Kỳ 3
Tác giả: Trần Doãn Nho
Xuất bản: May 10, 2026
Mục lục
7. Văn học hải ngoại nhìn từ trong nước
8. Vài nét riêng của văn học hải ngoại
Tự phát
Tự túc
Tự biên tự diễn
Thế Kỷ Mới
Được thành lập từ tháng 9/2025, “Thế Kỷ Mới” (TKM)là một tạp chítổng hợp (chính trị, văn hóa, xã hội, văn học nghệ thuật…), kế tục“Diễn Đàn Thế Kỷ” (đóng cửa vào tháng 6/2025), trang mạng xuất hiện từ năm 2010 dưới sự điều hành của Phạm Phú Minh, sau chuyển sang cho Song Chi vào tháng 11/2022. Nhóm chủ trương TKM gồm có Song Chi, Thái Vĩnh Khiêm, Đào Nguyên Dạ Thảo, Nguyễn Văn Hưng, Phan Quang Cơ, Đinh Quang Anh Thái, Trần Huy Bích, Trùng Dương và Trần Mộng Tú. Song Chi, chủ biên, là nhà báo, nhà văn và cựu đạo diễn phim truyền hình. Là một người bất đồng chính kiến, chị được tổ chức “International Cities of Refuge Network” bảo trợ đến tị nạn chính trị ở Norway từ năm 2009, hiện cư trú tại thành phố Leeds, Anh.
Tuy mới ra đời, “Thế Kỷ Mới” hiện đang là một tạp chí mạng rất ăn khách. Được sự cộng tác của nhiều cây bút từ nhiều quốc gia khác nhau, kể cả trong nước, “Thế Kỷ Mới” cập nhật liên tục với nhiều bài viết đủ lãnh vực, đi rất sát với dòng thời sự thế giới, Việt Nam và Hoa Kỳ. Ngoài các đề tài chính trị xã hội nóng hổi, phần văn học nghệ thuật của tạp chí cũng rất phong phú và đa dạng, được cập nhật khá đều đặn, từ thơ, biên khảo cho đến truyện ngắn, tạp bút, bút ký, phiếm, vân vân. Trong số những cây bút viết về văn học nghệ thuật, ta thấy sự có mặt của Phạm Thị Hoài, Trần Mộng Tú, Ngu Yên, Trùng Dương, Trần Hoàng Phố, Nguyễn Phú Yên, Trần Doãn Nho, Uyên Nguyên, Song Thao, Nguyễn Lệ Uyên, Lê Chiều Giang, Ian Bùi, Lê Hữu, Từ Thức, Phan Tấn Uẩn, Phạm Đình Trọng, Ngô Nguyên Dũng, Phạm Tín An Ninh…
Da Màu
Da Màu được thành lập vào tháng 8/2006 gồm ba sáng lập viên: Phùng Nguyễn, Đặng Thơ Thơ và Đỗ Lê Anh Đào. Ban Biên Tập hiện nay gồm có: Đặng Thơ Thơ (chủ biên), Lưu Diệu Vân, Hoàng Chính, Nguyễn Hoàng Nam, Đinh Từ Bích Thúy, Đỗ Lê Anh Đào, Trần C. Trí, Lê Đình Nhất Lang và Trần Doãn Nho là thành viên phụ trách chuyên đề và thực hiện các cuộc phỏng vấn văn học.
Trần Doãn Nho–Phùng nguyễn– Trịnh Thanh Thuỷ– Nguyễn Hoàng Nam– Hồ Như– Đặng Thơ Thơ– Paulina Đàm –Đinh Từ Bích Thuý (Hình chụp tại Hội Thảo Văn Học Miền Nam 2014– trụ sở Việt Báo)
Phùng Nguyễn– Đinh Từ Bích Thuý– Apollo Robbins– Lê Đình Nhất Lang– Trần Doãn Nho–Hồ Như– Đỗ Lê Anh Đào– Đặng Thơ Thơ (hình chụp tại studio của Paulina Đàm)
Trừ Trần Doãn Nho, tất cả thành viên của Da Màu đều là những cây bút thuộc thế hệ “một rưởi” (11/2), bắt đầu “gõ chữ” ở hải ngoại, am hiểu và thấm nhuần cả hai nền văn hóa Việt–Mỹ, làm việc trong tinh thần tập thể, dân chủ và không kỳ thị. Trong suốt gần 20 năm hiện diện tính cho đến thời điểm này (2026), Da Màu hoàn toàn theo đúng chủ trương đã đề ra ngay từ lúc thành lập: “Màu da, ngôn ngữ, văn hóa, giới tính, định hướng tính dục, tín ngưỡng là những biên giới trong văn chương. Lịch sử cá nhân, ý thức hệ và chính kiến là biên giới. Trong nước, ngoài nước, chính thống, ngoại vi cũng là biên giới. Những quan niệm thẩm mỹ khác biệt cũng là biên giới. Những áp đặt hay thiên kiến cũng là biên giới. Da Màu không chấp nhận bất cứ biên giới nào, trừ biên giới cuối cùng giữa văn chương và phi văn chương (…) Tác phẩm xuất hiện trên tạp chí Da Màu không nhất thiết phản ánh quan điểm của toàn ban biên tập. Da Màu giữ độc lập về quan niệm thẩm mỹ nhưng không áp đặt ý kiến cá nhân lên người viết và người đọc, cũng không loại trừ những quan niệm thẩm mỹ khác mình.”
Hầu hết các sáng tác và biên khảo của tôi đều xuất hiện trên Da Màu.
Vuông chiếu Luân Hoán
“Vuông chiếu Luân Hoán” là một trang mạng ra đời khá sớm, đầu năm 1999, và hoạt động liên tục cho đến tháng 8/2024 thì ngừng cập nhật bài vở. Gần 25 năm. Tuy là một trang mạng cá nhân, nhưng lại được chủ nhân, nhà thơ Luân Hoán, biến thành một dạng như tạp chí, hay đúng hơn, một kho tài liệu văn chương nghệ thuật. Ngoài phần “Góc Luân Hoán”, nơi lưu trữ những tác phẩm của Luân Hoán (thơ, hồi ký, nhạc phổ thơ, ảnh kỷ niệm, những bài viết về Luân Hoán), còn có phần “Sưu Tập” và “Trang Bài Mới” rất phong phú, nơi ta tìm thấy rất nhiều tin tức văn học nghệ thuật, tài liệu văn học, tiểu sử và tác phẩm của nhiều tác giả từ nhà văn, nhà thơ, nhà nghiên cứu và phê bình văn học nghệ thuật cho đến các nhạc sĩ sáng tác, điêu khắc gia, họa sĩ, trong cũng như ngoài nước, từ thời tiền chiến đến Văn Học Miền Nam (1954–1975) và văn học hải ngoại. Ngoài ra, đây cũng là nơi giới thiệu các tác phẩm mới và phổ biến sáng tác của bạn văn, do bạn đọc gửi đến hay do Luân Hoán sưu tập, được sắp xếp theo từng năm.
Luân Hoán là một nhà thơ thuộc Văn Học Miền Nam, làm thơ rất sớm. Anh có thơ đăng trên nhiều tạp chí văn học trước 1975 như Tuổi Xanh, Gió Mới, Thời Nay, Mai, Bách Khoa, Văn Học, Ngàn Khơi, Kỷ Nguyên Mới, Ðối Diện, Bộ Binh, và sau 1975 ở hải ngoại như Văn, Văn Học, Hợp Lưu, Thế Kỷ 21, Nhân Văn, Thời Tập, Khởi Hành, Phố Văn, Chủ Ðề, Việt Báo, Hồn Quê …
Thụy Khuê
Thụy Khuê là một nhà báo, nhà biên khảo và phê bình văn học. Chị được biết tới nhiều, khi phụ trách chương trình “Văn học Nghệ thuật” của đài Phát thanh Quốc tế Pháp RFI (Radio Francais International) từ tháng 12/1990 cho đến tháng 3/2009. Tuy là cá nhân, nhưng trang Thụy Khuê không khác gì một tạp chí văn học nghệ thuật (và lịch sử), nơi chứa đựng rất nhiều tài liệu văn chương Việt Nam và nước ngoài, qua/dưới dạng những cuộc phỏng vấn, nghiên cứu, bình luận, phân tích, tạp bút, bút ký, hoặc để đọc (bài viết) hoặc để nghe (các chương trình phát thanh). Bên cạnh những bài biên khảo văn chương nghệ thuật và lịch sử, với hàng chục biên khảo và nghiên cứu về phong trào Tự Lực Văn Đoàn, trang Thụy Khuê còn giới thiệu tác giả và tác phẩm của hàng trăm văn nghệ sĩ (thi ca, âm nhạc, hội họa…) từ thời tiền chiến, phong trào Nhân văn giai phẩm, văn học miền Bắc, văn học miền Nam và văn học hải ngoại. Rất nhiều tác giả và tác phẩm được Thụy Khuê giới thiệu, phân tích một cách khá cặn kẽ, từ Hồ Biểu Chánh, Dương Nghiễm Mậu, Bình Nguyên Lộc, Mai Thảo, Nguyên Sa…cho đến Trần Dần, Lê Đạt, Hoàng Cầm, Đặng Đình Hưng, Lê Bá Đãng, Lê Phổ, Lê Thị Lựu, rồi Mai Ninh, Nguyễn Ngọc Tư, Tru Sa, Nguyễn Bình Phương, Tuý Hồng, Văn Cao, Đỗ Hoàng Diệu…Ngoài ra, còn có bút ký Thụy Khuê: “Quê hương ngày trở lại”, ghi lại cảm giác và cảm nghĩ của một người rời xa xứ sở từ năm 1962, quay trở về thăm viếng cả thảy năm lần, một, trước 1975 (1974) và bốn, sau 1975 (1984, 1993, 1997 và 2017).
Trần Doãn Nho–Thụy Khuê–Trần Thiện Đạo–Trần Vũ (Paris, Pháp)
Ngu Yên
https://independent.academia.edu/TienNguyen228
Ngu Yên không có trang mạng riêng. Tất cả bài vở của anh được đưa vào Academia.edu, một nền tảng trực tuyến, do Richard Price sáng lập vào năm 2008, nơi các nhà nghiên cứu, giảng viên và sinh viên có thể đăng tải, theo dõi, trao đổi và chia sẻ các công trình khoa học, cũng như các bài nghiên cứu học thuật.
Ngu Yên là một trong những cây bút đam mê văn chương, làm việc liên tục, bền bỉ với một khả năng hết sức đa dạng, bao trùm nhiều lãnh vực khác nhau. Anh sáng tác (thơ, văn, nhạc), dịch thuật tài liệu, viết biên khảo (văn học nghệ thuật, triết lý, âm nhạc, nhiếp ảnh, kịch nghệ), thực hiện “Tạp Chí Đọc Và Viết, Tam Cá Nguyệt”, một tạp chí văn chương định kỳ. Ngoài một số phát hành bằng sách in, tất cả các tác phẩm của anh đều được công bố trên Academia.edu.
Tổng cộng, theo cập nhật mới nhất do anh cung cấp vào tháng 12/2025, anh có “tất cả 330 tác phẩm đủ loại gồm: 70 tiểu luận, 48 Văn chương thế giới, 87 sáng tác thơ, truyện, luận, 11 Kịch nghệ, 30 Nghiên cứu dịch thuật, 26 tạp chí, 5 Tác Phẩm và Tác Giả, 52 cuốn sách.” Không chỉ chừng đó. Kể từ đó đến nay (tháng 4/2026), độc giả (trong đó có tôi) vẫn đều đều nhận được các bài viết mới đủ loại của anh chuyển qua điện thư, với một số lượng đáng kinh ngạc. Thành thật mà nói, nhiều quá, đọc không ngạ!
Để có khái niệm về công trình viết lách của anh, xin nêu một số tác phẩm tiêu biểu về lãnh vực biên khảo và dịch thuật mà anh đã thực hiện:
Biên khảo văn chương (12 bài): “Sáng tạo và nguyên bản”, “Những khái niệm định danh thời đương đại”, “Metamodermism: Chủ nghĩa kết hợp hiện đại”, “Phong thái truyền đạt văn chương hậu hiện đại”, “Chủ nghĩa mô phỏng hiện thực”, “Truyện ngắn ý thức và cảm nhận”, “Sáng tác phản xạ”, “Tính truyện trong thơ, “Tìm hiểu bản sắc thơ”, “Kinh nghiệm và phẩm chất ngôn ngữ thơ”, “Học thuyết hậu hiện đại”, “Thơ tái tạo. Giải thuyết và thực hành”.
Biên khảo về vấn đề dịch thuật (9 bài): “Ý về dịch nghĩ về thuật”, “Nghiên cứu quá trình dịch thuật”, “Dịch thuật và thế kỷ 21”, “Dịch văn xuôi”, “Dịch thuật và giải cấu trúc”, “Dịch thuật và phẩm chất”, “Dịch thuật: sự phát triển lý thuyết”, “Dịch thuật và ký hiệu học”, “Dịch thuật: những lý thuyết đương đại”.
Biên khảo kịch nghệ (4 bài): “Sân khấu thế kỷ 21”, “Kịch đương đại: định nghĩa và khuynh hướng”, “Kịch đương đại nhà hát tân thời” (3 kỳ), “Sự thành hình và phát triển của kịch hiện đại”.
Dịch thuật văn chương (8 bài): “Văn chương là gì?” (Terry Eagleton), “Phê bình phân tâm học” (Lois Tyson), “Đêm trung thực và đức hạnh” (Trường ca của Louis Gluck), “Tuyển tập thơ thế giới”, “Tuyển tập truyện ngắn thế giới”, “Bảy đứa trẻ Do Thái. Vở kịch cho Gaza”, “Cô đơn cánh chim biển” (thơ Peter McDonald), “Tuyển tập truyện ngắn thế giới” (5 tập).
Giới thiệu (3 bài): “Giới thiệu sơ lược văn chương Châu Mỹ La tinh”, “Gabriel Garcis Marquez. Hóa Ảo hiện thực” (Magic Realism), “Cao Đông Khánh, niềm khát vọng và nỗi mơ hồ”.
Sách phát hành: “Lý thuyết văn học tây phương và thực hành phê bình” (Bốn cuốn, cuốn 1: 618 trang; cuốn 2: 799 trang, cuốn 3: 740 trang), “Thực hành các lý thuyết sáng tác” (hai cuốn), “Thực hành các lý thuyết sáng tác truyện ngắn và tiểu thuyết” (1370 trang).
Sách bỏ túi (9 bài): “Chủ nghĩa văn học thế kỷ 21”, “Từ quốc tế đến công lý toàn cầu” (dịch Chris Brown), “Truyện hậu hiện đại: lý thuyết và thực hành”, “Martin Heidegger: Góp nhặt, dịch và giới thiệu”, “Chủ nghĩa hậu cấu trúc” (dịch Terry Eagleton), “Chủ nghĩa hiện sinh là chủ nghĩa nhân bản” (dịch Jean–Paul Sartre), “Thượng đế đã chết” (dịch Martin Heidegger ), “Khái niệm và lý thuyết chính trị” (dịch Andrew Heywood), “Chủ nghĩa dân tộc” (dịch David Miller).
Mới chỉ là một số thôi, và còn nhiều nữa…
Quả là một khối kiến thức phong phú, đa dạng và mới mẻ! Tất cả những tài liệu này đều có thể tìm thấy ở:
https://independent.academia.edu/TienNguyen228
Nguyễn Trọng Khôi–Trần Doãn Nho–Ngu Yên–Đinh Yên Thảo–Nguyễn Xuân Thiệp–
Thận Nhiên (Dallas, Texas)
Chỉ đọc lướt qua số lượng những bài viết được liệt kê trên, ta sẽ thấy khả năng làm việc liên tục cũng như tấm lòng của Ngu Yên đối với văn học. Những tài liệu về đủ các trào lưu và khuynh hướng văn học nghệ thuật phương Tây hiện đại mà anh cập nhật, tôi tin, sẽ giúp những người nghiên cứu văn chương cũng như các nhà văn, nhà thơ – nhất là những người chưa rành ngoại ngữ – tiết kiệm được rất nhiều thời gian trong việc biên soạn, sáng tác và nhất là “làm mới” văn chương Việt, một trong những kỳ vọng lớn lao của anh.
Lê Thị Huệ đặt cho Ngu Yên một biệt danh, nghe khá ngộ nghĩnh: “người tạo tiếng động”.
Riêng tôi, tôi thích gọi Ngu Yên là “người say chữ”.
Và nhiều trang mạng khác:
T. Vấn và Bạn Hữu, âm nhạc và văn chương: https://t–van.net/
Trần Thị Nguyệt Mai: https://tranthinguyetmai.wordpress.com/
Phố Văn: https://phovanblog.blogspot.com/
Học Xá: http://www.hocxa.com/
Phạm Cao Hoàng: https://www.phamcaohoang.com/ (đình chỉ từ 12/2025)
Tạp Chí Văn Phong: https://vanphongtapchi.blogspot.com/
Đàn chim việt: https://www.danchimviet.info/
Sáng Tạo https://sangtao.org/2021/03/27/thong–bao–ngung–cap–nhat–bai–vo–sang–tao–vo–thoi–han–tu–27–3–2021/ (đình chỉ từ tháng 3/2021)
Trần Huy Bích – Trần Từ Mai:
https://tranhuybich.blogspot.com/p/tu–mai.html
vân vân…
Mỗi trang mạng có những điểm đặc sắc riêng của mình. Do bài viết đã quá dài, nên tôi tiếc là không thể giới thiệu hết những trang vừa liệt kê này. Xin thành thật cáo lỗi cùng quý tạp chí.
7. Văn học hải ngoại nhìn từ trong nước
Cũng như Văn Học Miền Nam, trong thời gian đầu, Văn Học Hải Ngoại không được cả nhà cầm quyền lẫn văn giới trong nước tiếp nhận. Thái độ này được Đỗ Minh Tuấn diễn tả như sau:
“Khi đặt bút viết bài này, trong tôi xuất hiện một cảm giác hình như mình đang bước vào lãnh địa thuộc chủ quyền của người khác. Cái mặc cảm đó là hệ quả của những kinh nghiệm văn hoá trong quá trình tiếp xúc, nhận biết và tiếp cận văn học hải ngoại của cá nhân tôi với tư cách một người viết, một độc giả trong nước. Nhưng bản thân sự hiện diện của nó đã phát lộ tình trạng bị chiếm hữu, bị dán nhãn của văn học hải ngoại. Nó tạo ra những người sở hữu khác nhau: ghẻ lạnh, hắt hủi hoặc mơn trớn, a dua. Nó cũng tạo ra những vùng cấm trong nhận thức và tiếp xúc. Hệ quả của tất cả những cái đó là, nó đã từng trở thành ốc đảo xa vời, nó tạo ra cái cảm giác ngoại đạo cho nhiều người trong nước, kể cả những người muốn quan tâm đến nó.” (Hà Nội, 7.5.1998) [1]
Hoàng Hưng–Nguyễn Huệ Chi–Nguyễn Trọng Khôi–Chân Phương–Trần Doãn Nho (Boston, Hoa Kỳ)
Mãi cho đến năm 1994.
Người đầu tiên đề cập đến văn học hải ngoại là nhà nghiên cứu văn học Nguyễn Huệ Chi. Từ đó trở đi, số người quan tâm đến văn học hải ngoại một ngày mỗi nhiều. Dù vẫn còn có phần thiên kiến, nhưng nói chung, thái độ nghiên cứu và cái nhìn về văn học hải ngoại của giới cầm bút trong nước càng ngày càng khách quan và thực tế hơn. (Xin lưu ý: con số nằm trong ngoặc đơn sau tên tác giả trong các trích dẫn sau là để chỉ năm bài báo xuất hiện)
– Nguyễn Huệ Chi (1994): “Có một dòng văn học Việt Nam hải ngoại hay không? Câu hỏi đó đối với khá nhiều người cầm bút trong nước hôm nay chắc đã không thành một điều trăn trở nữa. Vì lẽ, dù sách báo của người xa xứ gửi về còn rất…thưa thớt, trong chúng ta, mấy ai lại không được một đôi lần ghé mắt vào một số báo Hợp Lưu, Trăm Con, Văn, Văn Học, Văn Uyển, Làng Văn, Đoàn Kết, Diễn Đàn, Thế Kỷ 21…ở đâu đó, dù chỉ một đôi lần. Và có thể nào nhìn ghé mà lầm được: trước mắt ta hiện diện trở lại bao nhiêu tên tuổi quen thuộc từ cái thuở tấp nập báo chí Sài Gòn cách đây 18 năm: Võ Phiến, Mai Thảo, Nhật Tiến, Nguyên Sa, Túy Hồng, Nhã Ca, Trùng Dương, Dương Kiền, Thế Uyên, Duy Lam, Tạ Tỵ, Duyên Anh, Du Tử Lê, Lê Tất Điều, Luân Hoán, Nguyễn Tất Nhiên, Nguyễn Mộng Giác…Bên cạnh đó là vô số tên tuổi mới mẻ ta chưa từng một lần hay nhiều lắm cũng chỉ mới hơn một lần quen biết: Võ Đình, Nguyễn Ngọc Ngạn, Trần Vũ, Trần Long Hồ, Trân Sa, Khánh Trường, Phan Tấn Hải, Khế Iêm, Nguyễn Thị Hoàng Bắc, Trần Diệu Hằng, Lê Thị Huệ, Thường Quán, Phan Thị Trọng Tuyến, Trịnh Y Thư, Nguyễn Thị Ngọc Nhung, Ngọc Khôi, Bùi Bích Hà, Vũ Quỳnh N.H., Đỗ Kh., Ngu Yên, Nguyễn Mạnh Trinh, Hoàng Mai Đạt, Nguyễn Ý Thuần, Nguyễn Thị Thanh Bình…(…) Không nghi ngờ gì nữa, bên ngoài dòng chảy của nền văn học trong nước, trong 18 năm qua vẫn có những dòng chảy khác của văn chương người Việt, phát nguyên từ nhiều chân trời khác nhau. Chúng lặng lẽ và tiềm tàng, từ tốn hay mạnh mẽ, chảy xuyên qua rất nhiều xứ sở, tích lũy trong đó tiếng gào réo của thác của ghềnh, cũng như cả những tiềm năng thanh lọc rất dữ.” [2]
– Hoàng Ngọc Hiến (2001): “Đánh giá một tác phẩm văn học hải ngoại, câu hỏi đầu tiên là giá trị văn học của nó (nó có đáng là một tác phẩm văn học không?), không mấy ai đặt câu hỏi về tính chất hải ngoại của nó, hoặc đó chỉ là câu hỏi phụ. ‘Văn học Việt Nam hải ngoại trước hết là văn học’ có nghĩa là như vậy.” [3]
– Vương Trí Nhàn (2003): “Những tìm tòi trong việc mở rộng ngôn ngữ văn chương của các bạn viết đang sống nơi xa, dù thành công, dù thất bại, theo tôi, đều đáng quý. Mặt khác, theo đánh giá của tôi, khi sống ở nước ngoài, cảm hứng về tiếng Việt của một số tác giả càng nhạy bén và chính xác hơn khi họ ở trong nước. Tôi cảm thấy mình có thêm những người đồng hành gần gũi trong những quan sát và tìm tòi ngôn ngữ mỗi khi cầm bút.” [4]
– Lý Hoài Thu – Nguyễn Thu Trang (2016): “Phản ánh cuộc sống, thân phận của người Việt xa xứ là một hướng khám phá mang chiều sâu nhân bản. Đọng lại trên từng trang viết, vượt lên mọi biến cố dồn dập, vượt lên cả những bi kịch của sự vỡ mộng, khổ đau, qua những mảnh đời và những năm tháng nhọc nhằn, chúng ta cảm thấu được một tinh thần Việt trong hành trình sống, đối mặt và nếm trải những thăng trầm của đời tha hương. Đó là “kênh giao tiếp” để chúng ta hiểu sâu sắc hơn đời sống cũng như thân phận của người Việt xa xứ – một phần máu thịt của cộng đồng dân tộc. Văn học hải ngoại nói chung và tiểu thuyết với đề tài tha hương nói riêng đang ngày một xác lập vị trí không thể thiếu trong bản đồ văn chương Việt Nam đương đại.” [5]
– Thư Vũ (2021): “Văn học di dân ngày nay có thể vẫn còn gây nhiều tranh cãi liên quan đến tính địa–chính trị hay quan điểm cá nhân, nhưng không thể phủ nhận, trong những trang viết của bộ phận văn học này, bản sắc dân tộc vẫn giữ vai trò cốt yếu, đã và đang là một tiếng nói cần được lắng nghe nhiều hơn trong không gian nghiên cứu phê bình đương đại. Đó không chỉ là câu chuyện về tác phẩm nghệ thuật, mà còn là về cuộc đời, về số phận con người.” [6]
– Đỗ Thị Phương Lan (2024): “Những trang truyện ngắn đầu tiên ở hải ngoại gần như đều tập trung phản ánh và khắc họa nỗi đau rời bỏ quê hương của những người Việt di tản. Dù ra đi vì lý do gì, nỗi mất mát đớn đau nhất là lạc mất quê hương.” (…) Bi kịch thuyền nhân với nhiều trang truyện ngắn chân thực và xúc động về những chấn thương vượt biển đã là một trong những nội dung viết đặc thù của nhà văn di dân trong những năm đầu của văn học hải ngoại. Viết về sự kiện thuyền nhân đã khiến cho văn học hải ngoại lớn mạnh thêm về lực lượng cầm bút, sâu sắc thêm về tính nhân văn và đậm tính thời sự về nội dung phản ánh.” (…) Từ những sự ngẫu nhiên nhưng mang tính quy luật và lịch sử của những dòng chảy xã hội cuộc đời, truyện ngắn Việt Nam hải ngoại nói riêng và tự sự trong nước những năm cuối của thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI có những gặp gỡ bất ngờ và mang tính thời đại ở những cách nhìn nhận và thể hiện về nỗi đau của con người trong văn chương. Từ “chỗ đứng và trạng thái tinh thần” rất riêng của nhà văn di dân, văn học Việt Nam hải ngoại đã góp vào văn học Việt một mạch chảy rất khác biệt của một kiểu “tự sự hiện chứng”, gióng lên tiếng nói nhân bản của những trạng thái tinh thần bị chấn thương từ những bến bờ lạ…” [7]
Trong lúc đó, một tác giả có bút danh Tao Đàn (2019) nhìn văn học hải ngoại với đôi mắt đậm mùi “tuyên giáo”:
“Nhìn chung, thuật ngữ “văn học hải ngoại” vừa không đủ sức bao gộp cả một cộng đồng văn học Việt Nam rộng lớn ở nước ngoài, lại vừa gắn với những đối tượng, thời điểm, quan điểm chính trị cụ thể. Thuật ngữ ấy chủ yếu nhằm chỉ những thế hệ nhà văn có gốc gác hoặc dính dáng đến chế độ miền Nam trước 1975, ra đi trên những tàu viễn dương, vượt biên hay dạng H.O. Đích đến và không gian sống/viết mới của họ cũng chỉ gói gọn ở (Tây) Âu và (Bắc) Mỹ. Trên thực tế, cộng đồng văn học Việt Nam ở nước ngoài rộng lớn, phong phú, phức tạp hơn rất nhiều. (…) Nhìn nhận một cách công tâm, sự nghi kỵ hay rào cản đặt ra đối với “văn học hải ngoại” thời kì đầu cũng không hẳn xuất phát từ tâm lý bài ngoại, nặng nề phân biệt chính trị ở trong nước. Trong giai đoạn từ sau 1975 đến 1980, văn học hải ngoại chủ yếu được viết với tâm thức lưu vong, hằn học dân tộc, bởi chủ thể viết là những quan chức, nhà văn miền Nam đang ân hưởng bổng lộc từ chế độ cũ. Sự chống phá, bôi nhọ cách mạng, xuyên tạc đường lối xây dựng đất nước là hiện trạng đã xảy ra, chúng ta không thể phủ nhận dẫu từ quan điểm nào chăng nữa. Tuy vậy từ sau 1986 đến nay, tâm thế của lực lượng sáng tác mới ở hải ngoại đã khác trước rất nhiều, điều này cũng đòi hỏi những chính sách, quan niệm văn học khác về khu vực này từ phía các cấp quản lí và các nhà nghiên cứu văn học. Nhờ đường lối hội nhập cởi mở, hòa hợp dân tộc, Đảng và Nhà Nước đã dần thu phục nhân tâm, hóa giải đối địch cũ, lấy đại đoàn kết dân tộc làm trọng, đã làm cho hai khu vực văn học trong và ngoài nước xích lại gần nhau hơn bao giờ hết.” (…) Văn học Việt Nam ở nước ngoài như vậy, là một bộ phận hữu cơ không thể tách rời của văn học dân tộc Việt Nam.” [8]
Một tác giả khác, Vũ Thành Sơn (2018), thì hơi…mập mờ chữ nghĩa:
“Cũng như có người đã chỉ ra một cách chí lý Việt kiều là khái niệm chỉ một đối tượng không có thực, khi trong thực tế chỉ có người Mỹ, người Úc, người Pháp,… gốc Việt chứ không hề tồn tại cái gọi là Việt kiều. Việt kiều là một khái niệm đã bị chính trị hóa. Văn học hải ngoại cũng không khác: chỉ có tác giả hải ngoại, chứ không hề có văn học hải ngoại. Duy trì danh xưng văn học hải ngoại là một hành động có màu sắc chính trị, để rồi sau đó tiến hành cái gọi là hòa hợp, hòa giải văn học, lại là một hành động chính trị khác. Hãy trả lại cho văn học những gì thuộc về văn học.” [9]
Tương đối khách quan nhất là bài viết của một học giả người Nga, Anatoly Sokolov (2010), nhà nghiên cứu về văn học Việt Nam thuộc Viện Hàn Lâm Khoa Học Nga. Đây là một trích đoạn:
“Hơn nữa, chúng tôi nhận thấy rằng sách báo của nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa thì có thể dễ dàng tìm thấy trong các thư viện và hiệu sách (chủ yếu của Việt kiều) ở Mỹ, còn tác phẩm của các tác giả người Việt ở hải ngoại thì rất hãn hữu được xuất bản ở Việt Nam, và nguyên nhân chủ yếu của tình trạng này trước hết là nguyên nhân ý thức hệ.” (…) “Nhà thơ Ba Lan nổi tiếng Milos Forman, giải thưởng Nobel, nhiều năm sống lưu vong ở Mỹ và cuối đời đã trở về Tổ quốc, từng nói về số phận của nhà văn lưu vong: “Chúng ta không nghe thấy tiếng nói của nhà văn lưu vong, đó chỉ là một động tác mà thôi”, tức là nhà văn đó và tác phẩm của anh ta trên thực tiễn không đến được với độc giả của mình ở trong nước. Song vào những năm gần đây tình hình trên thế giới đã thay đổi: đã xuất hiện Internet vốn vượt qua những khoảng cách khổng lồ và những biên giới quốc gia. Hiện nay tồn tại không ít kiểu xuất bản Internet, qua đó văn học Việt Nam ở hải ngoại đã tới được Việt Nam. Tất nhiên nó không thể thay thế được kiểu xuất bản in ấn; ngoài ra, ở Việt Nam còn có sự kiểm duyệt khắt khe và sự giám sát của nhà nước đối với Internet vốn có thể cung cấp thông tin và sự tiếp cận với các tác phẩm văn học.” [10]
Nhận xét này từ 2010, có lẽ vẫn còn đúng cho đến bây giờ.
8. Vài nét riêng của văn học hải ngoại
Do hoàn cảnh phát sinh, văn học hải ngoại khác với văn học trong nước, khác với văn học miền Nam trước đây. Ngoài những yếu tố đã đề cập đây đó ở các phần trước, tôi xin nêu lên, hay đúng hơn, nhấn mạnh một vài nét riêng khác của văn học hải ngoại. Ngồ ngộ, là lạ, vui vui…
Tự phát
Họ thoát ra khỏi đất nước, vội vã, tất tả, hoảng loạn, trôi dạt vô hướng, để bắt đầu lại từ con số “không”. Trong tình huống đó, im lặng chịu đựng và chấp nhận hoàn cảnh là điều duy nhất; thảng hoặc nếu có ai cầm bút viết lên một cái gì đó, thì chỉ là tiếng kêu than tuyệt vọng cá nhân, mỗi người một kiểu, một cách. Đó là những phản ứng nhân sinh tự nhiên, tự phát từ thân phận lạc loài của những người, thoắt cái, bỗng nhiên trở thành con sâu cái kiến lạc loài vô xứ. Cho đến một lúc, khi những tiếng kêu đơn lẻ, rời rạc đó kéo dài, gắn kết với nhau, nương tựa nhau, biến thành một tiếng kêu tập thể. Ngôn ngữ, vốn chỉ sử dụng để chỉ sự vật như chính nó, đột nhiên phơi mở ra, mang theo với nó ký ức, xúc cảm, tưởng tượng…trở thành một nỗi đau chung. Đó là lúc văn chương bắt đầu. Thứ sản phẩm ngôn ngữ mới mẻ này, rõ là, không xuất phát từ khoảng không. Nó ươm mầm từ trong những cảm nghiệm riêng tư, khát khao được chia xẻ với người đồng cảnh. Văn chương, như thế, không hiện ra ngay như một toàn thể hoàn chỉnh. Mà sự gặp gỡ của những riêng lẻ, lạc lõng này với những riêng lẻ, lạc lõng khác, tự cộng hưởng, gắn kết thành một thực thể. Chẳng khác gì những câu hò câu hát vu vơ trên ruộng đồng hợp thành văn chương bình dân, những tiếng kêu tự phát trong sự đụng độ tàn nhẫn với cuộc sống kết hợp lại thành văn học hải ngoại.
Chẳng thế mà, Lê Thị Huệ nói thẳng, không một chút ấp a ấp úng:
“Thế giới chữ nghĩa nghệ thuật Hải Ngoại là một thứ sinh hoạt vô tổ chức. Không có chính phủ nào ra lệnh phải sáng tác theo chỉ đạo nào. Không có nền chính tả học đường nào kiểm soát những điều chúng tôi viết. Ai muốn viết gì thì viết. Ai muốn xuất bản gì thì xuất bản. Ai muốn phê bình gì thì phê bình. Một thế giới cực kỳ vô tổ chức vô địa lý vô quốc gia. Thế nhưng cũng từ đó chúng tôi tự kỷ luật (self–discipline).” [11]
Một phát biểu chắc nịch, lạ tai, tưởng như “quá đáng”, nhưng hoàn toàn chính xác.
Tự phát, cũng có nghĩa là tự do.
Các sáng tác, dưới dạng này hay dạng khác, bình dân hay cao cấp, có tay nghề hay chỉ mới tập tễnh, đều là sản phẩm của “bắt đắc kỳ bình, tắc minh” (Hàn Dũ) – những tiếng kêu bất bình. [12]
Nói như Hoàng Hưng, trước sau, văn học hải ngoại là nền văn học “không có ai lãnh đạo và không chịu sự lãnh đạo của ai.” [13]
Tự túc
Hải ngoại, nơi tiếng Việt chỉ như một ngôn ngữ ký sinh, không ai có thể kiếm sống bằng nghề viết lách. Một là, số lượng độc giả văn chương quá giới hạn, đã ít ỏi lại phân tán khắp nơi trên thế giới; hai là, ai cũng có thể kiếm sống một cách dễ dàng bằng cách đi làm ở các hãng xưởng; ba là, nhu cầu hội nhập lớn hơn nhu cầu bảo tồn. Nếu còn ở lại Việt Nam, nhiều nhà văn (nổi tiếng ở hải ngoại hiện nay) rất có thể chẳng bao giờ nghĩ đến chuyện viết lách. Đơn giản là vì họ sống trong môi trường của mình, chan hòa tiếng mẹ đẻ, chẳng cần phải sử dụng nó để trải lòng. Ra hải ngoại, tiếng Việt trở thành ngôn ngữ bên lề, có nguy cơ biến mất, và chính điều đó, lạ thay, lại kích thích một nhu cầu bức thiết: tìm lại quê hương qua hơi hám chữ nghĩa. Viết là sống lại một cuộc sống thân quen đã bị đánh cắp. Viết cũng là một cách đối phó với những xa lạ bị áp đặt. Phổ biến chúng với đồng hương là một cách sưởi ấm nhau bằng ký ức, tiếng nói, hơi văn và vần điệu.
Mô tả hình ảnh một người bạn văn mê viết, Nguyễn Hưng Quốc kể:
“Bạn tôi, Hoàng Ngọc–Tuấn…. Anh dạy nhạc. Anh viết trong các giờ giải lao. Nhiều lúc, lúc đám học trò ngồi tập đánh đàn, anh lôi laptop ra viết hay dịch cái gì đó. Thỉnh thoảng dừng lại, dặn dò học trò một lát, rồi lại viết hay dịch tiếp. Vậy mà anh cũng viết và dịch được cả khối truyện và thơ. Tối, sau khi vợ con đi ngủ hết, anh lại ngồi vào bàn làm việc đến 2,3 giờ sáng. Nếu không viết thì dịch; nếu không dịch thì đọc và chọn bài để đưa lên tờ báo mạng Tiền Vệ. Anh em, bạn bè của anh không ai ngạc nhiên khi nhận được email anh gửi lúc 2, 3 giờ sáng cả. Có khi còn muộn hơn nữa. Tối nào cũng thế. Cũng thức. Cũng, trong khuya khoắt, một mình lui cui với chữ nghĩa. Anh gọi đó là hobby. Nhưng nhiều người thì gọi đó là một cuộc hành xác.” [14]
Các sáng tác, ở miền Nam trước đây, khi viết xong, muốn được đăng báo hay phát hành sách đòi hỏi một số điều kiện: thông qua sự xét duyệt của báo hay của nhà xuất bản, rồi qua kiểm duyệt của nhà nước và cuối cùng, qua sức mua của thị trường. Sáng tác ở trong nước hiện nay có lẽ cũng như thế.
Ở hải ngoại, tình hình hoàn toàn khác. Chỉ trừ một số tạp chí (giấy hoặc mạng) được ban biên tập biên soạn (edit) cẩn thận (như Da Màu), còn thì hầu hết, tác giả nào cũng phải tự mình “lo liệu” từ đầu đến cuối. Tự viết, tự phát hành trên trang mạng (hay facebook) của mình hay tự bỏ tiền ra in ấn, rồi gửi đi…biếu bạn bè và độc giả, đôi khi chẳng phải thông qua việc biên soạn của bất cứ ai và qua thủ tục kiểm duyệt (của cơ quan hữu trách). Tóm lại, sản phẩm văn chương đi trực tiếp từ tác giả đến độc giả, không qua một trung gian nào, kể cả thị trường. Đối với tác giả, tác phẩm tự nó, đã là một lợi nhuận; sự hiện diện của nó, đã là một đền đáp. [15]
Có điều, ưu điểm lại cũng là nhược điểm: sự xuất hiện vô tội vạ của những “tác phẩm” làng nhàng, viết lấy được, viết cho có. Hậu quả là: thị trường chữ nghĩa bị lạm phát với sự xuất hiện của vô số thơ, văn, biên khảo, hồi ký, bút ký…dễ dãi, thiếu hẳn những tiêu chuẩn văn chương tối thiểu. Nói như Võ Phiến, “sau 1975, họ vùng lên múa bút, chẳng bao lâu nổi đình nổi đám ngay (…) sau 1975, anh hoa phát tiết tưng bừng, họ hóa ra nhà văn, nhà thơ…” [16]
Dẫu vậy, thà được tự do…múa bút, còn hơn là bị những cấm kỵ khắc khe dưới chế độ toàn trị. Miệng không bị bịt, nên tay viết, tay gõ không run. Nhất là đối với những tác phẩm nặng về chính kiến. Tất nhiên, không tránh khỏi vài trường hợp ngoại lệ. Về điểm này, dẫn chứng sự kiện tạp chí Hợp Lưu (ở Hoa Kỳ) hay tạp chí Trăm Con (vụ động đất Montréal tháng 7/1992) bị tẩy chay, nhà nghiên cứu Nguyễn Huệ Chi nhận xét: “Ai cũng biết rằng ở những xứ sở vốn đã quen với truyền thống dân chủ, tự do thì sự cấm kỵ có ít hơn, nhưng phải đâu như thế là người cầm bút ở đây muốn viết gì thì viết. Sự cấm kỵ trên lãnh vực tinh thần nhiều khi lại bắt nguồn từ những điều có vẻ như vô hình, không dễ mà nhìn thấy: các thiên kiến cố chấp đã thành thói quen, tâm lý mặc cảm của một nhóm cộng đồng nào đấy chưa gỡ bỏ đi được, hoặc cách ứng xử theo nếp bảo thủ cổ truyền giữa người cùng giới với nhau…” [17]
Nhận xét hoàn toàn chí lý. Chỉ có một điểm khác: “phạm húy” ở hải ngoại chỉ đưa đến tẩy chay là biện pháp duy nhất, chứ không đẩy tác giả phải chịu oan khuất hay tù đày hàng nhiều năm trời như những cây bút của Nhân Văn Giải Phẩm, của Văn Học Miền Nam sau 1975 hay của xu hướng bất đồng chính kiến hiện nay trong nước.
Tự biên tự diễn
“Văn học hải ngoại”, một nhóm chữ mới thoạt nghe, có vẻ như để chỉ một hệ thống, một hoạt động có tổ chức, có tài trợ, có đường lối chỉ đạo. Thực ra, nó hoàn toàn là kết hợp ngẫu nhiên của những nỗ lực cá nhân rời rạc, lẻ tẻ và thậm chí, tùy hứng. Không hội nhà văn, không trường viết văn, không ngân sách tài trợ, không nhuận bút, đã thế, không hề được khuyến khích hay ca ngợi, mà còn bị chỉ trích hay tẩy chay, khi lỡ phạm sai lầm. Làm văn chương, lắm khi, là nghiệp chướng!
Văn chương hải ngoại không những “rẻ như” mà còn “rẻ hơn” cả bèo (của Tản Đà). Nói cho đúng, vô giá. Còn nhớ, khi mới ra hải ngoại, lần đầu tiên tôi có một truyện ngắn đăng trên tạp chí Văn Học. Chờ lâu không thấy động tịnh gì, tôi gửi thư cho chủ bút Nguyễn Mộng Giác, nhắc xa nhắc gần về chuyện nhuận bút. Anh gửi ngay cho tôi một cái “Money Order” (Phiếu chuyển tiền) [18] 30 dollars, nói là để tôi mua tem dùng khi gửi bài đến tòa soạn. Đã từng nhiều lần nhận được tiền nhuận bút thời trước 1975, nên vui thì vui, nhưng vẫn cảm thấy hụt hẫng vì cách trả tiền không mấy bình thường này. Sao lại tiền mua tem mà không phải tiền “nhuận bút” (潤筆 = tiền trả cho ngòi bút)! Mãi cho đến khi gặp nhau, tôi mới hay, người chủ bút đã gói ghém trong thư một nhắn nhủ tế nhị: văn chương hải ngoại không – thậm chỉ chẳng liên quan gì đến – nhuận bút. Làm (một tạp chí) văn chương không phải là kinh doanh, mà là thực hiện một nghĩa vụ: bỏ công sức và tiền túi ra để nuôi nấng nó.
Nhóm thực hiện “số–hóa” tạp chí Văn Học (hải ngoại) viết trong “Lời ngỏ”:
“Trong bài “Lời Giã Biệt” tạp chí “Văn Học Nghệ Thuật” số 13, Võ Phiến, người chủ trương, đã cho biết rằng báo đình bản “không phải vì sự sống của tờ báo mà sự sống của người làm báo.” Thật vậy, độc giả không thiếu, văn hữu gửi khá nhiều bài về tòa soạn. Nhưng mà chính thì giờ dành cho báo thì người làm báo lại không có. Dạo ấy, chưa có máy vi tính, bài vở bạn văn gửi đến phải được đánh máy lại, phải được bỏ dấu, xong còn đem đi in, chứ không phải “bấm một cái là xong” như ngày nay. Chưa nói chi đến việc phát hành bằng cách đem báo đi “bỏ” tại các hiệu tạp hóa ở những khu đông người Việt, không khác chi bỏ mối chả giò, gỏi cuốn vậy! Báo chí chưa có được một chỗ đứng, một kệ riêng. Chúng ngồi chung với bánh phở khô, với mì gói! Trong khi đó thì người làm báo ngày ngày vẫn phải đi làm nuôi thân, nuôi gia đình. Báo mới ra, tiền đâu mà thuê người này làm việc kia, mướn kẻ này lo việc nọ.” [19]
Trừ một số tạp chí có tính cách tổng hợp văn hóa, chính trị, kinh tế, văn học và nhiều mục linh tinh khác hấp dẫn độc giả, do đó, thường đỡ nhọc nhằn cả về tài chánh cũng như bài vở, mấy tạp chí “thuần túy” văn học như Văn Học, Hợp Lưu, Văn thuộc loại “giật gấu vá vai”, ăn chưa xong bữa hôm đã phải lo bữa mai. “Nguồn tài trợ”, hay nói cho đúng, tiền làm báo là tiền cắt xén từ đồng lương công nhân ba cọc ba đồng của người chủ trương, với sự hỗ trợ của chính những người cộng tác và chừng vài trăm độc giả mua báo dài hạn.
Đây là hình ảnh của Mai Thảo, chủ biên tạp chí “Văn”, qua vài nét phác họa của Ngô Thế Vinh:
“Khó có thể tưởng tượng cảnh sống đạm bạc của nhà văn Mai Thảo trên đất nước Mỹ. Chỉ là một căn phòng 209 rất nhỏ trên lầu 2 của một chung cư dành cho người cao niên ngay phía sau hẻm nhà hàng Song Long. Chỉ có một bàn viết, chiếc giường đơn với nơi đầu giường là một chân đèn chụp rạn nứt và dưới gậm giường mấy chai rượu mạnh; trên vách là mấy tấm hình Mai Thảo; đặc biệt là tấm ảnh phóng lớn có lẽ chụp trước 1975, Mai Thảo cao gầy ngồi trên bậc thềm nhà cùng với nhà thơ Vũ Hoàng Chương mảnh mai trong áo dài the, phía dưới là một kệ sách. (…) Căn phòng nhỏ hẹp ngày nóng đêm lạnh ấy là không gian sống và cũng là toà soạn báo Văn của Mai Thảo. Mỗi lần tới thăm anh, tôi vẫn để ý tới chiếc bàn viết lữ thứ của Mai Thảo kê sát khung cửa sổ thấp nhìn thoáng ra bên ngoài. Rồi tới kệ sách, không có nhiều sách Mai Thảo, chỉ có ít cuốn sách tiếng Pháp, mấy số báo Văn, đôi ba cuốn sách mới bạn văn gửi tặng anh.” [20]
Trần Vũ mô tả một cách sống động hoạt cảnh “chạy tiền” của Khánh Trường, chủ bút tạp chí “Hợp Lưu”:
“Ai đã làm báo hiểu rõ khó khăn kinh khủng nhất vẫn là khó khăn tài chánh. Bao nhiêu tờ báo Việt ngữ đã sập tiệm. (…) Sự sống sót của Hợp Lưu liên tục suốt 12 năm qua, đều đặn gởi đến tay bạn đọc bao nhiêu số chủ đề, bao nhiêu biên khảo, phỏng vấn và sáng tác thơ, văn, kịch chính là sự thành công riêng của Khánh Trường và sự sống sót tinh thần của chính cá nhân anh.
Ðể hiểu khó khăn tiền bạc của chủ biên Hợp Lưu túng thiếu nhường nào, tôi có một kỷ niệm đẹp về tình bạn giữa Mai Thảo và Khánh Trường. Mùa đông năm 96, tôi hay thích đến căn lầu xép trai phòng của Mai Thảo. (…) Buổi trưa sâu thẳm yên tĩnh trong con hẻm Song Long, tôi vừa bị Mai Thảo lừa cho uống cognac có ngâm cu con hải cẩu thối hoắc, thứ rượu thuốc Nguyễn Xuân Quang – tác giả Người Căm Thù Ruồi – tặng ông uống chống lạnh, thì Khánh Trường ập vào, giọng anh hối hả:
– Anh có tiền cho em mượn, Hợp Lưu in xong rồi mà em chưa có tiền lấy.
– Bao nhiêu? Nhiều thì không có, ít thì có thể.
Mai Thảo điềm nhiên lắc lắc ly rượu vàng lóng lánh. Màu vàng của buổi trưa loang đến cườm tay ông đọng lại thành vệt lỏng. Giá Khánh Trường có thể ngồi xuống uống rượu thưởng thức sự im lặng của trưa không có những phiền hà nợ nần của đời sống. Ðâu ai biết gồng Hợp Lưu thường đắng như con hải cẩu chết tiệt.
– Một ngàn đô, anh.
– Hà hà… tưởng bao nhiêu, một ngàn thì nhà băng lớn nhất nước Mỹ này cho vay.
Mai Thảo, người thầy tinh thần của Hợp Lưu, bạn nhậu của tôi với anh, lặng lẽ lục tìm ví đưa tiền cho Khánh Trường mang ra nhà in ông Ðào Văn Ngoạn lấy báo.
– Vẽ được mấy cái bìa sách em sẽ gởi trả anh.
– Không hứa, không hẹn gì cả, có tiền thì trả thế thôi!
(…)
Mấy ngày sau, rời quán Song Long sau điểm tâm với Hoàng Khởi Phong, Cao Xuân Huy, Du Tử Lê, tôi và người bạn làm báo văn học liên mạng trên internet Phạm Chi Lan đến chơi với Khánh Trường. Tôi với Phạm Chi Lan không giúp gì được anh trong công tác tòa soạn, nhưng vẫn thích ngồi quanh quẩn xem anh làm việc. Chúng tôi ngỡ ngàng nhìn 1500 cuốn Hợp Lưu chất đầy mặt đất.
– Sao anh chưa gởi bưu điện, trễ hạn rồi mà? Lan hỏi.
– Ờ hớ, để anh vẽ xong mấy cái bìa băng, bìa sách có tiền rồi gởi.
Khánh Trường thản nhiên, không có vẻ gì cấp bách, nhưng tôi biết, đã 6 tây là trễ một tuần. Và từ hôm vay tiền bác Thảo cũng gần cả tuần, có nghĩa anh chưa có tiền. Phạm Chi Lan với tôi đi lạc quyên các anh chị Lê Thứ, Lê Bi, Nguyễn Hương, nhà xuất bản Hồng Lĩnh, và Trương Vũ từ miền Ðông qua chơi, cuối cùng được vài trăm phụ với anh tiền cước phí bưu điện. Những ai còn thắc mắc nguồn tài trợ Hợp Lưu thì thực tế là như vậy. Và thực tế tài chánh này triền miên dằng dặc từ số đầu cho đến nay. Hai tháng một số báo qua thoăn thoắt, 66 số Hợp Lưu của 12 năm là 66 lần họa sĩ Khánh Trường xoay tiền chóng mặt.” [21]
Riêng tôi, gần cả chục năm cộng tác với tạp chí “Văn Học”, tôi chứng kiến khá đầy đủ cái cảnh làm việc đơn thân độc mã của chủ bút Nguyễn Mộng Giác. Ngoài việc chuyên chỉ đi “cày” ca hai tại một công ty điện thoại để nuôi sống gia đình, anh dành tất cả thì giờ còn lại cho “Văn Học”. Để cho báo được phát hành và đến tay người nhận một cách đều đặn, anh bao sân đủ thứ việc không có tên gọi: gửi email vòng vòng “xin” bài của các tác giả, đánh máy bài (của một số tác giả chưa/không biết sử dụng máy vi tính), tự dàn trang, mang đi thuê in; báo in ra, lại huy động vợ con (và bạn bè) đi chở báo, ngồi xúm nhau đóng gói, đi bưu điện gửi báo, rồi đi thu tiền bán báo ở một vài tiệm sách (chỉ đếm được trên đầu ngón tay)…Không bị con “ma” văn chương “ám”, không thể nào duy trì tờ “Văn Học” trong gần hai thập niên như thế.
Nguyễn Mộng Giác–Trần Doãn Nho (phỏng vấn), (Little Saigon)
Ngôi nhà Nguyễn Mộng Giác ở Quận Cam, cách khu thị tứ Phước Lộc Thọ chỉ năm bảy phút lái xe, là nơi đón tiếp nhiều bạn văn từ khắp nơi, kể cả một số thuộc giới viết lách ở trong nước, ghé thăm. Để trả lời cho một nhà văn Hà Nội muốn đi “tham quan” tòa soạn của tờ báo hải ngoại “Văn Học” (“nghe nói” được tư bản Mỹ tài trợ) bề thế đến mức nào, chủ bút Nguyễn Mộng Giác chỉ cái máy vi tính nằm ở góc nhà, xong chỉ vào người mình, rồi dắt khách ra nhà để xe, chỉ hàng ngàn cuốn “Văn Học” còn chất đống ở đó, bảo: “Thưa anh, tòa soạn báo Văn Học chỉ gồm có mấy thứ: nó và tôi và…kho chứa, báo cũ cứ chất lên mãi, chưa biết sẽ xử trí thế nào.”
Thực là, chạy tiền (làm) từng tờ báo…toát mồ hôi!
Làm tạp chí đã thế, mà làm xuất bản cũng chẳng khác gì.
Hải ngoại có “khá nhiều” nhà xuất bản. Nào là Lá Bối, nào là Tân Thư, nào là Việt Thường, nào là Thanh Văn, nào là Văn Học, Văn Nghệ, Tiếng Quê Hương, Diễn Đàn Thế Kỷ, Nhân Ảnh…và vô số tên nhà xuất bản khác (hoàn toàn xa lạ) in trên các cuốn sách. Chả là vì, nhà xuất bản cũng chính là…tác giả! Trừ một vài nhà xuất bản là…“nhà xuất bản” thực vì dựa vào một công ty hay một cơ sở báo chí tương đối bề thế, lâu năm như “Người Việt Books” (công ty Người Việt) hay ké vào công việc chính là một cơ sở in ấn như “Văn Mới” (Nguyễn Khoa Kha), còn hầu như tất cả những nhà xuất bản đều được điều hành bởi một người…yêu sách/yêu văn chương: nxb Tân Thư là Khánh Trường, nxb Văn Học là Nguyễn Mộng Giác, nxb Văn Nghệ là thầy Từ Mẫn (Nguyễn Thắng Tiết), nxb Diễn Đàn Thế Kỷ là Phạm Phú Minh, nxb Nhân Ảnh là Lê Hân, nxb Thanh Văn là Châu Văn Thọ, nxb Tiếng Quê Hương là Uyên Thao…Vân vân và vân vân.
(còn nữa)
Trần Doãn Nho
…………………
Chú thích:
[1] Đỗ Minh Tuấn, Văn học hải ngoại nhìn tư trong nước
[2] Nguyễn Huệ Chi, Vài cảm nhận văn học Việt Nam hải ngoại
Tạp chí Văn Học (Hà Nội), tháng 2-1994; in lại ở tạp chí Văn Học (Cali), số 99, tháng 7/1999.
[3] Hoàng Ngọc Hiến, https://hoingovanchuong.wordpress.com/2012/05/17/hoang-ngoc-hien-doc-van-hoc-viet-nam-hai-ngoai-so-thao/
[4] Vương Trí Nhàn trả lời phỏng vấn, Tòa Đại Sứ CHXHCNVN ở Hoa Kỳ, Các nhà phê bình bàn về văn học hải ngoại
https://vietnamembassy-usa.org/node/2822
[5] Lý Hoài Thu – Nguyễn Thu Trang, Tiểu thuyết hải ngoại và vấn đề thân phận tha hương
[6] Thư Vũ, Văn học của người Việt ở hải ngoại: Tình thế của văn chương di dân
http://vannghequandoi.com.vn/binh-luan-van-nghe/van-hoc-cua-nguoi-viet-o-hai-ngoai-tinh-the-cua-van-chuong-di-dan_12823.html
[7] Đỗ Thị Phương Lan, Chấn thương di dời trong một soố truyện ngắn…
[8] Tao Đàn, Văn học hải ngoại – một Việt Nam khác nhìn từ thế giới
taodan.com.vn/van-hoc-hai-ngoai-mot-viet-nam-khac-nhin-tu-the-gioi.html
[9] Vũ Thành Sơn, Văn học miền Nam nối dài – Văn học hải ngoại
https://vanviet.info/thao-luan/van-hoc-mien-nam-noi-di-van-hoc-hai-ngoai/
[10] Anatoly Sokolov, Văn học Việt Nam ở hải ngoại: những vấn đề của sự phát triển hiện nay.
https://vuongtrinhan.blogspot.com/2022/02/anatoly-sokolov-van-hoc-viet-nam-o-hai.html
[11] Lê Thị Huệ, Vài Nét Về Sự Khai Phá Nền Văn Chương Tiếng Việt Hải Ngoại
[12] Hàn Dũ: Đại phàm vật bất đắc kỳ bình tắc minh (Vật không được bình yên thì kêu lên)
[13] Hoàng Hưng, Phỏng vấn (Da Màu-TDNho).
[14] Nguyễn Hưng Quốc, Viết sách ở hải ngoại
https://www.voatiengviet.com/a/viet-sach-o-hai-ngoai-10-01-2010-104191244/882651.html
[15] “Ra mắt sách”, hiện tượng sinh hoạt văn chương chữ nghĩa phổ biến trong cộng đồng người Việt, là một cách giới thiệu, một hình thức chia sẻ hơn là rao bán sản phẩm, như có người bêu riếu.
[16[ Võ Phiến, Kẻ viết người đọc, Cuối cùng, Thế Kỷ 21, 2009, tr 63
Dẫn theo Nguyễn Vy Khanh, Văn Học Việt Nam 50 năm hải ngoại, tr. 20
[17] Nguyễn Huệ Chi, Vài cảm nhận văn học Việt Nam hải ngoại
Tạp chí Văn Học (Hà Nội), tháng 2-1994; in lại ở tạp chí Văn Học (Cali), số 99, tháng 7/1999.
[18] Phiếu chuyển tiền, do Bưu Điện Mỹ phát hành, thay thế cho ngân phiếu, dành cho những người không có tài khoản ngân hàng
[19] Lời ngỏ, Thư Khố tạp chí Văn Học (hải ngoại) https://tapchivanhoc.org/
[20] Ngô Thế Vinh, Hành trình đến tự do – Nhà văn thuyền nhân Mai Thảo
https://sangtao.org/2016/12/12/hanh-trinh-den-tu-do-nha-van-thuyen-nhan-mai-thao/
[21] Trần Vũ, Hợp lưu 12 năm, trang tôn kinh huyền hoặc hậu hiện đại
http://tranvu.free.fr/baiviet/trangtonkinh.html
*Trần Doãn Nho: Văn chương hải ngoại: nỗi chữ – nỗi quê. (Kỳ 1)
*Trần Doãn Nho: Văn chương hải ngoại: nỗi chữ – nỗi quê (Kỳ 2)
Không có nhận xét nào