Văn chương hải ngoại: nỗi chữ – nỗi quê
Văn chương ngoại ngữ
Kỳ 5
Trần Doãn Nho
(12/2005 – 4/2006)
17/5/2026
Nói đến thành tựu của văn học hải ngoại tiếng Việt (Diaspora Vietnamese–Written Literature), ta không thể không đề cập đến những tác phẩm viết bằng tiếng Anh (Diaspora English–Written Literature).
Tác phẩm Việt chỉ lưu hành trong cộng đồng người Việt, dành cho người Việt. Một tác phẩm Việt chuyển dịch ra ngoại ngữ, đó vẫn là một tác phẩm Việt. Nhưng một tác phẩm viết thẳng bằng ngoại ngữ (Anh hay Pháp) là văn học hội nhập. Loại tác phẩm này chỉ xuất hiện ở thế hệ “một rưởi” (1.5/đến Mỹ khi còn nhỏ) hay thế hệ “hai” (2.0/sinh ra và nuôi dưỡng ở Mỹ). Viết thẳng bằng tiếng Anh, tác phẩm mang hơi thở tiếng Anh. Ngôn ngữ nào, hơi thở nấy. Dẫu vậy, chúng vẫn mang sắc thái Việt. Chính vì thế, chỉ khi những tác phẩm này xuất hiện thì tiếng nói của cộng đồng người Việt lưu vong mới bắt đầu có tiếng vang trong thế giới văn chương xứ người.
Theo Ngu Yên, thế hệ 1.5 là “thế hệ bản lề”. Một là, họ theo học ngôn ngữ và văn hóa chính thống, thông thường, họ giỏi tiếng địa phương (Anh hay Pháp) hơn tiếng Việt; hai là, “một số trong bọn họ đã thu thập tiếng Việt, Việt tính, Việt chất ở quê nhà trước khi nhập cư xứ người. Trong họ là một hỗn hợp văn hóa, suy nghĩ, cách sống, niềm tin, vân vân…” Hai yếu tính này tạo cho họ “một bản lãnh và những kinh nghiệm riêng biệt, có thể nói là duy nhất. Chính những trải nghiệm này sẽ xuất hiện trong tác phẩm của họ tạo nét đặc sắc riêng tư,” từ đó, “đóng vai trò quan trọng trong việc tiên phong bước vào dòng văn học chính thống.”
“Thế hệ 2.0 sinh ra và lớn lên tại địa phương, hấp thụ ngôn ngữ và văn hóa bản địa, họ là một “loại người bản xứ da màu. Họ không cách xa mấy thế hệ 1.5 về sự ảnh hưởng của Việt tính và Việt chất, mặc dù không lớn lên ở quê nhà, nhưng họ thu thập cá tính và tập quán Việt từ gia đình nơi mà quyền gia trưởng áp lực mạnh mẽ bao trùm từ thơ ấu cho đến khi trưởng thành. Nội tâm của họ ướp đầy mùi vị văn hóa Việt. Đồng thời để hội nhập đời sống hàng ngày, nhất là học đường, bắt buộc họ phải đấu tranh với bản thân, gia đình và người bản xứ để bão hòa tâm lý và bảo vệ cái tôi.” [1]
Xuất hiện vào khoảng giữa thập niên 1990 cho đến nay, các tác phẩm của hai thế hệ này có vài tính cách riêng, hơi khác với tác phẩm thuần Việt:
Đa dạng về thể loại: truyện dài với “Monkey Bridge” của Lan Cao, “The Book of Salt” của Monique Truong; thơ với “Song of the Cicadas” của Mộng–Lan, “Night Sky with Exit Wounds” của Ocean Vuong; truyện ngắn với “Fake House” của Linh Dinh, “Quiet As They Come” (2010) của Angie Chau; truyện vừa với “The Gentle Order of Girls and Boys” của Dao Strom; truyện tranh với “Vietnamerica: A Family’s Journey” của GB Tran, “The Best We Could Do” (2017) của Thi Bui.
Đa dạng về đề tài: chiến tranh với “Where the Ashes Are” của Nguyễn Quí Đức, kinh nghiệm di dân và chấn thương văn hóa, chủng tộc…với “Perfume Dreams” của Andrew Lam, “The Refugees” của Viet Thanh Nguyen, “Quiet As They Come” của Angie Chau, “Dragonfish” của Vu Tran, mâu thuẫn, xung đột gia đình với “Monkey Bridge” của Lan Cao, “The Gangster We Are All Looking For” của Lê Thi Diem Thúy; cảm nhận khi về thăm quê hương với “Catfish and Mandala: A Two–Wheeled Voyage Through the Landscape and Memory of Vietnam” của Andrew X. Pham, ẩm thực với “Stealing Buddha’s Dinner” của Bich Minh Nguyen, “Bitter in the Mouth” của Monique Truong, tình yêu và đồng tính với thơ của Kim–An Lieberman, Hieu Minh Nguyen, Ocean Vuong…
vân vân và vân vân.
Dù khác nhau, nói chung, văn chương của họ là một hành trình kiến tạo bản sắc cộng đồng và căn cước cá nhân trong một môi trường xung đột liên tục về văn hóa, chủng tộc và lịch sử. Xin nêu lên một số tiêu biểu:
– Lan Cao: tiểu thuyết “Monkey Bridge” 1997, được Michiko Kakutani, nhà nghiên cứu văn học, The New York Times, gọi nó là “một tác phẩm đầu tay đầy ấn tượng”, so sánh nó với các tác phẩm của Salman Rushdie và Bharati Mukherjee.
– Andrew Lam: tập tiểu luận “Perfume Dreams: Reflections on the Vietnamese Diaspora” đoạt giải “PEN/Beyond Margins” năm 2006.
– Nam Lê (Úc): tập truyện ngắn “The Boat”, đoạt nhiều giải thưởng, trong đó có “The Prime Minister’s Literary Award for fiction” và “NSW Premier’s Literary Awards” năm 2009.
– Đinh Linh: tiểu thuyết “Love Like Hate” giành được giải thưởng “Balcones Fiction” năm 2011.
– Monique Truong: tiểu thuyết “The Book of Salt”, đoạt các giải “PEN/Robert W. Bingham Prize”, “ALA Stonewall Book Award” và “Young Lions Fiction Award” năm 2014
– Nguyễn Thanh Việt: tiểu thuyết “The Sympathizer”, đã giành được “2016 Pulitzer Prize for Fiction”, giải thưởng văn chương hàng năm cao quý nhất dành cho tiểu thuyết năm 2016.
– Ocean Vuong: Tập thơ “Night Sky with Exit Wounds”, đoạt giải “Whiting Award, “T.S. Eliot Prize” và “Thom Gunn Award for Gay Poetry” vào năm 2016.
– Thi Bui: tập truyện “The Best We Could Do” đoạt giải “American Book Award” 2018. Tôi đã có dịp giới thiệu Thi Bui trong một bài viết ngắn đi trên nhật báo Người Việt (Cali)
Cũng phải kể đến các tác phẩm viết bằng tiếng Pháp:
– Linda Lê (Pháp): tiểu thuyết “Les Évangiles du crime” đoạt giải “Renaissance de la nouvelle”, 1993 và tiểu thuyết “Les Trois Parques” đoạt giải Giải Fénéon 1997
– Kim Thúy (Canada): tiểu thuyết đầu tay của mình, “Ru” (a lullaby), đoạt nhiều giải trong đó có “Governor General’s Award for French–language fiction” vào năm 2010.
10. Về đâu?
Từ hư vô, văn học hải ngoại xuất hiện.
Hơn năm thập niên, nền văn học bất ngờ này – theo nhiều nhà nghiên cứu – đã trải qua một số giai đoạn, từ chập chững đến hình thành, phát triển, và đạt đến đỉnh cao vào thập niên 1980 và nửa đầu thập niên 1990. Từ đó cho đến nay, nhịp độ phát triển chậm dần lại, số lượng tác giả mới cũng như số lượng tác phẩm xuất bản ngày càng giảm, các tác phẩm có giá trị về mặt nghệ thuật càng ngày càng hiếm.
Được hỏi về vấn đề này, qua cuộc trò chuyện với một số nhà văn nhà thơ nhân kỷ niệm 50 năm Văn Học Hải Ngoại do tạp chí Da Màu thực hiện, nhà thơ Hoàng Hưng, từ trong nước, cho biết:
“Cũng phải ghi nhận một thực tế: sau khoảng 40 năm phát triển tốt đẹp, với sự ra đi và lão hóa của vài thế hệ người viết và người đọc, sự hội nhập ngày càng sâu vào văn hoá bản địa của thế hệ người gốc Việt trẻ, văn học tiếng Việt hải ngoại đang đối mặt với tình trạng khó duy trì”;
Nhà nghiên cứu văn học Nguyễn Hưng Quốc, từ Úc, quả quyết: “…văn học hải ngoại thì hầu như không có tương lai. Nó đang hấp hối. Số người còn tiếp tục viết, và viết hay hoặc tương đối hay, trên khắp thế giới ngoài Việt Nam, theo tôi, không quá 10 người.” (…) Khi thế hệ thứ nhất (…) qua đi, văn học hải ngoại, nếu còn, cũng sẽ biến dạng hẳn. Biến dạng đến nổi không còn cả cái gốc.”
Nhà nghiên cứu văn học Thụy Khuê, từ Pháp, đưa ra một cái nhìn hơi khác: “Văn chương hải ngoại hiện nay, (…) người viết ở hải ngoại ít đi, nhưng người viết ở trong nước tăng lên, cho nên vẫn còn phong phú và đa dạng…(…) Hiện thời chính sách kiểm duyệt mạng ở trong nước cũng bớt gay gắt, có nhiều nơi ở miền Nam, đọc được các mạng, trước cấm, như Da Màu, Diễn Đàn Thế Kỷ [đã chuyển qua Thế Kỷ Mới], Diễn Đàn [Forum], Văn Việt, vv… Trong tình trạng mọi sự đang được cải tiến dần dần như thế, hy vọng Văn học Việt Nam sẽ sớm tái hiện với toàn bộ các nhà văn Nam, Bắc, trong, ngoài, trong thế kỷ qua…(…) Triển vọng của văn chương hải ngoại cũng là triển vọng của văn chương Việt Nam, tôi muốn được hiểu như vậy.”
Nhà thơ Ngu Yên, từ Mỹ, trong bài “Tóm lược 50 năm văn học Việt nhập cư 1975–2025”, nhận xét: “Sự thật hiển nhiên là người đọc càng ngày càng ít. Ở hải ngoại, giới lớn tuổi ra đi mang theo khoảng trống chữ nghĩa, không ai bù vào. Giới lớn tuổi còn lại hoặc ngưng đọc hoặc đọc giới hạn vì mắt già, bệnh già, mệt già… Giới trẻ lớn lên, đọc được tiếng Việt không nhiều. Đọc để hiểu tiếng Việt cao kỳ sâu sắc lại càng hiếm hoi. Thời hết đọc tiếng Việt ở hải ngoại sẽ đến.” [2]
Dù có khác nhau đôi chút, tất cả các nhận định trên đều phản ảnh khá trung thực hình ảnh “lặng lẽ” hiện nay của văn học hải ngoại. Ngay từ cuối thập niên 1990, Nguyễn Mộng Giác, trong bài “Tình trạng lão hoá trong sinh hoạt văn học” (1998), [3] đã có một cái nhìn tiêu cực như thế về nền văn học non trẻ này, (lúc đó) chỉ mới lên…23 tuổi.
Theo anh, một trong những yếu tố nòng cốt để văn chương phát triển là lớp trẻ. Quả đúng như thế. Thời VNCH, trong khi lớp Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền, Thảo Trường, Tô Thùy Yên vừa gia nhập văn đàn, nối tiếp với lớp tiền chiến của Nhất Linh, Nguyễn Vỹ, Trương Bảo Sơn, thì đọc họ là một khối lượng độc giả vừa đông đảo vừa trẻ trung là giới sinh viên học sinh, hoặc đang trên ghế nhà trường hoặc vừa rời trường ốc để đi vào quân đội, công chức hay các nghề nghiệp khác. Trong số độc giả đó, dần dần xuất hiện những tác giả trẻ mới toanh nhảy vào văn đàn, đó là những Nhã Ca, Nguyễn Thị Hoàng, Trùng Dương, Thế Uyên, Phạm Công Thiện, Nguyễn Xuân Hoàng rồi những Trần Hoài Thư, Y Uyên, Cao Thoại Châu, Duyên Anh rồi những Hồ Minh Dũng, Y Uyên, Huỳnh Hữu Uỷ, Trần Doãn Nho, Hoàng Ngọc Tuấn, Hoàng Xuân Sơn rồi những Nguyễn Bắc Sơn, Văn Lệ Thiên rồi những Trần Thị NgH, Thảo An, vân vân và vân vân. Không khí văn đàn luôn luôn sôi động với những cây bút và những tác phẩm mới lần lượt xuất hiện. Người viết mới, độc giả cũng mới, càng ngày càng nhiều, nối tiếp nhau.
Ngược lại, ở hải ngoại sau 1975, “Những bạn trẻ lứa tuổi hai mươi, khi sinh ra, chế độ Việt Nam Cộng Hoà sắp hay đã sụp đổ. Nếu họ theo cha mẹ di tản ra khỏi nước từ 1975 thì bây giờ [1998] may lắm họ chỉ bập bẹ được vài câu tiếng Việt thông thường, không đủ trình độ đọc sách viết sách tiếng Việt. Những bạn ở lại Việt Nam mới qua sau này (vượt biển, đoàn tụ gia đình, HO..) thì được giáo dục trong hệ thống giáo dục cộng sản. Họ đâu có biết Bùi Giáng, Nguyên Sa, Mai Thảo là ai đâu mà cha mẹ khuyến dụ được họ đi tham dự buổi tưởng niệm các văn thi sĩ nổi tiếng này,” theo anh.
Vì thế, “Tính sổ, chỉ còn lại những người lứa tuổi bốn mươi, năm mươi và sáu mươi [cuối thập niên 1990] ra đi từ Miền Nam là nòng cốt của sinh hoạt chữ nghĩa hiện nay.” Về nhân sự, “Không có tiếp sức của giới trẻ, văn học hải ngoại tất nhiên phải bị lão hóa.” Về ngôn ngữ, “Tiếng Việt ở hải ngoại trong tình trạng cô lập với chính quốc sẽ giữ y nguyên trạng hoặc hao hớt đi từ tiếng Việt thông dụng ở Miền Nam năm 1975.” Và về chuyện viết, “Nếu chỉ viết cho những người cùng cảnh ngộ lưu vong như chúng ta đọc, thì chúng ta cứ viết như lâu nay vẫn viết: tiếc nuối một thời hoàng kim đã mất, xót xa trăn trở với những khổ ải đã trải qua, lật từng trang album bồi hồi với những kỷ niệm, mơ ước ngày trở về có khải hoàn môn dựng trên khắp nẻo đường và gặp lại một quê hương y nguyên như thời hoàng kim cũ… Còn nếu phải viết cho cả những bạn đọc còn trẻ trong nước đọc, thì viết cái gì? Viết thế nào?”
Kết thúc bài viết, Nguyễn Mộng Giác than thở: “Văn chương đang thành ông cụ lỗi thời. Chẳng mấy chốc, cụ ngã bệnh… rồi ngậm cười nơi chín suối.” [4]
Thực ra, chủ biên tạp chí Văn Học chỉ đưa ra dự đoán, chứ vào thời điểm này, từ cuối thập niên 1990 qua thập niên 2000, sinh hoạt văn học hải ngoại vẫn dạt dào, sôi động. Những tạp chí văn học giấy vẫn còn: Hợp Lưu, Văn, Văn Học, Thế Kỷ 21, Khởi Hành…Các tạp chí mạng rộn ràng phát triển, từ Talawas, Tiền Vệ đến Da Màu, Gió–O, từ Ăn Mày Văn Chương, Diễn Đàn Forum đến Đàn Chim Việt và vô số các trang mạng khác, hoặc cá nhân hoặc hội, nhóm. Lớp nhà văn VNCH di tản khá đông đảo, vẫn tiếp tục viết. Lớp người viết mới vẫn còn sung sức, thỉnh thoảng được bổ sung thêm một số thành phần trẻ từ trong nước ra đi theo diện bảo lãnh hay du học. Sách, báo vẫn dồi dào. Các sáng tác văn chương có giá trị vẫn tiếp tục ra đời. Ở Quận Cam, các cuộc hội thảo hay sinh hoạt văn hóa, văn học nghệ thuật vẫn được tổ chức đều đặn, đông vui, náo nhiệt, hết Văn Học Hải Ngoại đến Văn Học Miền Nam hay Tự Lực Văn Đoàn…Thời đó, mỗi lần ghé qua “thủ đô” Little Saigon tham dự một sự kiện nào đó, đi đâu cũng gặp bạn văn. Nhà Nguyễn Mộng Giác, nhà Võ Phiến, quán cà phê Factory, quán cà phê Gypsy, tòa soạn Người Việt, Việt Báo…trở thành những “tụ điểm” văn học. Ở các vùng khác cũng thế. San Jose, Sacramento, Washington D.C, Boston, Houston (Hoa Kỳ), hay Montréal, Toronto (Canada) hay Melbourne (Úc), Paris (Pháp), không khí văn chương vẫn dạt dào.
Mãi cho đến khoảng giữa thập niên 2010 trở về sau…
Do tuổi cao sức yếu, kẻ thì quy tiên, người thì hoàn toàn gác bút, người nào còn viết thì năm thì mười họa mới có bài. Các hình thức sinh hoạt, nói chung, bắt đầu lắng xuống. Tuy chưa ngã bệnh để ngậm cười…như Nguyễn Mộng Giác tiên đoán, nhưng cũng không có dấu hiệu gì lạc quan hơn. Chỉ tà tà, tầm tầm.
Vừa qua, nhân Tết Dương lịch 2026, tôi ghé thăm Quận Cam. Litle Saigon bây giờ vẫn thế, báo chí đủ loại vẫn còn; nhiều sinh hoạt chính trị, văn hóa, tôn giáo, âm nhạc, kể cả sinh hoạt văn học nghệ thuật, cũng sôi nổi kiểu này kiểu khác. Có điều, không gian văn chương quen thuộc thu hẹp dần trong một vòng tròn thân hữu càng ngày càng nhỏ. Đã không còn những tạp chí văn học giấy như Văn Học hay Hợp Lưu ngày nào, lại thiếu vắng bóng dáng của rất nhiều bạn văn, vắng luôn những “tụ điểm” văn nghệ lao xao ồn ào ngày nào. Hú nhau, vẫn còn một số bằng hữu trong giới viết lách hăng hái đến gặp “ở một nơi mà ai cũng quen nhau” – dùng lại các nói của Hoàng Ngọc Tuấn [5] qua tựa đề một truyện ngắn nổi tiếng của anh trên tờ Văn (Sài Gòn) ngày nào: tiệm Coffee Factory. Có mặt hôm đó là anh chị Cung Tích Biền, các anh Phạm Phú Minh, Trịnh Y Thư, Phạm Phú Thiện Giao (đài VOA), Lê Hân, Thành Tôn, Nguyễn Đình Thuần (họa sĩ); và có cả chị Diệu Chi, bà xã của Nguyễn Mộng Giác. Tối hôm trước đó, tôi cũng được gặp một số các bạn văn (trẻ hơn) của nhóm Da Màu trong một buổi họp mặt chào đón năm mới ở nhà cô con gái của Nhã Ca, nhà thơ Lê Sông Văn: Bùi Vĩnh Phúc, Trần Chấn Trí, Đặng Thơ Thơ, Hồ Như, Nguyễn Hoàng Nam, Lê Đình Nhất Lang, Đàm Thúy Ngọc, Thúy Vi và anh con trai đầu của nhà văn Thảo Trường (1936–2010).
Đâu cũng như đâu, hễ gặp nhau là sôi nổi với nhiều dự định tràn trề văn chương trước mắt. Dẫu nhìn quanh quanh, ai cũng cảm thấy chút bùi ngùi vì nhiều khoảng trống mà những kẻ đi xa để lại…
Cung Tích Biền–Thành Tôn–Nguyễn Đình Thuần–Trần Doãn Nho–Trịnh Y Thư–Lê Hân (Little Saigon, California, 12/2025)
Trần Doãn Nho –Cung Tích Biền–Thành Tôn–Phạm Phú Minh– Phạm Phú Thiện Giao (VOA)–Trịnh Y Thư–Lê Hân–chị Cung Tích Biền–chị TDN–chị Diệu Chi (Nguyễn Mộng Giác) (Little Saigon, 12/2025)
Da Màu và bằng hữu
Hàng đầu (5 người): Lê Sông Văn–Trần Doãn Nho–Đặng Thơ Thơ–Hồ Như–Nguyễn Hoàng Nam
Hàng 2: Bùi Vĩnh Phúc (sau ĐTT)–Thúy Vi
Hàng 3: Trần C. Trí– con nhà văn Thảo Trường–Paulina Đàm–Lê Đình Nhất Lang
(Little Saigon, 12/2025)
Văn học hải ngoại được hình thành qua các biến cố lịch sử, do đó, chịu tác động mạnh mẽ của chúng, lúc thịnh thời cũng như lúc thoái trào: di tản, thuyền nhân, biến cố Đông Âu, chương trình ra đi có trật tự… So với không khí hào hứng thuở chập chững ra đời mấy thập niên trước, văn học hải ngoại bây giờ đã là chuyện “một ngày như mọi ngày” trong đời sống xứ người, thiếu hẳn cái động lực thúc đẩy viết lách của ngày tháng cũ.
Nhiều lý do.
Một là, không có những biến động chính trị nào bên ngoài đủ mạnh thôi thúc người viết;
Hai là, cuộc sống mỗi ngày mỗi ổn định, những phẫn uất, đau thương nguôi ngoai dần đối với thế hệ thứ nhất, còn các thế hệ tiếp sau, họ có những băn khoăn và ưu tư mới;
Ba là, trong lúc số độc giả đọc sách tiếng Việt giảm dần theo tuổi tác thì những tài năng văn chương trẻ chỉ phát triển trong môi trường mới với số độc giả mới, không mấy nồng nàn với tiếng Việt;
Bốn là, sự xuất hiện của văn chương mạng – một chiếc cầu hợp lưu trong, ngoài không cần phong trào – đã chuyển các sáng tác theo một chiều hướng khác;
Năm là, giao lưu trong và ngoài nước bây giờ dễ dàng hơn, hai chữ “hải ngoại” nghe không mấy “nhạy cảm” như xưa;
Sáu là, nhiều người trở về tái định cư ở cố hương, kể cả một số tác giả hải ngoại;
Bảy là, một số tác giả hải ngoại xuất bản sách và thậm chí, ra mắt sách ở trong nước;
Tám là, các cây bút “lão hóa”, dần dần nối bước nhau “ra đi” theo tuổi tác.
Người định cư thì tăng nhưng nguồn nhân lực cho văn chương Việt hải ngoại, cả viết lẫn đọc, đều giảm sút.
Đánh giá tình hình chung, Ngu Yên nhận xét: “sáng tác văn học Việt nhập cư sau một thời gian rầm rộ phơi bày muôn màu sắc của cảm giác và cảm xúc về tình yêu, thân phận, số mạng, lưu vong, thất lạc, khuynh hướng chính trị, chọn lựa nhập cư, chống đối xã hội văn minh vô cảm, vân vân, dần dần tình cảm đó lặp đi lặp lại, chỉ thay đổi hình dạng cốt truyện, thay đổi tên tuổi giới tính nhân vật, thay đổi đối thoại mà ý tưởng ý xưa, còn phẩm chất văn chương là tương tự, là bắt chước lẫn nhau, là lặp lại với chính bản thân, và không có lối thoát. Dư dài mà thiếu sâu. Dư tình mà thiếu ý.”
Vì sao? Ngu Yên không “đỗ lỗi” cho ai. Tất cả (chúng ta) phải cùng chia nhau gánh nặng, theo anh. Trước hết là từ người viết: “Thông thường nếu không có lý tưởng, không có mục đích, viết cho vui, những người viết này khó theo đuổi nghiệp văn lâu dài.” Sau đó là người đọc: “Còn người đọc, người thưởng ngoạn, sau bao năm dài vẫn không bước ra khỏi phạm vi văn chương đã lỗi thời. Vì sao vẫn mãi mãi in trí “tiếng hát vượt thời gian”, “đệ nhất minh tinh muôn thuở”, “nhạc Trịnh muôn năm?” Và cuối cùng là nhà phê bình: “Cơ bản nhất trong công việc phê bình văn học là làm sáng tỏ văn bản cho người đọc, không phải cho tác giả. Vậy mà, biết bao nhiêu bài phê bình tác phẩm dành gần hết chữ nghĩa cho tác giả, còn người đọc vẫn lơ mơ về văn bản nhưng biết nhiều hơn về người viết và người phê bình.”
Nhưng Ngu Yên nhấn mạnh, những điều trình bày trên không chỉ riêng cho hải ngoại. “Những nhà văn nhà thơ nào còn sốt sắng với văn chương là những người chọn viết vì lý tưởng với lòng yêu văn học. Không quan tâm lắm đến người đọc đương thời, mà có niềm tin về người đọc mai sau. Tôi nghĩ, trong nước hay ngoài nước cũng cùng chung tình trạng.”
Chí lý! Tôi ghi nhận như thế, nhưng xin tạm gác lại đề tài tương đối phức tạp đó, để đề cập đến một khía cạnh khác.
Khác với văn học miền Bắc xã hội chủ nghĩa mang tính áp đặt và văn học miền Nam tự do bung nở thời kỳ trước 1975, thì văn học hải ngoại, hiểu theo bất cứ cách nào, cũng là một tai nạn. Là hậu quả nặng nề của một biến cố lịch sử. Thậm chí, là một nghịch lý. Bởi lẽ, một nền văn học không thể phát sinh và phát triển bên ngoài nguồn sữa dân tộc. Lúc đầu, văn học hải ngoại có vẻ như là một đứa con hờ, con ngoại hôn hay con ngoài kế hoạch. Tưởng chỉ như là một vết mực nhòe vô giá trị, sẽ tự động tan đi hay dễ dàng tẩy xóa. Xét cho cùng, sự kiện lịch sử hay văn hóa nào cũng vậy, lúc đầu, chỉ là chuyện tình cờ, có thể chóng qua, không để lại một di chứng nào. Cũng xét cho cùng, lẽ ra văn học hải ngoại không nên/không thể có. Nhưng rồi do những điều kiện không ai ngờ tới hỗ trợ, nó không còn là chuyện trà dư tửu hậu. Nó đã hiện diện, đã phát triển, trở thành hiện thực, dồi dào, mạnh mẽ, đầy ý nghĩa. Nó đã đến không do ai áp đặt, nó đã phát triển không do ai chỉ đạo. Thành thực mà nói, trong một hoàn cảnh cô cùng bất thường như thế, văn học hải ngoại đã thực hiện nhiều điều phi thường, vượt qua cả chính sức vóc của mình: hình thành một dòng văn học không kém bất cứ một dòng văn học chính thống nào. Không những đã không làm sức mẻ, mất mát chút nào mà ngược lại, nó còn làm phong phú thêm văn học Việt Nam.
Văn học hải ngoại, tự nó, không chỉ là văn học. Mà còn là một thông điệp. Một mặt, nó là sự sống còn của những người thua cuộc; mặt khác, là một vết thương tự–gây (self–inflicted) của dân tộc. Nó không phải là nguyên nhân, mà là hậu quả của một chính sách, một lý thuyết. Là sự thất bại của một chiến thắng.
Đã xuất phát từ một tai nạn lịch sử thì nó chỉ có thể biến mất, hay thay đổi, chỉ khi một/những “tai nạn” lịch sử khác diễn ra. Nói khác đi, khi những điều kiện thúc đẩy nó có mặt, biến mất.
Hiện nay, dù nhà nước Việt Nam đã có một số điều chỉnh chính sách khá tích cực, bản chất chuyên chế của chế độ, trong thực tế, vẫn thế. Vẫn sáng nắng chiều mưa. Vẫn xin–cho. Vẫn áp đặt. Vẫn chủ yếu là gây sợ hãi. Cứ nhìn cách chọn lựa những người lãnh đạo quốc gia qua một chuỗi những cuộc bầu bán với kết–quả–hoàn–toàn–tiền–chế đầu năm 2026 vừa qua, ta sẽ thấy ngay tính cách “nhất quán” của một chế độ: chuyện quốc gia đại sự là chuyện của chỉ một nhóm người. Có khi là cha truyền con nối. Mới đây nhất (21/4/2026), trong nước diễn ra một sự kiện xã hội “buồn cười”, trông thì chẳng văn học chút nào, nhưng mà hết sức văn học. Nó được đề cập qua hai bài viết ngắn:
Một, “Văn Việt đến thăm nhà văn Nguyên Ngọc chiều ngày 19/4/2026” (Văn Việt):
Hai, “Sao anh Nguyên Ngọc phải xin lỗi” (Bauxite Việt Nam):
Đó là câu chuyện phái đoàn Văn Việt từ Sài Gòn ra Đà Nẵng thăm nhà văn Nguyên Ngọc, người sáng lập Văn Đoàn Độc Lập và tạp chí Văn Việt, hiện đã 95 tuổi, nhưng bị cơ quan an ninh tìm mọi cách ngăn cản, rốt cuộc, không được gặp, đành phải quay về. Đây là trích đoạn cuối bài “Sao anh Nguyên Ngọc phải xin lỗi” của Ngô Thị Kim Cúc:
“Vì sao chúng tôi không thể lên thăm anh Nguyên Ngọc? Lý do từ phía chúng tôi hay từ phía anh Nguyên Ngọc? Lại gọi máy để nói lời từ biệt anh Nguyên Ngọc. Lần này, kẻ liên tục chiếm sóng máy anh đã ngưng gọi nên anh bắt máy trả lời ngay. Khi Hoàng Dũng chuyển máy cho chị Ý Nhi, anh Nguyên Ngọc nói một câu nghe thương quá sức : “Mình xin lỗi…”. Sao anh phải xin lỗi? Sao chúng tôi không thể lên thăm anh? Nên hiểu chuyện này như thế nào? Ai có thể trả lời những câu hỏi này … ?”
Tôi email hỏi một người quen trong nước về sự kiện này, được anh trả lời: “Việt Nam đã thế, nay vẫn thế và mai còn thế, anh ơi!”
Hoàng Hưng không ngần ngại gọi cách hành xử này là “vô pháp vô thiên vô đạo vô nhân vô văn hoá (…) đi ngược hoàn toàn với tinh thần của ‘kỷ nguyên vươn mình’ mà ông chủ tịch Hội Nhà văn VN gọi là ‘KỶ NGUYÊN NGƯỜI’.” [6]
Nhà thơ trực tính này đã từng tiên đoán loại sự kiện như thế trong một cuộc trò chuyện với Da Màu trước đây. Trong lúc cho rằng “thái độ của nhà cầm quyền trong nước đối với văn học tiếng Việt hải ngoại, cũng như với văn học VNCH trước 1975, ngày càng cởi mở hơn”, anh cũng phải thừa nhận là nó “chậm chạp, thận trọng, đến sốt ruột”. Anh thẳng thắn nhận xét: “Nhiều người đang trông đợi những thay đổi sau Đại hội Đảng đầu 2026, khi nghe ông Tổng Bí Thư mới tuyên bố hùng hồn về ‘kỷ nguyên mới’, ‘không viết lại được lịch sử nhưng có thể hoạch định lại tương lai’, ‘chấp nhận những khác biệt’… Tuy nhiên, nếu ông thực lòng thay đổi, thì lực bảo thủ rất lớn trong đảng Cộng Sản cũng không dễ tuân chỉ, đặc biệt trong lãnh vực tư tưởng văn hoá là lãnh vực bảo thủ nhất (so với kinh tế, công nghệ…). Wait and see thôi!” [7]
Cùng một ý, Thụy Khuê, khi được hỏi về vai trò của Internet đối với văn học, xác định: “Nói rằng: “Internet đã xóa nhoà ranh giới trong và ngoài nước”, cũng chẳng khác gì nói Internet đã xoá nhòa mọi biên giới: không còn sự phân biệt quốc gia, chủng tộc, tiếng nói, văn chương, gì nữa… Theo tôi hiểu, câu này chỉ đắp lên một thực tại mà người viết không dám nói ra: Internet xoá nhoà sự kiểm duyệt, mà ở trong nước bây giờ, dù chính quyền đã nới rộng chính sách với Việt kiều (về nước không cần visa) và nhiều tác giả hải ngoại đã về in sách ở trong nước, nhưng sự kiểm duyệt vẫn còn mạnh. Những sách giá trị của Văn học miền Nam vẫn chưa được phép xuất hiện trên văn đàn.” [8]
Nguyễn Lệ Uyên, khi được hỏi “khi nào thì dòng văn học “cung đình” [dòng văn học được chỉ đạo] hết cung đình và dòng “tự do” [hải ngoại] được thong dong đi vào trong nước một cách thoải mái?”, khẳng định ngay: “Xin thẳng thắn thưa ngay rằng: khi nào thực sự tự do theo đúng nghĩa, khi nào nhân phẩm của con người được tôn trọng, khi nào “Đệ tứ quyền” không bị dán băng keo và Tam Quyền phân lập rạch ròi, dù cho thể chế có là cộng sản, cộng hòa, xã hội hay dân chủ chi chi nữa… thì ngoài [nước] hay trong [nước] không còn là vấn đề mà, chỉ có MỘT DÒNG VĂN HỌC VIỆT NAM DUY NHẤT [NLU nhấn mạnh].” [9]
Ai sẽ phản bác ý kiến này của Nguyễn Lệ Uyên?
Tóm lại, nhà nước vẫn tiếp tục xem văn chương là một canh bạc cần phải thắng, thắng mãi, thắng tiếp, luôn luôn thắng. Có thay đổi, có cởi trói, có nới, có dễ dãi, có chấp nhận đôi chút khác biệt, nhưng vẫn chỉ là màu mè, sơn phết. Chỉ thích đe nẹt, dọa nạt và bắt bớ. Cả ngàn tờ báo, kể cả “70 tờ báo về văn học ở Việt Nam,” [10] buồn thay, vẫn chỉ có một tổng biên tập: Trưởng Ban Khoa Giáo Trung Ương. Cởi thì có cởi, nhưng cần trói là trói ngay. Dây thừng luôn đặt một bên, sẵn sàng đối phó với…thằng bướng bỉnh.
Người viết hải ngoại, ai chẳng muốn phổ biến tác phẩm trong nước để được hòa mình với dân tộc, để đến với một lượng độc giả rộng lớn hơn gấp bội so với vài ba triệu người phân tán khắp nơi trên thế giới. Nhưng phải sàng, phải lọc, phải chọn từng từ, lựa từng chữ, dè dặt sửa tới sửa lui cho khỏi “phạm húy” thì có, cũng bằng không. Văn chương gì mà khổ thế!
Văn chương là sự kiện, là cuộc sống, một tiến trình sống động, không phải là một màn trình diễn. Càng không phải là một cuộc chạy đua nước rút, ai đến trước thì đoạt giải, ai đến sau thì bị loại. Có bao giờ trễ nải đâu mà phải vội vã tranh giành.
Người ta viết văn vì người ta thích viết văn chứ không phải để viết một kiệt tác văn chương. Kiệt tác xuất hiện không phải vì một ai đó thai nghén kiệt tác. Kiệt tác là sản phẩm cá nhân nhưng gốc rễ được un đúc trong cộng đồng văn chương, một thế giới pha tạp, đa dạng. Xuất sắc, hay, dở, làng chàng…đều có chỗ đứng của nó. Một nền văn chương cần kiệt tác, nhưng kiệt tác tự nó, không đủ đại diện cho văn chương. Nếu tác phẩm nào cũng là kiệt tác, thì văn chương sẽ là cái gì…
Văn chương là một nỗi. Nỗi chữ.
Văn chương hải ngoại, nói cho cùng, là nỗi chữ của người xa xứ.
Nỗi chữ cũng chính là nỗi quê!
Vì nỗi chữ và nỗi quê mà một nền văn học hình thành.
Văn học hải ngoại.
Cứ thế…
Trần Doãn Nho
(12/2005 – 4/2006)
…………………………
Chú thích:
[1] Xem Ngu Yên, Tóm lược 50 năm văn học Việt nhập cư 1975-2025
https://vanviet.info/nghien-cuu-phe-binh/tom-luoc-50-nam-van-hoc-viet-nhap-cu-1975-2025-ky-2/
[2] Ngu Yên, bđd
[3] Nguyễn Mộng Giác, Tình trạng lão hoá trong sinh hoạt văn học,
[4] Nguyễn Mộng Giác, Tạp Chí Văn Học số 153-154 (1& 2/1999)
[5] Khác với Hoàng Ngọc-Tuấn hiện ở Úc
[6] Hoàng Hưng, Các cơ quan hữu trách phải thay đổi cách xử sự với CLB Văn Đoàn Độc Lập.
https://boxitvn.blogspot.com/2026/04/cac-co-quan-huu-trach-phai-thay-oi-cach.html
[7] Da Màu phỏng vấn Hoàng Hưng
https://damau.org/103674/tro-chuyen-voi-nha-tho-hoang-hung
[8] Phỏng vấn Thụy Khuê
https://damau.org/103771/thuy-khue-tra-loi-phong-van-cua-dang-tho-tho
[9] Phỏng vấn Nguyễn Lệ Uyên
https://damau.org/103805/tr-chuyen-voi-nh-van-nguyen-le-uyn
[10] Đức Anh, 70 tờ báo về văn học ở Việt Nam: đặc điểm, cách cộng tác, các giải thưởng & cuộc thi
https://ducanhwriter.substack.com/p/70-to-bao-ve-van-hoc-o-viet-nam-ac
Không có nhận xét nào