi trong 8 căn nhà khác nhau trong vòng hai năm trời. Tôi sống trong hầm tối vì bất cứ ánh sáng hay sinh hoạt nào bị hàng xóm phát hiện sẽ gây hiểm nguy cho gia chủ. (…) Cộng sản đã lục soát một số nhà nhưng không hiệu quả, và họ đã không tìm ra tôi. Tôi sống như một con vật trong bóng tối, ẩn mình trong suốt hai năm. (…) Vào cuối năm 1977 (…)  một đêm tối trời, một người mặc áo đen đi xe Honda, đậu dưới một gốc cây sau căn nhà, hướng dẫn tôi ngồi lên xe gắn máy và lặng lẽ chạy ra hướng bờ sông Sài Gòn, nơi có một chiếc thuyền đánh cá nhỏ đang chờ. Tôi được bảo nên chèo ghe, giả bộ như một ngư dân. Sau 2 hoặc 3 giờ đồng hồ, tôi lại được chuyển sang một thuyền máy trên biển. Bây giờ thì người đàn bà chủ tàu bảo tôi có thể hút thuốc. Tôi nhìn một lần chót thành phố Sài Gòn và bật khóc vì hiểu rằng tôi chẳng còn bao giờ thấy lại nữa. Người dân miền Nam, hết sức gắn bó với một thành phố mang tên Sài Gòn. Tôi có cảm tưởng đã quay lưng lại với di sản của chính mình. Trên biển cả, tôi có cảm giác được phóng thả. Tôi đã là một con người tự do.” [3]

    Trước Mai Thảo, có Cao Tần:

    Ôi trong ví những người dân mất nước
    Còn một oan hồn mặt mũi ngu ngơ
    Ôi trong trí mỗi anh hùng thuở trước
    Còn dậy trời lên những buổi tung cờ

    Du Tử Lê:

    Khi tôi chết hãy đem tôi ra biển
    đời lưu vong không cả một ngôi mồ
    vùi đất lạ thịt xương e khó rã
    hồn không đi sao trở lại quê nhà

    Và vô số những người khác…

    Ly hương, trong hoàn cảnh như thế, mọi người chỉ có một nhu cầu: sống còn. Tất cả các thứ khác đều là chuyện “ruồi bu”, kể cả một thứ vừa vu–vơ vừa viễn–vông vừa vớ–vẩn là văn học. “Từ ngày bỏ nước ra đi, tôi đâu còn nghĩ đến chuyện nghệ thuật văn chương nữa” (…)“ Ai lại nghĩ xây dựng một sự nghiệp văn nghệ trong vòng vài trăm ngàn người, tản mát khăp mặt địa cầu, mỗi ngày một xa lạc ngôn ngữ dân tộc, xa rời cuộc sống dân tộc,” theo Võ Phiến. Viết, với ông, chỉ là  để thỏa mãn một “nhu cầu lẩm cẩm” [4] (Thư gửi bạn/1976).

    Mà rồi không phải thế.

    “Hồn Việt Nam” (10/1975), một trong những tờ báo đầu tiên ở hải ngoại, lúc đầu, chấp nhận vai trò của người thua cuộc. Trong bài mở đầu, người chủ trương, nhà thơ Minh Đức Hoài Trinh, viết: “Trước những biến chuyển của đất nước, trước những vui buồn, những ngơ ngác, hân hoan của mỗi người, trước những đau khổ, nhục nhã của cuộc ly hành, chúng tôi có bổn phận phải làm gì để chia sẻ.” Mục đích của tờ báo chẳng có gì ngơài mong muốn “trở thành mối liên lạc giữa kẻ ở với người đi” và giữ gìn “văn hóa và dân tộc”.

    Tóm lại, đã thua rồi thì chịu thua thôi, còn mưu cầu gì nữa.

    Nhưng rồi, tin tức dồn dập trong nước dần dần lọt ra ngoài: các trại tù cải tạo, chiến dịch đốt sách, đàn áp văn nghệ sĩ, phong trào đánh tư sản, bắt bớ tu sĩ…Cả miền Nam hoàn toàn bị đặt dưới gọng kềm sắt máu của kẻ chiến thắng. Lượng người vượt biên, vượt biển mỗi ngày mỗi gia tăng. Tin dữ đã làm thay đổi hẳn lập trường ban đầu của tờ báo. Đến tháng 10/77, “Hồn Việt Nam” ra bộ mới, với một ban biên tập mới, ngoài Minh Đức Hoài Trinh, còn có Trần Tam Tiệp, Phạm Hữu, Vũ Phong. Tờ báo chuyển hướng sang đấu tranh chính trị. “Quê hương Việt Nam đang sống trong đau khổ, uất nghẹn, tủi nhục, người Việt tha hương không thể thụ động khoanh tay, cúi đầu.” (Thư Tòa Soạn). Ngôn ngữ thay đổi: trên báo xuất hiện những nhóm chữ “phục quốc, nội công, ngoại kích, mất nước”. Hồn Việt Nam “đã báo động và phản ảnh những biến đổi tâm thức của người Việt hải ngoại: từ ý hướng hòa hợp dân tộc, xây dựng lại đất nước sau chiến tranh, chuyển sang thái độ trực diện, đối đầu.” [5]

    Yếu tố chính trị, quả thật, đã là động cơ thúc đẩy sự ra đời của cộng đồng người Việt hải ngoại, mà sự hiện diện của nó tự dưng trở thành đối kháng với bộ máy cai trị chuyên chế ở trong nước.

    Cùng với nó là văn học.

    Cũng là lẽ đời, lẽ thường, lẽ tự nhiên.

    Đỗ Quyên, nhà thơ, xuất thân ở Hà Nội: “Bản chất của một nền văn học ở ngoài lãnh địa quốc gia rõ ràng thay đổi theo thời gian, tức là qua mỗi thế hệ. Với Văn học Việt Hải ngoại, đúng là từ 1975 cho tới buổi hôm nay 2007, vấn đề Hải ngoại – Chính quốc đã và đang không hề chỉ là về mặt địa lý. Nói “thẳng tưng” ra, nó là chính trị. (…) Tương quan đối kháng Ta–Địch đã và đang còn làm nên “máu” của dòng chính nói trên.” [6]

    Nói thì nói vậy, chứ trên hết thảy, văn học hải ngoại (chứa đựng trong nó) là một…nỗi niềm.

    2. Từ chợ đến…văn học nghệ thuật

    Vài ngày sau khi đến định cư ở một thành phố nhỏ, thuộc một tiểu bang lạnh giá vùng Bắc nước Mỹ, nơi chỉ có khoảng vài ngàn người Việt ở rải rác trong một vùng toàn người…ngoại quốc, lần đầu tiên tôi chạm mặt với thế giới chữ nghĩa ở một nơi bất ngờ: chợ. Thu tóm trong không gian chật chội của một ngôi nhà thuê cũ kỹ, giọng Huế chen Quảng, Bắc chen Nam, đậm đà mùi ruốc mùi nước mắm mùi cá thịt, mùi rau cải mùi tiêu mùi hành mùi trà và mùi nhạc…boléro, chợ là nơi của quy tụ, của gặp gỡ, của chia xẻ. Giữa những tanh tao lao xao chen chúc ồn ào, tôi tìm thấy một số “vật thể” nhỏ bé nằm thầm lặng ở một góc nhỏ lãng quên, gần quầy tính tiền: báo tiếng Việt. Sản phẩm văn hóa dành cho những đứa con lạc loài ở xứ người, được bỏ mối tại các chợ/tiệm, chung đụng với chả giò, gỏi cuốn, chè, bánh trái. Lâu quá, thèm chữ, không cần quan tâm đến hình thức “nghèo nàn” của nó, tôi cầm báo đọc ngấu nghiến, từ những trang quảng cáo (chiếm phần lớn) cho đến tin tức thời sự quốc tế, thời sự cộng đồng, từ những bài thơ “con cóc” cho đến những bài thơ tình ướt át, từ những truyện ngắn in lại của các tác giả cũ cho đến đoản văn của những cây bút hoàn toàn xa lạ. Chao ơi, tiếng Việt! Đọc chúng, tôi ngẩn ngơ nghe thấm khắp châu thân hơi hướm quê nhà: một tổng hợp kỳ lạ giữa mùi và tiếng.

    Trong quá trình tồn tại (và phát triển) của nó, dẫu loại báo này – được quen miệng gọi là “báo chợ” – mang một hình ảnh tiêu cực do cách phát hành ở một nơi không mấy thích hợp, sau này lại càng tệ hại hơn khi có tờ, nói như Nguyễn Vy Khanh, trở thành “báo chửi” (chửi nhau trở thành một cái “mẹo” quảng cáo), sự hiện diện của nó đã đóng một vai trò không thể thiếu trong sự kết nối những người xa xứ thành một cộng đồng văn hóa. Nó là sự tiếp tục không ngưng nghỉ của những “tờ báo” xuất hiện trong các trại tị nạn vào những tháng tiếp sau biến cố 4/75. Theo nhà văn Mai Kim Ngọc, bước đi chập chững đầu tiên của văn học hải ngoại được thực hiện trong các trại tỵ nạn: những bản tin chỉ dẫn cách sống. Đó đơn giản là những tờ giấy quay ronéo, tập trung vào mục rao vặt, nhắn tin tìm thân nhân và thông báo từ cơ quan đảm trách trại tị nạn. Nhu cầu viết và đọc không có gì khác hơn là giúp những người hốt hoảng di cư nắm bắt tin tức cần thiết cho sự sống còn.

    Hồi ấy, chúng tôi không nghĩ đến văn học… và có lẽ đồng bào tôi cũng chưa nghĩ đến văn học. Tất cả những viết lách tôi thấy là những chuyện rất thiết thực, những bản tin chỉ dẫn nội quy của trại, những cẩm nang cho những người sắp rời trại về cách sinh hoạt trong một thành phố Mỹ, những chuyện đi xe buýt, chuyện gọi điện thoại, chuyện mua bán tại siêu thị vân vân và vân vân. Tóm lại những chuyện thuần túy thực dụng và cấp thời, chính xác và ngắn gọn như ngôn ngữ của những hoàn cảnh cấp cứu… Tuy tất cả những gì viết ra không phải là văn học, nhưng rất nhiều tác phẩm chúng ta đã viết với mục đích thực dụng, vẫn có giá trị văn học, không trực tiếp thì gián tiếp. Khi rời khỏi đất nước, ít ai trong số người đó nghĩ tới chuyện rồi đây sẽ sống ra sao. Lẽ cố nhiên, lúc đó chả còn đầu óc đâu mà nghĩ tới văn chương nữa. Nhiệm vụ chủ yếu đối với chúng tôi là sống được cái đã, bởi lẽ phải bắt đầu tất cả từ con số không?” [7]

    Tờ báo đầu tiên là “Chân Trời Mới” do Phạm Kim Khánh xuất bản vào tháng 5/1975 tại đảo Guam, “thọ” đúng ba tháng khi người Việt cuối cùng rời đảo Guam vào định cư trong lục địa Hoa Kỳ. [8] Một tờ khác, là “Đất Lành”. Võ Phiến, trong bài “Xuất trại”, nhắc nhở đến tờ báo này: “Đất Lành cuối tháng 8–75, liên tiếp mấy số liền, có những bài đăng ở trang nhất, cố gắng giải thích, khuyên nhủ, dỗ dành, mỉa mai, rồi… hăm dọa, nhằm thúc đẩy dân tỵ nạn mạnh dạn ra đi lập lại cuộc đời mới.” [9] Từ những “Chân Trời Mới”, “Đất Lành”, dần dà, người Việt đã thực hiện và phát hành những tờ báo càng ngày số lượng càng nhiều và càng có vẻ “báo chí” hơn về cả hình thức lẫn nội dung, sau khi được nhận định cư ở Hoa Kỳ và các nước khác. Hình thức làm “báo phát không” (free circulation newspapers) này đã từng được ví von như hiện tượng “trăm hoa đua nở” trên mọi nẻo đường…hải ngoại. Bất cứ ở đâu có cộng đồng người Việt là ở đó có báo đủ dạng đủ loại, từ đấu tranh, hội đoàn, tin tức thời sự, văn chương đến tôn giáo. Một món ăn tinh thần bổ dưỡng miễn phí. Nhiều nhất chắc chắn là ở Hoa Kỳ, sau đó là Canada, Pháp, rồi đến các nước khác ở Tây Âu cũng như ở Đông Âu và Úc châu.

    Hầu hết báo chí đều có tính cách tổng hợp. Ngoài quảng cáo là nguồn nuôi sống tờ báo chiếm lĩnh phần chính, còn lại là tin tức, bình luận thời sự, các mục tạp nham khác và cuối cùng, pha thêm chút thơ, truyện cho màu mè. Đi xa hơn, một số báo định kỳ như “Trắng Đen”, “Người Việt”, “Hồn Việt”, “Việt Nam Hải Ngoại” ở Mỹ, “Dân Quyền”, “Lửa Việt” (Canada), “Độc Lập” (CHLB Đức), “Người Việt Tự Do” (Nhật) cho công bố các sáng tác của những nhà văn di tản. Dần dần chúng được xuất bản thành sách sau đó. “Ly hương” (tập truyện) của Võ Phiến và Lê Tất Điều, “Ngừng bắn giờ thứ 498” (Lê Tất Điều), “Trọn vẹn” (Võ Phiến), do “Người Việt” phát hành, có thể là những tác phẩm đầu tiên, đánh dấu thời kỳ mở đầu cho một nền văn học không mong mà có.

    Theo với cuộc sống dần dà ổn định, phần văn học nghệ thuật trong các tờ báo được chăm chút cẩn thận, càng ngày càng trở thành một trong những yếu tố thu hút độc giả. Bùi Vĩnh Phúc ghi lại một kỷ niệm như sau về nhà văn Nguyễn Mộng Giác: “Tôi biết anh [Nguyễn Mộng Giác] là vào khoảng năm 1984, khi anh đang phụ trách trang nghệ thuật của báo Đồng Nai tại Quận Cam. Trang báo được anh chăm chút một cách cẩn thận. Từ cách thiết kế các tiết mục văn nghệ, các bài vở cho đến chính nội dung của các bài vở ấy. Một lần, anh Giác cho đăng làm hai hay ba kỳ chuyện vừa Ngựa Nản Chân Bon mà anh đã viết trên đảo tỵ nạn Kuku, Galang, trong những ngày chờ được định cư tại một nước thứ ba (…) Đọc được truyện ngắn (đúng hơn là truyện vừa ấy), tôi thật thích, vì, đối với tôi, nó đáp ứng được những khát khao về mặt thẩm mỹ trong văn học mà đã từ lâu, ít ra từ những ngày cuối tháng Tư, 1975 cho đến lúc ấy, tôi không có dịp được nếm trải, được tiếp cận.” [10]

    Cho đến nay, mặc dầu báo đủ loại đầy dẫy trên mạng, hình thức làm báo chợ “nguyên thủy” như thế vẫn còn tồn tại. Tất nhiên với hình thức và nội dung được cải tiến nhiều và phong phú hơn. Dù bị khuất lấp bởi quảng cáo và tin tức, báo nào cũng có thơ văn đủ loại. Nhiều tờ phát hành song song hai loại, vừa báo giấy bỏ chợ lại vừa cho lên mạng, với sự cộng tác đều đặn (kiểu này hoặc kiểu khác) của những cây bút thời danh, trở thành tạp chí tổng hợp, đủ để sưởi ấm tấm lòng yêu văn chương của nhiều hạng độc giả.

    Một số nhà văn thành danh, hay tác phẩm xuất sắc được đăng lần đầu tiên, đôi khi không phải từ/ trên những tạp chí thuần túy văn chương, mà từ/trên những tờ báo bỏ chợ như thế. Với sự điều hành và/hay cộng tác của những nhà văn nhà báo chuyên nghiệp thời VNCH di tản, một số tạp chí “thuần túy” văn học nghệ thuật, dần dà xuất hiện. Tất cả điều này tạo nên một môi trường văn chương lan tỏa trong cộng đồng người Việt hải ngoại, vừa kích thích sáng tác vừa là nhân tố tạo nên một lớp người viết mới càng ngày càng đông đảo. Nhờ đó, một dòng văn học tồn tại ngoài đất nước trở thành hiện thực.

    Để độc giả, nhất là thế hệ trẻ, dễ hình dung, xin liệt kê một số tạp chí, dù không đầy đủ lắm, nhưng khá điển hình: 

    Ở Pháp, có “Hồn Việt Nam” (Minh Đức Hoài Trinh) 1975, “Quê Mẹ” (Võ Văn Ái) 1976.

    Ở Canada, có “Làng Văn” (Nguyên Hương và Nguyễn Hữu Nghĩa) 1984; “Trăm Con” (Trân Sa) 1992.

    Ở Úc, có “Việt Luận” (Nguyễn Chánh Sĩ) 1983, “Tạp chí Việt” (Nguyễn Hưng Quốc, Hoàng Ngọc Tuấn) 1998.

    Ở Hoa Kỳ, thì rộn ràng hơn nhiều:

    “Đất Mới” (Huy Quang, Vũ Đức Vinh, Nguyễn Văn Giang, 7/1975) với sự cộng tác của Thanh Nam, Mai Thảo;

    “Lửa Việt” (Nguyễn Ngọc Bích) 1976, với sự cộng tác của Nghiêm Xuân Hồng, Mặc Ðỗ, Hùng Lân, Võ Phiến, Viên Linh, Trần Phong Vũ, Nguyễn Đức Nam, Kim Y, Vi Khuê, Huyền Vũ…;

    “Hồn Việt” (Nguyễn Hoàng Đoan), 1976 với sự đóng góp bài vở của Lê Tất Điều, Võ Phiến, Thanh Nam, Tạ Ký, Nhất Tuấn, Cung Tiến, Nguyên Sa, Túy Hồng;

    “Người Việt” (Đỗ Ngọc Yến, Lê Đình Điểu), 1978;

    “Văn Học Nghệ Thuật” (Võ Phiến) 1978;

    “Thời Tập” (Nguyễn Hữu Hiệu, Viên Linh), 1979;

    “Nhân Chứng” (Du Tử Lê), 1983 với sự cộng tác của Nhật Tiến, Nguyên Sa, Lê Huy Oanh, Phạm Duy, Vũ Khắc Khoan, Đặng Phùng Quân…;

    “Nhân Văn” 1982, do một nhóm trẻ chủ trương với chủ nhiệm Phi Ngọc Anh và chủ bút Hoàng Nguyên Khôi và sự cộng tác của những cây bút mới về sau trở thành những cây bút hải ngoại tiếng tăm như Tưởng Năng Tiến, Trần Diệu Hằng, Phan Ni Tấn, Nguyễn Mạnh Trinh…;

    “Văn” (Mai Thảo 1982, Nguyễn Xuân Hoàng 1997);

    “Văn Học” (Nguyễn Mộng Giác) 1986;

    “Tân Văn” (Hà Thúc Sinh) 1988;

    “Thế Kỷ 21” (Vương Hữu Bột, Phạm Phú Minh) 1989;

    “Hợp Lưu” (Khánh Trường) 1991;

    “Hương Văn” (Bùi Bích Hà, Huy Trâm) 1993;

    “Tạp Chí Thơ” (Khế Iêm) 1994;

    “Khởi Hành” (Viên Linh) 1996;

    “Văn Tuyển” (Nguyễn Phúc Sông Hương) 1998;

    “Sóng Văn” (Nguyễn Sao Mai) 1999;

    “Văn Phong” (Tạ Cự Hải, Nguyễn Minh Nữu) 1999;

    “Phố Văn” (Nguyễn Xuân Thiệp) 2000;

    “Chủ Đề” (Nguyễn Trung Hối) 2000;

    “Thư Quán Bản Thảo” (Trần Hoài Thư, Phạm Văn Nhàn) 2001;

    “Gió Văn” (Hàn Song Tường, Nguyễn Thị Thanh Bình) 2003;

    “Nguồn” (Trần Anh Lan, Song Nhị) 2004;

    “Tân Văn” (Nguyễn Văn Lục) 2007;

    “Văn Học Mới” (Hà Nguyên Du) 2018;

    “Ngôn Ngữ” (Luân Hoán, Song Thao, Nguyễn Vy Khanh) 2019;

    “Gió Đông giai phẩm” (Đông Âu) [11]

    Vân vân.

    3. Chế chữ         

    Trong giai đoạn đầu tiên, một trong những trở ngại mà báo chí hải ngoại phải đối phó là: không có máy đánh chữ Việt, không có nhà in Việt cũng không có máy vi tính Việt. May, chữ “quốc ngữ” sử dụng bảng chữ cái La Mã, nên không đến nỗi “vô kế khả thi” như chữ Hán, chữ Phạn. Chỉ cần in ra chữ Tây, bỏ dấu vào, thành chữ Ta.

    Báo “Người Việt” (California) chẳng hạn.

    Năm 1978, khởi đầu với một máy chữ “IBM Selectric” đi mượn và bốn ngàn ($4,000) đô la tiền vốn, hai nhà báo Đỗ Ngọc Yến và Lê Đình Điểu đã lao vào một cuộc kinh doanh và cũng là một nghĩa vụ: thực hiện một tờ báo tiếng Việt cho cộng đồng di dân. Cũng như mọi tờ báo khác trong thời kỳ này, báo in ra bằng chữ không dấu, dùng bút mực bỏ dấu (sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng) từng chữ một, đồng thời cắt, dán để hoàn tất tờ báo trước khi sao ra nhiều bản, phân phát đi các nơi. Mãi đến năm 1986, “Người Việt” mới thoát khỏi công việc tốn thời gian này nhờ “Việt Diplomat”, bộ gõ tiếng Việt do “VN Labs”, một công ty nhu liệu do kỹ sư Nguyễn Việt (Victor Nguyen) thành lập vào năm 1984, tọa lạc tại San Jose, tiểu bang California. Mời đọc một trích đoạn từ bài “Typing in Tongues” (Gõ phím ra Giọng nói) [12] của Maria L. La Ganga, ký giả báo “Los Angeles Times” ngày 16/6/1989, viết về công trình này của Victor Nguyễn:

    Đối với các nhân viên của Người Việt, tờ báo tiếng Việt quan trọng ở Quận Cam, việc xuất bản một số báo đã là công việc hết sức vất vả trước khi Victor Nguyen xuất hiện. Viết bài không phải là vấn đề; đánh máy chữ mới là vấn đề. Và chính tiếng Việt – với vô số dấu trên gần như mọi chữ – là nguyên nhân cốt lõi của sự phức tạp đó. Cho đến gần đây, chưa có phần mềm máy tính nào giải quyết được sự phức tạp của tiếng Việt. Vì vậy, các nhân viên của báo Người Việt phải gõ bài vào máy điện toán mà không có dấu, sau đó in ra bản chính của từng bài viết và quảng cáo, rồi tự tay bỏ dấu trước khi đem báo đi in. Ruth Talovich, một biên tập viên của tờ báo phát hành năm–ngày–một–tuần, nhận xét: “Nhìn tất cả những chữ trên trang báo và tưởng tượng phải đi xuyên suốt hết để thêm dấu vào trên từng chữ một. Hãy nhìn những dấu móc trên chữ U [Ư] và chữ O [Ô], những dấu mũ trên chữ E [Ê]. Chỉ cần lướt qua một trang thôi là sẽ thấy nó tốn thì giờ biết chừng nào.”

    Người kỹ sư trẻ tài năng này không ngừng ngang đó. Maria L. La Ganga cho biết tiếp:

    Vào năm 1986, khi tạp chí Người Việt bắt đầu sử dụng Diplomat, nhu liệu này chỉ có tiếng Việt; ngày nay [1989], nó cho phép các nhu liệu tiếng Anh “nói” được 23 ngôn ngữ khác nhau, từ tiếng Albania đến tiếng Urdu. Và ông Nguyen đã rời bỏ môi trường doanh nghiệp để dành thời gian cho VN Labs, công ty của ông tại Newport Beach chuyên sản xuất sản phẩm đa ngôn ngữ này. (…) Ông Nguyễn cho biết, với các nhu liệu và máy tính cá nhân trước đây, “người dùng muốn viết hoặc xuất bản bằng ngôn ngữ của mình thì không thể làm được. Nhưng giờ đây, với (các chương trình) của chúng tôi, họ có thể sử dụng tất cả tính năng của các bộ xử lý văn bản tiếng Anh hiện có – và quan trọng hơn nữa là nhu liệu dàn trang – để viết bằng ngôn ngữ của mình.”

    1986 đúng là “năm bản lề” của báo chí tiếng Việt hải ngoại. Nó thay đổi hẳn cung cách viết lách và xuất bản sách vở báo chí mọi loại, góp phần quan trọng cho sự phát triển mạnh mẽ của một nền báo chí và văn học non trẻ ở ngoài xứ sở.

    Ngoài Nguyễn Việt, còn có Hồ Thành Việt, tức John Hồ (1955–2003). Trước năm 1975, Việt là sĩ quan Tiểu đoàn 7 Thủy Quân Lục Chiến, quân lực Việt Nam Cộng Hòa. Di tản sang Mỹ năm 1975, anh theo học “California State University”, Fullerton. Tốt nghiệp kỹ sư vi tính, anh thành lập “Công Ty Nhu Liệu VNI” (VNI Software Company). Gần như cùng thời điểm với Nguyễn Việt, anh phát hành bộ chữ VNI, lúc đầu được sử dụng với MS–DOS, về sau, dùng chung với những hệ điều hành khác như Microsoft Word, WordPerfect, Ventura Publisher…Năm 1995, công ty VNI phát hành nhu liệu “VNI–Tân Kỳ for Windows” bao gồm kiểu chữ và cách nhập dữ liệu dùng cho Windows Workstation 3.1 và Windows 95. Năm 2000, bộ “VNI–Tan Viet 2000 UNICODE” được cải tiến để sử dụng được trên mọi hệ điều hành.

    Sau này, vào năm 1993, Hội Chuyên Gia Việt Nam (Vietnamese Professionals Society) cũng sản xuất ra một nhu liệu tiếng Việt mới, VPSKeys, thiết kế cho hệ điều hành Windows 3.1; nhu liệu này về sau cũng trở thành phổ biến trong ngành báo chí cũng như cho các máy vi tính cá nhân. 

                       

    Báo “Người Việt” (số ra mắt 15/12/1978, bỏ dấu bằng tay)      

    Bài giới thiệu Victor Nguyễn trên báo “Los Angeles Times” (ngày 16/6/1989)

    Tạp chí “thuần túy” văn học đầu tiên ở hải ngoại: “Văn Học Nghệ Thuật” (bỏ dấu bằng tay)

    Ngoài ra, tưởng cũng nên nhắc đến “Vietnet”, một nhóm các nhà khoa học máy tính trẻ gốc Việt được thành lập vào năm 1986. Máy tính thời kỳ đó chỉ hỗ trợ tiêu chuẩn mã hóa ký tự ASCII (American Standard Code for Information Interchange = Mã tiêu chuẩn Mỹ trong Trao đổi Thông tin). Trong khi chưa có nhu liệu tiếng Việt, để liên lạc với nhau trong nhóm, các thành viên đã đã kiến tạo một danh sách điện thư, kết nối các cộng đồng người Việt hải ngoại thông qua giao tiếp điện tử, bằng cách sử dụng các ký tự có sẵn trong ASCII để biểu thị những dấu thanh trong tiếng Việt. Sau đó, họ chuyển danh sách email này đến một diễn đàn thảo luận có tên là: soc.culture.vietnamese (SCV).

    Mẫu dưới đây là thư của một thành viên gửi cho các thành viên khác trong diễn đàn này, hỏi về cách đặt tên trong tiếng Việt:

    Tiện lợi và đơn giản: biến chữ Tây thành chữ Ta, không cần bỏ dấu!

    Những ai chưa từng biết qua cách viết này cũng có thể đọc và tạm hiểu nội dung của nó. Chẳng hạn câu trích ra sau đây:

    • Okay, trong Tu+’ Ddu+’c, “Co^ng, Dung, Ngo^n, Ha.nh”, “Dung” co’ nghi~a gi` ha? ba` con? (Dung nhan?) = Okay, trong tứ đức “Công, Dung, Ngôn, Hạnh”, “Dung” có nghĩa gì hả bà con? (Dung nhan?)

    Quy tắc viết được gọi là quy ước “SCV” hoặc “VIQR” (Vietnamese Quoted–Readable) được quy định như sau:

    Dấu . = nặng; ` = huyền;   = sắc; ? = hỏi; ~ = ngã

    Các nguyên âm đặc biệt: o+ = ơ; u+ = ư, a^ = â ; a (= ă  dd = đ

    Quy ước “VIQR đã trở thành tiêu chuẩn mà nhiều công dân trực tuyến Việt Nam trong thời hoàng kim của các nhóm tin và diễn đàn tin dùng, và vẫn còn được nhiều người sử dụng cho đến tận ngày nay.” [13]

    Khi vừa đến định cư (1993), tôi đã từng đọc khá nhiều tài liệu chính trị, xã hội và văn chương viết dưới dạng này, được gửi qua email, trong đó có “Tạp Chí Văn Chương Liên Mạng” của Phạm Chi Lan. Chính tôi cũng đã tập sử dụng hình thức này để trao đổi thư từ, cũng như ghi chép tài liệu cất giữ trong máy tính.

    Lược qua vài nét như thế để thấy những khó khăn lớn lao của người viết văn làm báo hải ngoại trong thời gian đầu trước khi phát triển thành một nền báo chí hoàn chỉnh.

    4. Bỗng…Little Saigon

    Quá trình báo chí đó diễn ra gần như song song với quá trình hình thành các cộng đồng người Việt ở nhiều nơi trên đất nước Hoa Kỳ. Đặc biệt, là tiểu bang California.

    Từ tháng 5/1975, khoảng vài ngàn người Việt tị nạn được chuyển đến trại Pendleton (căn cứ Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ, San Diego, California). Được cư dân địa phương giàu lòng nhân ái giúp đỡ, họ lần lượt đi định cư rải rác trong các thành phố Santa Ana, Garden Grove, Westminster, Costa Mesa và các vùng phụ cận. Đến năm 1979, gần 100 cơ sở thương mại của người Việt xuất hiện quanh quanh trên đường Bolsa (Westminster), đường First (Santa Ana) và đường Westminster (Garden Grove), tạo thành một khu sinh hoạt riêng biệt, “Khu Việt Nam”. Năm 1980, ký giả Du Miên vẽ tấm bản đồ ghi rõ địa chỉ từng cơ sở thương mại, đặt tên nó là “Phố Sài Gòn”. Đầu năm 1981, Rosa Kwong, trong một bài viết về sinh hoạt Tết Nguyên Đán đăng trên nhật báo “Orange County Register”, dịch chữ “Phố Sài Gòn” là “Little bit of Saigon”, sau, thu gọn thành “Little Saigon”. Ngày 9.2.1988, Hội Đồng Thành Phố Westminster thông qua Quyết Nghị số 58, công nhận khu phố trên đại lộ Bolsa là “Little Saigon”.  Ngày 17.6.1988, Thống Đốc California, ông George Deukmejian, đã đến cắt băng khánh thành các bảng chỉ dẫn “Little Saigon, Next Exit” được “California Department of Transportation” (Bộ Công Chánh Cali) dựng ở hai xa lộ 405 và 22 dẫn vào hai đường Brookhurst và Magnolia.

    Từ đó, Little Saigon thu hút di dân Việt khắp nơi về định cư, biến vùng đất ngoại ô của khu Bolsa–Garden Grove vắng vẻ và yên tĩnh thành một đô thị phát triển với chùa chiền, nhà thờ, thánh thất và các cơ sở thương mại, các đài truyền hình, đài phát thanh, báo chí, các trung tâm ca nhạc…Đó cũng là nơi khởi nghiệp của những chính trị gia người Mỹ gốc Việt tham gia vào dòng chính của nền chính trị Hoa Kỳ qua các chức vụ dân cử như: nghị viên, dân biểu, thị trưởng… [14]

    Little Saigon, một bất ngờ lớn của hải ngoại!

    Như một điểm quy tụ nhân tâm, Little Saigon đột nhiên trở thành “ngôi nhà” của cộng đồng người Việt tị nạn, không những của cư dân ở đó mà còn của cư dân ở nhiều nơi trên thế giới. Khái niệm “nhà” mà nỗi mong ước “về nhà” là một hiện thực vượt ra ngoài nơi chốn mà người ta đang sống, theo Trangdai Glassey–Tranguyen. Trong biên khảo “Articulating Refug–endity in VietnAmerica and the Diasporas 1975–2015: From Ethnic Autonomy to Global Visibility” (Diễn đạt Bản Sắc–Tị Nạn trong cộng đồng người Mỹ gốc Việt và các cộng đồng hải ngoại 1975–2015: từ Tự Trị Sắc Tộc đến Hiện Diện Toàn Cầu)nghiên cứu về văn chương của người Việt hải ngoại nhân kỷ niệm 40 năm chấm dứt chiến tranh Việt Nam, cô viết:“Vai trò của cộng đồng văn hóa trong VietnAmerica [Vietn(am)–America] [15]có một ảnh hưởng sâu sắc đến kinhnghiệm của những di dân và người tị nạn, cung cấp một không gian vừa hữu hình vừa mang tính tưởng tượng nhằm (tái) tạo một quê nhà trong quá khứ và mộtquê nhàxuyên quốc gia mới(transnational home). Nơi chốn đã từng là quê nhàcủa cộng đồng ấy vẫn mãi là quê nhàtrong trái tim họ.” [16]

    Các tác giả Sanjoy Mazumdar, Shampa Mazumdar, Faye Docuyanan và Colette Marie McLaughlin , trong tiểu luận “Creating aSense ofPlace: The Vietnamese–Americans and Little Saigon” (Sáng tạo ra một Ý Nghĩa về Nơi Chốn: Những người Mỹ gốc Việt và Tiểu Sài Gòn) cũng có một cái nhìn tương tự. Theo họ, ở Hoa Kỳ, “Kinh nghiệm của người Việt Nam là câu chuyện về sự đau đớn và mất mát, mất nước, mất nhà, mất gia đình, mất văn hóa và căn cước.”  Cho nên, Little Saigon xuất hiện như là “trung tâm của căn cước và sự gắn bó của cộng đồng.”  Nó đã trở nên, “không chỉ là trung tâm thương mãi mà còn là trọng điểm xúc động của cộng đồng người Việt ở Hoa Kỳ.” Vì thế, những người Việt nào không cư trú ngay tại Little Saigon, thì đến “Little Saigongiống như thực hiện một cuộc hành hương. Đối với họ,đó là một ngôi nhà thay thế, một ngôi nhà ngoài quê nhà(a home away fromhome), một nơi chốn họ có thể dễ dàng đến để có được một chuyếnvề thăm nhà. (…) Đối với một cộng đồng người tị nạn đã mất quê hương, trong đó có thủ đô Sài Gòn, việc thành lập Little Saigontượng trưng cho niềm hy vọng từ ‘không nhà’ (homeless)trở thành ‘có nhà’trở lại(a ‘home’ again).Cuối cùng, chính sự hiện diện của Little Saigonđã truyền tải một cáchđầy biểutượng đến xã hội sở tại khao khát của cộng đồng di dânViệt Nam muốn bám rễ thường trựctrên vùng đất tạm dung mới (trong đất Mỹ)trong lúc vẫn duy trì được bản sắc dân tộc riêng của họ thông qua sự chuyển dịch thành côngtôn giáo, văn hóa và doanh nghiệp của họ.” [17]

    Thủ đô văn học

    Một trong những bản sắc dân tộc riêng được biểu hiện trong văn hóa nghệ thuật. Sau 1975, hầu hết những khuôn mặt trí thức văn hóa cũng như văn nghệ sĩ của miền Nam, sớm hay muộn, đều lần lượt tìm cách thoát ra hải ngoại. [18] Phần lớn trong số đó đều đến, hay tìm cách đến, định cư ở vùng Quận Cam. Đây là nguồn nhân lực tiên phong gây dựng nên nền móng báo chí cũng như văn học nghệ thuật hải ngoại. Các tờ báo, các tạp chí văn học nghệ thuật và các trung tâm băng nhạc lớn, nhỏ đều tọa lạc tại Little Saigon. Chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi phần lớn các tổng biên tập đầu tiên của ngành truyền thông tiếng Việt tại Little Saigon đều là những cây bút kỳ cựu của VNCH trước năm 1975. Nhận xét về vai trò của những nhà văn này đối với văn học hải ngoại, Trangdai Glassey–Tranguyen viết:

    Trong khi ghi nhận nỗ lực, sự hiện diện và đóng góp của tất cả các nhà văn, tôi cho rằng chính những nhà văn đã thành danh (the established and committed writers) – trong đó có nhiều người nay đã qua đời – là những người tạo ra các tác phẩm có ý nghĩa then chốt đối với việc hình thành bản sắc tị nạn Việt Nam (Vietnamese refug–endity), bởi khả năng của họ nhằm truyền tải những hiện thực đã trải qua và các triển vọng một cách mạnh mẽ nhất.(…) Các nhà văn này kiến tạo một không gian để phản ánh chính những kinh nghiệm và quan điểm riêng của họ, cũng như của đồng hương và cách nhìn của cộng đồng văn hóa của họ về đời sống tại VietnAmerica và trong các cộng đồng di dân khác. Họ chủ động vận dụng tối đa khả năng sáng tác: tự xuất bản, xây dựng các hội đoàn văn chương, thành lập các nhà xuất bản và các chương trình viết lách, xây dựng các cơ sở truyền thông và tạp chí văn học, tiếp tục các sáng tác mà họ đã khởi viết từ miền Nam Việt Nam trước năm 1975, và mở ra một cầu nối giữa văn học “tị nạn” của người Mỹ gốc Việt với văn học lai và/hoặc văn học của các thế hệ 1.5 và các thế hệ sinh sau tại Hoa Kỳ.” [19]

    Quận Cam tràn trề Việt Nam. Nó việtnam đến nỗi, một nhà văn ra đi từ miền Bắc, Phạm Thị Hoài, hiện định cư ở Đức, xem nó như một hình ảnh đặc trưng của xu hướng bảo tồn văn hóa:

    Cộng đồng Việt nhỏ bé ở bên ngoài lại có một phẩm chất đặc biệt: nó bảo tồn rất nhiều khía cạnh văn hoá Việt mãnh liệt và cuồng nhiệt hơn ở chính quốc. Một lúc nào đó, tôi e rằng các học giả muốn truy tìm dấu tích lịch sử dân tộc Việt, thay vì đi Hà Nội có lẽ phải đến Quận Cam. Cội rễ có thể bị bật tung tại chính chỗ phát sinh, nhưng lại dai dẳng sống sót ở những vùng biên xa xôi nhất. Việt Nam hải ngoại là một vùng biên như thế.” [20]

    Một trách móc ưu ái!

    Nguyễn Hưng Quốc, một nhà nghiên cứu văn học ở Úc, chẳng chút đắn đo khi khẳng định chắc nịch:

    Sau năm 1975, không còn hoài nghi gì nữa, California, đặc biệt là Nam California, đã dần dần nổi lên như một trung tâm của nền văn học hải ngoại. Đó là nơi tập trung nhiều người Việt nhất đồng thời cũng là nơi người Việt làm ăn buôn bán tấp nập và thành công nhất. Những cái “nhất” ấy là cơ hội thuận tiện cho việc thương mại hóa văn học bằng tiếng Việt. Hầu hết các tạp chí văn học lớn đều nằm ở Nam California, từ Văn đến Văn Học, Hợp Lưu, Tạp chí Thơ, Khởi Hành, và Thế Kỷ 21. Số lượng các tạp chí tương đối có tầm vóc nằm ngoài California rất hiếm, và trừ Làng Văn ở Canada, đều yểu mệnh, có khi chỉ hoạt động yếu ớt được vài ba năm, kể cả tạp chí Việt ở Úc. Các nhà xuất bản cũng vậy, từ Văn Nghệ đến Thanh Văn, Văn Mới, Văn Khoa, Tân Thư, Đại Nam và Xuân Thu đều nằm ở California. Chỉ có một số ít nhà xuất bản lớn nằm ngoài California như An Tiêm (Pháp), Làng Văn (Canada), Cành Nam (Washington D.C.), v.v… Nhưng phần lớn đều nhờ đến một trung tâm phát hành chính là nhà Văn Nghệ ở California. Chính vì thế, trong một thời gian dài, nói đến văn học hải ngoại, người ta nghĩ ngay đến California. California trở thành thủ đô của văn học Việt Nam hải ngoại.” [21]

    Vùng đất “nhỏ bé” ấy gánh trên mình vai trò của…hai “thủ đô”: thủ đô tị nạn và thủ đô văn học. Thiệt tình!

    Cũng chỉ là cách nói tượng trưng. Văn học hải ngoại đâu chỉ Little Saigon (hay Quận Cam) hay Cali(fornia). [22] Các sinh hoạt văn học nghệ thuật còn nằm nhiều nơi trong nước Mỹ, ở những thành phố lớn: Boston, Dallas, Houston, San Jose, Washington DC…; mỗi nơi đều tìm cách xây dựng các “Tiểu Sài Gòn” riêng cho từng địa phương.

    Tiếp sức cho những Little Saigon ở Mỹ, còn có Pháp với Paris; Paris không chỉ là một thủ đô văn hóa mà còn là biểu tượng cho tự do dân chủ và nhân quyền. Đó là nơi quy tụ một số lượng lớn các khuôn mặt trí thức và văn nghệ sĩ Việt Nam nổi tiếng của nhiều thế hệ, hoặc đã định cư nhiều thập nhiên trước 1975, chẳng hạn như Trần Thiện Đạo, Đặng Tiến, hai cây bút thường viết cho tạp chí “Văn”, Sài Gòn (mà tôi biết), hoặc đến tị nạn sau 1975. Không kém Hoa Kỳ, Pháp là nơi xuất hiện nhiều tài năng văn chương hải ngoại như Đỗ Quỳnh Dao, Đặng Mai Lan, Miêng, Mạch Nha, Mai Ninh, Trần Thị Diệu Tâm và Phan Thị Trọng Tuyến, những nhà văn nữ đem lại cho vườn văn học Việt Nam ở hải ngoại một nét trẻ trung, tươi mát, theo Liễu Trương; [23] hay Trần Vũ, một nhà văn tài hoa và độc đáo. Đó cũng là nơi có đài phát thanh RFI (Radio France International), mà chương trình văn học nghệ thuật do nhà biên khảo Thụy Khuê phụ trách, đã từng là một chiếc cầu nối văn học nghệ thuật trong và ngoài nước khi việc giao lưu trong và ngoài nước hãy còn rất khó khăn do chính sách cấm đoán của nhà cầm quyền cộng sản. Cũng là nơi của hai tạp chí mạng “Diễn Đàn Forum” và “Ăn Mày Văn Chương”, được điều hành bởi những trí thức vốn là thành phần thiên tả trước 1975, sau trở thành bất đồng chính kiến với nhà cầm quyền Việt Nam. Cũng là nơi “Câu Lạc Bộ Văn Hóa Việt Nam Paris” đã được thành lập vào năm 1994 quy tụ rất nhiều nhân sĩ trí thức và văn nghệ sĩ như Trần Văn Cảnh, Hồ Trường An, Trần Thanh Hiệp, Lê Mộng Nguyên, Vũ Quốc Thúc, Từ Thức, Nguyễn Đăng Trúc, Liễu Trương, Phan Thị Trọng Tuyến…

    Còn có Úc. So với Hoa Kỳ và Pháp, chỉ trừ vài ba khuôn mặt là thuộc giới văn nghệ sĩ thời VNCH, phần lớn, nếu không muốn nói là hầu hết, những người sáng tác nổi tiếng tại Úc trong thời gian qua đều cầm bút sau năm 1975. Đó là nơi xuất hiện hai tạp chí thuần túy về văn học đầu tiên của cộng đồng người Việt Nam tại Úc: Việt (báo giấy 1998–2001, 8 số) và Tiền Vệ (báo mạng 2002–2018), do Nguyễn Hưng Quốc và Hoàng Ngọc–Tuấn chủ trương.  Điểm đặc biệt là cả hai tạp chí đều nghiêng về các khía cạnh lý thuyết văn học và phổ biến những sáng tác có xu hướng cách tân, gây ảnh hưởng khá lớn lao đối với dòng văn học ở trong và ngoài nước. Tạp chí “Văn Học” tại California đã dành một số đặc biệt (số 41, 6/1989) “giới thiệu những cây bút trẻ ở Úc”: Hoàng Ngọc–Tuấn, Thường Quán, Cao Huy, Cheo Reo và Uyên Nguyên. Úc cũng là nơi cư trú của nhà văn Nam Lê, mà tác phẩm “The Boat” (Thuyền) của ông đoạt gần chục giải thưởng quốc tế, đã là một niềm hãnh diện cho cộng đồng Việt Nam hải ngoại.

    Còn có Canada. Là láng giềng của Hoa Kỳ, Canada là nơi mà sinh hoạt báo chí mọi loại phát triển không thua gì ở Hoa Kỳ, trong đó có một số tạp chí để lại nhiều dấu ấn của văn học hải ngoại như Làng Văn, Trăm Con. Đó là nơi định cư của một số văn nghệ sĩ nổi tiếng như Luân Hoán, Trang Châu, Hoàng Xuân Sơn, Hoàng Chính, Trần C. Trí…; là nơi có Kim Thúy, nhà văn nữ đoạt nhiều giải văn học ở Canada, và cũng là nơi ra đời của “Ngôn Ngữ”, tờ tạp chí văn học giấy duy nhất vẫn còn tồn tại ở hải ngoại cho đến giờ, do Song Thao, Luân Hoán, Nguyễn Vy Khanh chủ trương. Đó cũng là nơi thành lập “Hội Quốc Tế Y Sĩ Việt Nam Tự Do”, một tổ chức y khoa, nhưng lại quan tâm đến văn học nghệ thuật qua các “Giải Thưởng Văn Học” được trao cho các công trình biên khảo, nghiên cứu, nghị luận có giá trị về các lãnh vực văn hóa, giáo dục, chính trị, xã hội của những  người Việt tị nạn.

    Còn có Đức. Đức là nơi định cư của một số cây bút ra đi từ miền Bắc như Thế Giang, Lê Minh Hà, Phạm Kì Đăng…và nhất là Phạm Thị Hoài, người sáng lập ra tạp chí mạng Talawas lừng danh một thời.

    Còn có Ba Lan, nơi xuất phát tạp chí mạng Đàn Chim Việt, hiện vẫn còn tiếp tục hoạt động.

    Và ở nhiều nước Âu châu khác.

    (còn nữa)

    Trần Doãn Nho

    ………….

    Chú thích:

    [1] Nguyễn Mộng Giác, Nhìn lại một năm Văn chương hải ngoại (1995)

    [2] Dã Tượng, Nguyên Ngọc: Văn học, nội lực, trong-ngoài, và…Vài tra vấn với nhà văn Nguyên Ngọc.

    [3] Jane Katz, Artists in Exile, American Odyssey, Stein & Day Publishers, NY 1983. Bản dịch Ngô Thế Vinh, “Những Nghệ sĩ Lưu vong, Hành trình tới Mỹ Quốc”. Bài đã dẫn (xem chú thích số 13.

    [4] Dẫn theo Nguyễn Hưng Quốc, “Tuyển tập Hai mươi năm văn học Việt nam hải ngoại 1975-1995”, Đại Nam, California, 1995, Tập 1.

    [5] Dẫn theo Thụy Khuê, Hai mươi nhăm năm văn học Việt Nam hải ngoại 1975-2000

    [6] Đỗ Quyên, Chỉ là đợt thử mắt bên phải (Góp ý với hội thảo về văn học hải ngoại, Quận Cam, California, 1/2007)

    [7] Mai Kim Ngọc. Vài cảm nghĩ về văn học hải ngại // Tạp chí Văn học (California). 1995, số 109.

    [8] NHQuốc

    [9] Thụy Khuê, bđd.

    [10] Bùi Vĩnh Phúc, Nhớ Nguyễn Mộng Giác. Và tưởng nhớ một thời văn

    [11] Xem Nguyễn Vy Khanh, Văn Học Việt Nam 50 Năm Hải Ngoại, tiểu mục “50 năm báo chí hải ngoại” (từ trang 646-711))

    [12] Maria L. La GangaTyping in Tongues: Software Lets Users of Conventional Word Processors Write in Any of 23 Languages

    [13] Xem: Thi Nguyễn, Gõ tiếng Việt, Phần 2: Người Việt xa xứ, Unicode và Sự phổ biến của Unikey

    [14] Xem Thanh Phong, Lịch Sử Little Saigon.

    [15] Vietn(am)-America: từ ngữ mà Trangdai tạo ra để chỉ cộng đồng người Mỹ gốc Việt.

    [16] Trangdai Glassey-Tranguyen, Articulating Refug-endity in VietnAmerica and the Diasporas 1975-2015: From Ethnic Autonomy to Global Visibility, Journal of Environmental Psychology.

    [17] Xem ở:

    [18] Trừ một số nhỏ các nhà văn: Dương Nghiễm Mậu, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Nguyễn Thị Hoàng hay lứa nhà văn nhà thơ nổi tiếng thời thập niên 1970 như Nguyễn Bắc Sơn, Cao Thoại Châu, Lê Văn Trung, Trần Dzạ Lữ, Nguyễn Lệ Uyên…

    [19] Trangdai Glassey-Tranguyen, bđd.

    [20] Phạm Thị Hoài, “Gốc”, ProContra

    [21] Nguyễn Hưng Quốc, Văn học hải ngoại, phi tâm hóa (VOA)

    [22] Lưu ý: Little Saigon, một khu vực bao gồm các thành phố WestminsterGarden GroveFountain Valley, and Santa Ana, chỉ là một phần nhỏ thuộc Quận Cam (Orange County), tiểu bang California, nơi có cộng đồng người Việt đông đúc nhất ngoài Việt Nam. Người Việt thường thích gọi tắt tiểu bang California là “Cali” và dùng lẫn lộn giữa Little Saigon và Quận Cam. Khi một ai đó nói: “Tôi đi Quận Cam”, có nghĩa là “Tôi đi Little Saigon” hay ngược lại. Ngoài Little Saigon, thuộc vùng “Nam Cali”, một khu vực khác cũng đông người Việt không kém, đó là San Jose, cách Little Saigon khoảng 6 tiếng lái xe và Sacramento (thủ phủ của bang California) thuộc vùng “Bắc Cali”.

    [23] Liễu Trương, Các nhà văn nữ ở Paris

    Trần Doãn Nho


    Không có nhận xét nào