Đôi điều tôi muốn chia sẻ cùng vị hiệu đính gia Cao Minh bên Việt Nam
Brian Wu
Đáng khả nghi về ông Nguyễn Thành Nam
Cao Minh
05/6/2026
“..mổ xẻ Hồ Chí Minh.... Nếu muốn phản biện nhận định của Duiker, thiết nghĩ điều ông Cao Minh cần làm là chỉ ra những tác phẩm tiểu sử chính thức hoặc bán chính thức về Hồ Chí Minh được xuất bản tại Bắc Việt mà không mang đặc điểm “thần thánh hóa” Hồ Chí Minh, như Duiker phê bình. Khi đó, phản biện mới trực tiếp đối thoại với luận điểm của Duiker”.
nguyên tác Anh ngữ Ho Chi Minh A Life của Duiker tại đây: https://archive.org/details/HoChiMinh_201808
Lời giới thiệu từ Tiếng Dân: Một cuộc tranh luận về dịch thuật đôi khi không chỉ là chuyện đúng sai của vài câu chữ, mà còn là phép thử đối với tính trung thực trong học thuật và phương pháp nghiên cứu lịch sử.
Từ bài viết phê bình của ông Cao Minh về bản dịch “Ho Chi Minh: A Life” của William J. Duiker, tác giả Brian Wu đã quay lại đối chiếu trực tiếp với nguyên tác tiếng Anh và hệ thống chú thích của Duiker. Kết quả cho thấy, nhiều nhận xét được đưa ra dường như không phản ánh đầy đủ nội dung văn bản gốc.
Bài viết sau đây là một bài phản biện chi tiết, đặt ra những câu hỏi đáng suy ngẫm về tiêu chuẩn hiệu đính, cách sử dụng nguồn tư liệu và trách nhiệm học thuật khi xuất bản các công trình sử học tại Việt Nam.
***
Tối nay, tôi có đọc một bài viết của ông Cao Minh trên Facebook, trong đó ông nêu ra một số ý kiến phê bình đối với bản dịch Việt ngữ cuốn Ho Chi Minh: A Life của William J. Duiker do dịch giả Nguyễn Thành Nam thực hiện. Với tư cách là người tham gia hiệu đính bản dịch, ông Cao Minh đã đề xuất cắt bỏ hoặc chỉnh sửa một số đoạn mà ông cho là có vấn đề.
Bài viết của ông Cao Minh, các anh chị có thể đọc tại đây.
Tôi đọc bài viết này với mong muốn hiểu rõ hơn những sai sót mà ông, trong vai trò hiệu đính viên, cho rằng William Duiker hoặc dịch giả đã mắc phải. Tuy nhiên, sau khi đối chiếu lại nguyên văn tiếng Anh của tác phẩm, tôi lại có cảm giác rằng toàn bộ nhận xét của ông Cao Minh dường như chưa thực sự đối thoại trực tiếp với những gì Duiker viết trong nguyên tác.
Ảnh chụp bìa sách “Ho Chi Minh: A Life” của tác giả William J. Duiker
Nói một cách khác, các vấn đề mà ông Cao Minh nêu ra, đều cho ta thấy rõ hoặc là ông đã không trung thực khi trích dẫn, hoặc là ông không đủ trình độ đọc Anh ngữ chuyên môn để hiệu đính một dịch phẩm sử học quan trọng đến thế.
Tôi xin trình bày phần phân tích của tôi dành cho toàn bộ các ý kiến của ông Cao Minh nêu ra, để các anh chị tham khảo.
***
(1) Ông Cao Minh viết: “Trong ‘Phần mở đầu’, tại Chú thích 5, tác giả viết: ‘Những cuốn xuất bản ở Bắc Việt thì cố gắng tô vẽ một vị thánh thay vì miêu tả chân dung một nhà hoạt động chính trị’. Tôi đề nghị cắt bỏ vì đây là nhận định chủ quan. Thực tế, tác phẩm Búp Sen Xanh của nhà văn Sơn Tùng và một số tác phẩm khác viết về Hồ Chí Minh xuất bản ở Việt Nam cũng được bạn đọc đánh giá cao...”
Tuy nhiên, khi đối chiếu với nguyên văn tiếng Anh, tôi nhận thấy Duiker không hề viết như vậy. Nguyên tác viết: “In North Vietnam several official or semiofficial biographies were published, but all were marred by a blatant effort to present their subject in mythic proportions, as a saint rather than as a political figure, more caricature than reality.”
Nghĩa là: “Tại Bắc Việt Nam, một số [tác phẩm] tiểu sử chính thức hoặc bán chính thức đã được xuất bản, nhưng tất cả đều bị ảnh hưởng bởi một nỗ lực khá lộ liễu nhằm xây dựng nên nhân vật của mình thành một hình tượng mang tầm vóc huyền thoại, như một vị thánh hơn là một nhân vật chính trị, khiến hình ảnh ấy gần với sự cường điệu hóa hơn là phản ánh thực tế”
Điều đáng chú ý là Duiker đang nói đến “official or semiofficial biogr.aphies” tức là “các tác phẩm tiểu sử chính thức hoặc bán chính thức”. Ông không nói về toàn bộ các tác phẩm viết về Hồ Chí Minh nói chung, càng không nói về các tác phẩm văn học hư cấu hay tiểu thuyết lịch sử.
Vì vậy, tôi khá băn khoăn khi thấy ông Cao Minh viện dẫn tác phẩm Búp Sen Xanh của Sơn Tùng để phản biện nhận định này. Dù đánh giá văn học đối với Búp Sen Xanh có tích cực đến đâu đi nữa, thì đây vẫn là một tiểu thuyết lịch sử, chứ không phải một công trình tiểu sử theo nghĩa ngữ mà Duiker đang sử dụng.
Nếu muốn phản biện nhận định của Duiker, thiết nghĩ điều ông Cao Minh cần làm là chỉ ra những tác phẩm tiểu sử chính thức hoặc bán chính thức về Hồ Chí Minh được xuất bản tại Bắc Việt mà không mang đặc điểm “thần thánh hóa” Hồ Chí Minh, như Duiker phê bình. Khi đó, phản biện mới trực tiếp đối thoại với luận điểm của Duiker.
Ngược lại, việc đưa một tác phẩm tiểu thuyết lịch sử ra làm ví dụ để phản bác một nhận xét về thể loại tiểu sử là không chấp nhận được, và không hề phản biện những gì mà Duiker phê bình.
Chính vì vậy, điều khiến tôi băn khoăn không phải là việc ông Cao Minh bất đồng với Duiker. Trong nghiên cứu lịch sử, bất đồng là chuyện bình thường. Điều khiến tôi khó hiểu là tại sao một nhận định nhắm đến các công trình tiểu sử của ông Duiker lại được phản biện bằng một ví dụ thuộc thể loại tiểu thuyết lịch sử bởi ông Cao Minh.
Phải chăng, tôi đã hiểu sai ý của ông Cao Minh, hay thực sự ở đây ông Cao Minh chưa phân biệt được sự khác nhau giữa các tác phẩm tiểu sử và các tác phẩm tiểu thuyết lịch sử? Hay thật ra, ông Cao Minh chưa hề đọc được nguyên tác Anh ngữ để hiểu rõ là Duiker nêu ra các vấn đề về những tác phẩm tiểu sử tại Bắc Việt, chứ không là còn bao gồm cả các tiểu thuyết lịch sử xuất bản tại Bắc Việt viết về Hồ Chí Minh?
***
(2) Ông Cao Minh viết: “Tại chương ‘Ngựa hoang’, Chú thích 22, tác giả nghi ngờ Bản Yêu sách của nhân dân An Nam không phải của Hồ Chí Minh! Tuy nhiên, trong phần chú giải, tác giả viết ‘Trong bản yêu sách, đầu tiên Thành phiên âm thành “Quac”, sau mới sửa thành “Quoc”, mà không đưa ra nguồn tư liệu chứng minh cho mối “nghi ngờ” trên. Bản yêu sách của Hồ Chí Minh đã trở thành Bảo vật Quốc gia nên không thể nêu về mối nghi ngờ không phải là tác phẩm của Nguyễn Ái Quốc! Tôi đề nghị cắt bỏ đoạn này’.”
Tuy nhiên, khi đối chiếu với nguyên văn tiếng Anh của chú thích 22, tôi nhận thấy nội dung của chú thích không chỉ giới hạn ở vấn đề cách viết tên “Quac” và “Quoc” như ông Cao Minh trình bày.
Nguyên tác viết: “Gaspard, Ho Chi Minh à Paris, pp. 64–65; Avec l’Oncle Ho, p. 33; Hemery, Ho Chi Minh, p. 44. The building on rue Monsieur-le-Prince is today the fashionable Hotel Le Clos Medicis. The management has no record of his residence there, although it confirms that the building was a hotel at that time. Perhaps it served as temporary lodgings for students at the Sorbonne. In the petition, Thanh used the spelling ‘Quac,’ but soon changed it to the more common usage ‘Quoc.’”
Nghĩa là “Gaspard, Ho Chi Minh à Paris, tr. 64–65; Avec l’Oncle Ho, tr. 33; Hemery, Ho Chi Minh, tr. 44. Tòa nhà trên phố Monsieur-le-Prince ngày nay là khách sạn thời thượng Hotel Le Clos Médicis. Ban quản lý khách sạn hiện không còn lưu giữ bất kỳ hồ sơ nào về việc ông từng cư trú tại đây, mặc dù họ xác nhận rằng vào thời điểm đó tòa nhà này quả thực là một khách sạn. Có lẽ nơi đây từng được sử dụng làm chỗ ở tạm thời cho sinh viên của Đại học Sorbonne. Trong bản thỉnh nguyện thư, Thành sử dụng cách viết tên là “Quac”, nhưng không lâu sau đó đã chuyển sang cách viết thông dụng hơn là “Quoc”.“
Như vậy, chú thích này thực chất đề cập đến hai vấn đề khác nhau.
Thứ nhất là vấn đề liên quan đến địa điểm cư trú của Nguyễn Tất Thành tại Paris. Duiker ghi nhận rằng, ban quản lý khách sạn ngày nay không còn lưu giữ bất kỳ hồ sơ nào xác nhận việc Nguyễn Tất Thành từng cư trú tại đây, dù họ xác nhận tòa nhà khi ấy đúng là một khách sạn. Đây là một nhận xét về tình trạng của nguồn tư liệu hiện còn tồn tại.
Thứ hai là chi tiết về cách ghi tên “Quac” rồi chuyển sang “Quoc” trong bản thỉnh nguyện thư.
Điều khiến tôi băn khoăn là trong phần phê bình của mình, ông Cao Minh chỉ nhắc đến chi tiết “Quac” và “Quoc”, nhưng lại không đề cập đến phần còn lại của chú thích, tức vấn đề quan trọng về chứng cứ liên quan đến nơi cư trú của Nguyễn Tất Thành tại Paris. Nếu người ta không thể chứng minh được Thành đã ở lại khách sạn này khi viết văn kiện Bản yêu sách, vậy thì liệu độc giả có nên đặt câu hỏi về tánh xác thực liên quan đến sự có mặt của Thành trong giai đoạn văn kiện này được soạn không?
Ngoài ra, tôi cũng chưa hiểu cơ sở của lập luận mà ông Cao Minh nêu ra: “Bản yêu sách của Hồ Chí Minh đã trở thành Bảo vật Quốc gia nên không thể nêu về mối nghi ngờ không phải là tác phẩm của Nguyễn Ái Quốc”.
Nếu hiểu đúng tinh thần nghiên cứu lịch sử, thì việc một tài liệu được công nhận là Bảo vật Quốc gia không tự động chấm dứt mọi thảo luận học thuật liên quan đến hoàn cảnh ra đời, quá trình hình thành, tác giả hay các tranh luận sử liệu xoay quanh văn bản đó.
Trong nghiên cứu lịch sử, một nhận định chỉ có thể được bác bỏ hoặc khẳng định bằng chứng cứ và lập luận. Nếu cho rằng Duiker sai, điều thuyết phục nhất có lẽ là chỉ ra những nguồn tư liệu mà ông ta đã bỏ sót, đọc sai hoặc diễn giải không chính xác. Ngược lại, việc viện dẫn địa vị “Bảo vật Quốc gia” của một văn bản dường như chưa trực tiếp trả lời câu hỏi sử học mà Duiker đang đặt ra và có thể nói, không hề là cách phản biện chính thống và được chấp nhận trong thế giới học thuật (ngoài Việt Nam).
Chính vì vậy, điều khiến tôi khó hiểu không phải là việc ông Cao Minh phản đối nhận định của Duiker, mà là cách phản đối ấy dường như chưa thực sự đối thoại với toàn bộ nội dung của chú thích 22 cũng như hệ thống nguồn tư liệu mà Duiker sử dụng. Có thể tôi đã hiểu chưa đúng ý ông Cao Minh, nhưng nếu chỉ dựa trên những gì được trình bày trong bài viết, tôi vẫn chưa thấy rõ vì sao việc một tài liệu được công nhận là Bảo vật Quốc gia lại có thể trở thành lý do đủ để loại bỏ một vấn đề nghiên cứu lịch sử khỏi phạm vi thảo luận học thuật.
***
(3) Ông Cao Minh viết: “Chương ‘Con Rồng cháu Tiên’ – Chú thích 32, phần nói về vụ cụ Phan Bội Châu bị mật thám Pháp bắt tại ga Bắc Trạm, Thượng Hải, tháng 6/1925. Tác giả viết: ‘Mặc dù không phủ nhận là Nguyễn Ái Quốc có thể phản bội Phan Bội Châu nếu tin rằng điều đó phục vụ lợi ích cách mạng, nhưng trong vụ này rõ ràng là Nguyễn Ái Quốc không tin là có thể khai thác được gì cho phong trào từ việc bắt Phan Bội Châu’. Đoạn này khiến bạn đọc dễ hiểu nhầm Nguyễn Ái Quốc dính líu đến vụ chỉ điểm cho mật thám bắt cụ Phan Bội Châu. Tôi cũng đề nghị cắt bỏ.”
Tuy nhiên, nếu đối chiếu trực tiếp với nguyên văn tiếng Anh, có thể thấy cách trình bày trên chưa phản ánh đầy đủ sắc thái của câu văn gốc.
Nguyên tác viết: “In any event, it seems unlikely that Nguyen Ai Quoc would have seen an advantage to having Phan Boi Chau seized by the French. This is not to deny that he was capable of betraying the old patriot if he believed it would serve the interests of the revolutionary cause.”
Nghĩa là “Dù thế nào đi nữa, có vẻ khó có khả năng Nguyễn Ái Quốc nhìn thấy bất kỳ lợi ích nào từ việc để Phan Bội Châu bị người Pháp bắt giữ. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là phủ nhận khả năng ông có thể phản bội vị chí sĩ lão thành này nếu ông tin rằng việc làm như vậy sẽ phục vụ lợi ích của sự nghiệp cách mạng”.
Điều đáng lưu ý là nhận xét của ông Cao Minh không được xây dựng trên nguyên văn tiếng Anh như tôi dịch mà ông lại có vẻ dựa vào một bản dịch diễn giải không chuẩn xác. Trong bản diễn giải ấy, cụm từ “it seems unlikely” được chuyển thành “rõ ràng là”, trong khi “would have seen an advantage” được diễn giải thành “không tin là có thể khai thác được gì cho phong trào”. Cả hai thay đổi này đều làm cho mức độ khẳng định của câu văn trở nên mạnh hơn đáng kể so với nguyên tác.
Bởi vì cụm từ “it seems unlikely” chỉ thể hiện một nhận định dè dặt (“có vẻ khó có khả năng”), chứ không phải một kết luận chắc chắn. Tương tự, việc “không nhìn thấy lợi ích” từ một sự kiện nào đó cũng không hoàn toàn đồng nghĩa với việc “không tin là có thể khai thác được gì cho phong trào” từ sự kiện ấy. Hai cách diễn đạt này có liên hệ với nhau, nhưng không đồng nhất về mặt ngữ nghĩa trong Việt ngữ.
Quan trọng hơn, trong đoạn văn được dẫn, tác giả Duiker không đưa ra bất kỳ khẳng định nào rằng Nguyễn Ái Quốc đã tham gia vào việc chỉ điểm cho mật thám Pháp bắt Phan Bội Châu. Trái lại, câu thứ nhất của nguyên tác còn nhấn mạnh rằng tác giả không cho rằng Nguyễn Ái Quốc nhìn thấy lợi ích từ việc Phan Bội Châu bị người Pháp bắt giữ. Đây là một lập luận nhằm phủ nhận động cơ chính trị của Nguyễn Ái Quốc trong sự kiện này, chứ không phải nhằm gợi ý sự dính líu của ông.
Đối với câu tiếp theo: “This is not to deny that he was capable of betraying the old patriot if he believed it would serve the interests of the revolutionary cause”, tác giả chỉ khẳng định rằng ông không phủ nhận khả năng Nguyễn Ái Quốc có thể thực hiện những hành động chính trị quyết liệt nếu tin rằng chúng phục vụ cho sự nghiệp cách mạng. Đây là một nhận định mang tính khái quát về khả năng hành động trong một tình huống giả định, chứ không phải một kết luận hay cáo buộc liên quan đến vụ bắt giữ Phan Bội Châu năm 1925.
Do đó, nếu đọc đúng theo ngữ cảnh và cấu trúc lập luận của nguyên văn, rất khó rút ra kết luận rằng tác giả đang cáo buộc hoặc hàm ý Nguyễn Ái Quốc đã tham gia vào việc chỉ điểm cho mật thám Pháp. Điều mà Duiker thực sự viết là: ông không cho rằng Nguyễn Ái Quốc nhìn thấy lợi ích từ việc Phan Bội Châu bị bắt, đồng thời không phủ nhận khả năng Nguyễn Ái Quốc có thể thực hiện những hành động chính trị quyết liệt nếu tin rằng chúng phục vụ cho sự nghiệp cách mạng. Hai nhận định ấy không đồng nghĩa với một cáo buộc về sự dính líu trong vụ bắt giữ năm 1925.
Vì vậy, nhận xét của ông Cao Minh rằng đoạn văn này “khiến bạn đọc dễ hiểu nhầm Nguyễn Ái Quốc dính líu đến vụ chỉ điểm cho mật thám bắt cụ Phan Bội Châu”, cũng như đề nghị cắt bỏ đoạn văn vì lý do đó, dường như chưa được hỗ trợ đầy đủ bởi chính nội dung dịch thuật nguyên tác. Nếu cho rằng đoạn văn này thực sự hàm ý sự dính líu của Nguyễn Ái Quốc, hay gây ra sự hiểu lầm từ độc giả, thiết nghĩ ông Cao Minh cần chỉ ra cụ thể câu chữ nào trong nguyên văn dẫn tới cách hiểu ấy. Còn nếu chỉ đối chiếu với những gì Duiker thực sự viết, tôi chưa thấy đủ cơ sở để kết luận rằng tác giả đang đưa ra một cáo buộc như vậy.
***
(4) Ông Cao Minh viết: “Tại chú thích 58: Tôi đề nghị cắt bỏ đoạn nói về mối quan hệ giữa Nguyễn Ái Quốc với bà Tăng Tuyết Minh vì chưa có tài liệu chính thống nào ở Việt Nam khẳng định mối quan hệ này”.
Đây là một nhận xét khiến tôi đặc biệt băn khoăn, bởi tôi không hiểu chính xác cụm từ “tài liệu chính thống ở Việt Nam” được sử dụng theo nghĩa nào trong trường hợp này, cũng như là vì sao sự vắng mặt của một tài liệu “chính thống” như vậy lại có thể trở thành lý do để loại bỏ hoàn toàn một vấn đề khỏi phạm vi nghiên cứu lịch sử.
Điều đáng chú ý là khi đề cập đến mối quan hệ giữa Nguyễn Ái Quốc và Tăng Tuyết Minh, William Duiker không hề đưa ra nhận định vô căn cứ, không kèm theo nguồn tư liệu. Trái lại, chú thích 58 là một trong những chú thích có hệ thống dẫn nguồn khá cụ thể.
Nguyên văn viết: “The source of much of this information was the French agent Lam Duc Thu himself. See the Hanoi report, October 28, 1931, in SPCE, Carton 367, CAOM, and ‘La conversation entre Pinot et Noël,’ July 4, 1926, in dossier labeled ‘Nguyen Ai Quoc 1926–1927,’ in SPCE, Carton 368, CAOM. See also ‘Lam Duc à M. D.,’ January 29, 1927, in dossier labeled ‘Nguyen Ai Quoc 1926–1927,’ in ibid.”
Nghĩa là “Phần lớn những thông tin này xuất phát từ chính Lâm Đức Thụ, một nhân viên mật thám Pháp. Xem báo cáo từ Hà Nội ngày 28 tháng 10 năm 1931 trong SPCE, Carton 367, CAOM; ‘Cuộc trao đổi giữa Pinot và Noël’, ngày 4 tháng 7 năm 1926, trong hồ sơ mang nhãn ‘Nguyễn Ái Quốc 1926–1927’, thuộc SPCE, Carton 368, CAOM. Xem thêm ‘Lâm Đức gửi ông D.’, ngày 29 tháng 1 năm 1927, trong cùng hồ sơ”.
Nghĩa là theo chính chú thích 58 của Duiker, phần lớn các thông tin liên quan đến mối quan hệ giữa Nguyễn Ái Quốc và Tăng Tuyết Minh xuất phát từ lời khai của Lâm Đức Thụ — người mà Duiker viết rõ là nhân vật đã đóng vai trò kết nối Hồ Chí Minh và Tăng Tuyết Minh. Không những vậy, Duiker còn chỉ rõ các hồ sơ lưu trữ cụ thể tại CAOM mà ông sử dụng, cho phép độc giả và các nhà nghiên cứu khác có thể tự mình kiểm tra lại nguồn tư liệu gốc nếu thấy cần thiết.
Nói cách khác, ở đây Duiker không đưa ra một khẳng định vô căn cứ. Ông đang dựa trên một hệ thống nguồn tư liệu mà theo ông là có liên quan trực tiếp đến sự kiện, của chính chứng nhân Lâm Đức Thụ trong sự việc này, đồng thời công khai đầy đủ xuất xứ của các nguồn ấy để người đọc tự đánh giá mức độ đáng tin cậy.
Chính vì vậy, điều khiến tôi khó hiểu là: Nếu cho rằng kết luận của Duiker không đáng tin, thì vấn đề cần được thảo luận trước hết phải là độ tin cậy của các nguồn mà Duiker sử dụng. Chẳng hạn, liệu lời khai của Lâm Đức Thụ có đáng tin hay không? Các hồ sơ trong CAOM có vấn đề gì về xuất xứ, tính xác thực hoặc độ khả tín hay không? Có nguồn nào khác phủ nhận hoặc bác bỏ các tài liệu ấy hay không? Đó đều là những câu hỏi hoàn toàn chính đáng trong nghiên cứu lịch sử.
Tuy nhiên, trong nhận xét của ông Cao Minh, trọng tâm dường như không nằm ở việc phân tích các nguồn tư liệu mà Duiker sử dụng, mà ở tiêu chí “chưa có tài liệu chính thống nào ở Việt Nam khẳng định mối quan hệ này”. Điều này dẫn đến một câu hỏi phương pháp luận quan trọng hơn: Liệu một sự kiện lịch sử có thể bị loại bỏ khỏi phạm vi nghiên cứu chỉ vì nó chưa được xác nhận bởi một nguồn được xem là “chính thống” tại Việt Nam hay không? Mà tại Việt Nam, nguồn tài liệu như thế có được cho phép lộ hoặc in ấn ra cho mọi người tham khảo không?
Trong môi trường nghiên cứu sử học hiện đại, giá trị của một tư liệu thường được đánh giá dựa trên xuất xứ, bối cảnh hình thành, độ tin cậy và khả năng kiểm chứng của nó, chứ không chỉ dựa trên việc nó được công bố bởi một cơ quan hay hệ thống xuất bản nào. Nếu chấp nhận nguyên tắc rằng chỉ những tài liệu được coi là “chính thống” mới có thể được sử dụng để nghiên cứu, thì vô số tài liệu lưu trữ, thư từ, hồi ký, báo cáo ngoại giao và hồ sơ mật hiện đang được các nhà sử học trên thế giới khai thác về Hồ Chí Minh cũng sẽ bị loại bỏ khỏi phạm vi khảo cứu.
Vì vậy, điều khiến tôi băn khoăn không phải là việc ông Cao Minh bác bỏ kết luận của Duiker. Một kết luận lịch sử hoàn toàn có thể bị phản bác nếu chứng cứ không đủ mạnh. Điều tôi chưa hiểu là vì sao toàn bộ hệ thống nguồn mà Duiker dẫn ra lại dường như bị gạt sang một bên chỉ bằng nhận định rằng “chưa có tài liệu chính thống nào ở Việt Nam khẳng định”. Nếu đó là tiêu chuẩn được sử dụng, thì thiết nghĩ cần giải thích rõ hơn “tài liệu chính thống” là gì, và vì sao tiêu chuẩn ấy lại có giá trị quyết định hơn các nguồn tư liệu sơ cấp mà Duiker đang viện dẫn.
***
(5) Ông Cao Minh viết: “Tại chương ‘Giữa hai cuộc chiến’. Chú thích 29. Tôi đề nghị cắt bỏ đoạn nói về sự sùng bái Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đoạn này tác giả dẫn nguồn trong tác phẩm Đêm Giữa Ban Ngày của Vũ Thư Hiên”.
Tôi khá băn khoăn trước đề nghị này.
Theo hiểu biết của tôi, Đêm Giữa Ban Ngày của Vũ Thư Hiên là một tác phẩm hồi ký, chứ không phải một tiểu thuyết hư cấu. Dĩ nhiên, cũng như mọi hồi ký khác, tác phẩm này có thể chứa đựng những nhận định chủ quan hoặc những chi tiết cần được đối chiếu với các nguồn khác. Tuy nhiên, bản thân việc một nguồn tư liệu là hồi ký không phải là lý do đủ để loại bỏ nó khỏi phạm vi nghiên cứu lịch sử. Trên thực tế, hồi ký từ lâu đã là một trong những loại tư liệu được các nhà sử học thường xuyên sử dụng, với điều kiện người nghiên cứu ý thức được những giới hạn của loại nguồn này. Chính vì vậy, tôi chưa hiểu vì sao việc Duiker sử dụng Đêm Giữa Ban Ngày lại bị xem là lý do để đề nghị cắt bỏ toàn bộ đoạn văn liên quan.
Tôi đã thử đối chiếu lại đoạn mà Duiker dẫn từ Đêm Giữa Ban Ngày và đọc được phần nội dung do Vũ Thư Hiên ghi lại như sau: “Hoàng Minh Chính kể: “Khi Nikita Khrushov nổ phát súng đầu tiên vào chế độ toàn trị và cá nhân Stalin, đầu năm 1956, Trường Chinh tỏ ra rất hăng hái ủng hộ cuộc cách tân chủ nghĩa xã hội. Trường Chinh nói “Chủ nghĩa xã hội không thể cùng tồn tại với tệ sùng bái cá nhân. Chủ nghĩa xã hội là dân chủ, sùng bái cá nhân là phản dân chủ, hai cái như nước với lửa, chỉ có thể là cái này hoặc cái kia, không thể hai cái cùng một lúc. Đồng chí Khrushov làm thế là phải lắm. Dũng cảm lắm”. Quan điểm này Trường Chinh không chỉ nói với một Hoàng Minh Chính. Cũng theo Hoàng Minh Chính thì trong thâm tâm Trường Chinh không hài lòng với sự sùng bái cá nhân Hồ Chí Minh. Còn theo một số người gần gũi Trường Chinh nhiều hơn thì Trường Chinh là người háo danh ghê gớm, nhưng háo danh một cách kín đáo. Ông ta âm thầm ghen tị với Hồ Chí Minh, người từ ngoại quốc trở về đúng vào lúc ông ta bị mất uy tín trong Đảng, do đó nghiễm nhiên tọa hưởng những kết quả do ông ta làm ra cho phong trào cách mạng. Trường Chinh chống sùng bái cá nhân Hồ Chí Minh để kiến tạo sùng bái cá nhân mình. Vì lẽ đó ông ta đã tán thành Khrushov.”
Từ đoạn hồi ký này, Duiker viết: “Truong Chinh, who may understandably have been privately jealous of Ho’s towering reputation among the populace, was reportedly elated at the antideification campaign.”
Nghĩa là “Trường Chinh, người mà có lẽ cũng dễ hiểu là đã thầm ganh tị với uy tín vượt trội của Hồ Chí Minh trong quần chúng nhân dân, được cho là đặc biệt hoan nghênh chiến dịch chống sùng bái cá nhân”.
Điều đáng chú ý là ở đây Duiker không trực tiếp bàn về hiện tượng sùng bái cá nhân Hồ Chí Minh như một chủ đề độc lập. Trọng tâm của câu văn nằm ở cách ông lý giải phản ứng của Trường Chinh trước chiến dịch chống sùng bái cá nhân sau Đại hội XX của Đảng Cộng sản Liên Xô.
Nói cách khác, điều mà Duiker đang quan tâm không phải là chứng minh có hay không có hiện tượng sùng bái cá nhân Hồ Chí Minh, mà là phân tích tâm lý và thái độ chính trị của Trường Chinh trong bối cảnh ấy. Chính vì vậy, nguồn tư liệu từ Đêm Giữa Ban Ngày được sử dụng để hỗ trợ cho nhận định về Trường Chinh nhiều hơn là để chứng minh sự tồn tại của một hiện tượng sùng bái cá nhân.
Điều khiến tôi chưa hiểu là: Nếu cho rằng Duiker sử dụng Đêm Giữa Ban Ngày không thích hợp, thì cần chỉ ra cụ thể phần nào trong nguồn tư liệu này là không đáng tin cậy, hoặc phần nào trong suy luận của Duiker là không được nguồn hỗ trợ. Ngược lại, việc đề nghị cắt bỏ toàn bộ đoạn văn chỉ vì nó sử dụng một nguồn hồi ký dường như chưa phải là một phản biện đầy đủ về mặt sử học.
Ngoài ra, tôi cũng nhận thấy rằng trong bài viết của mình, ông Cao Minh tập trung vào việc đoạn văn có nhắc tới vấn đề sùng bái Hồ Chí Minh để làm lý do cắt xén câu văn, nhưng lại không thảo luận trực tiếp phần quan trọng hơn trong lập luận của Duiker, đó là nhận định về thái độ của Trường Chinh đối với uy tín chính trị đặc biệt lớn của Hồ Chí Minh trong quần chúng. Đây mới là điểm trung tâm của đoạn văn mà Duiker đang xây dựng.
Vì vậy, tôi vẫn chưa hiểu vì sao đoạn văn này cần phải bị cắt bỏ hoàn toàn. Nếu có sai sót, thiết nghĩ điều cần làm là chỉ ra sai sót ấy nằm ở đâu trong nguồn tư liệu hoặc trong suy luận của tác giả, thay vì chỉ nêu rằng nguồn được sử dụng là một cuốn hồi ký không được xuất bản tại Việt Nam.
***
(6) Ông Cao Minh viết: “Chú thích 36: Đề nghị tác giả cắt bỏ đoạn nói về ông Trường Chinh sau Cải cách ruộng đất. Vì tác giả dẫn nguồn tư liệu của ông Bùi Tín. Đây là nhận định chủ quan của ông Bùi Tín về ông Trường Chinh. Ông Bùi Tín không thể phán xét ông Trường Chinh rằng ‘Tính cách hơi xa lạ, ông này không được các đồng chí yêu quý không phải vì sự tàn bạo mà vì sự lạnh lùng và thiếu tình người’!”
Tuy nhiên, khi đối chiếu với nguyên văn chú thích 36 của Duiker, tôi nhận thấy tác giả không chỉ dựa vào một nguồn duy nhất là Bùi Tín.
Nguyên văn viết: “Post, Revolution, vol. 1, pp. 282–83. For Chinh’s response to the dismissal, see Bui Tin, Following Ho, p. 31, and Hoang Gian, ‘Une goutte bleu dans le grand ocean,’ in Chroniques Vietnamiennes (Winter-Spring 1988), p. 23.”
Nghĩa là “Post, Revolution, tập 1, tr. 282–283. Về phản ứng của Trường Chinh trước việc bị bãi nhiệm, xem Bùi Tín, Following Ho, tr. 31; và Hoàng Gián, ‘Giọt nước trong biển cả’, Chroniques Vietnamiennes (Đông–Xuân 1988), tr. 23.”
Điều đáng chú ý là Duiker đang dẫn ít nhất hai nguồn khác nhau trong sự kiện này. Nói cách khác, đây không phải là trường hợp tác giả hoàn toàn dựa vào một nhận xét đơn lẻ của Bùi Tín, mà còn dựa vào tác phẩm của Hoàng Văn Hoan. Chính vì vậy, nếu cho rằng nhận định của Bùi Tín mang tính chủ quan, điều cần làm có lẽ là phân tích mức độ đáng tin cậy của từng nguồn mà Duiker sử dụng, hoặc chỉ ra vì sao các nguồn ấy không đủ cơ sở để hỗ trợ kết luận của tác giả. Ngược lại, việc đề nghị cắt bỏ toàn bộ đoạn văn chỉ vì một trong các nguồn được sử dụng là Bùi Tín dường như chưa phản ánh đầy đủ hệ thống tư liệu mà Duiker thực sự viện dẫn.
Ngoài ra, tôi cũng nhận thấy rằng trọng tâm của chú thích 36 không phải là việc khẳng định một đánh giá đạo đức nào đó về Trường Chinh, mà là dẫn nguồn cho phản ứng của ông sau khi bị bãi nhiệm. Nếu muốn phản bác Duiker, thiết nghĩ điều quan trọng là xem xét toàn bộ hệ thống nguồn mà ông sử dụng cho sự kiện này, thay vì chỉ tập trung vào một nguồn duy nhất rồi từ đó đề nghị loại bỏ toàn bộ đoạn văn.
Nói cách khác, vấn đề ở đây không phải là Bùi Tín có thể chủ quan hay không. Mọi hồi ký và lời kể cá nhân đều có thể mang yếu tố chủ quan ở những mức độ khác nhau. Vấn đề là Duiker có dựa duy nhất vào nguồn đó hay không, và liệu các nguồn khác mà ông viện dẫn có củng cố hay mâu thuẫn với nhận định ấy hay không. Đó mới là câu hỏi cần được trả lời nếu muốn đánh giá tính xác đáng của đoạn văn này.
***
Sau khi đọc toàn bộ các nhận xét của ông Cao Minh với tư cách hiệu đính gia của ông, điều khiến tôi băn khoăn không phải là việc ông bất đồng với William Duiker. Như tôi viết, trong nghiên cứu lịch sử, bất đồng quan điểm là điều hết sức bình thường. Điều khiến tôi khó hiểu là nhiều nhận xét của ông dường như không được xây dựng trên việc đối chiếu trực tiếp với nguyên văn Anh ngữ, mà dựa trên những bản tóm lược hoặc diễn giải Việt ngữ đã bị thay đổi đáng kể nội dung và sắc thái của văn bản gốc.
Nếu tôi không dành thời gian quay lại kiểm tra nguyên tác Anh ngữ, rất có thể tôi cũng sẽ tiếp nhận các nhận xét ấy như những kết luận hiển nhiên. Tuy nhiên, sau khi đối chiếu từng trường hợp cụ thể, tôi nhận thấy có không ít chỗ mà vấn đề thực sự nằm ở cách trình bày lại lập luận của Duiker trong bản dịch Việt ngữ hay trong cách đọc Anh ngữ của ông Cao Minh, chứ không phải ở chính những gì Duiker đã viết.
Chính vì vậy, tôi cho rằng vấn đề quan trọng ở đây không còn đơn thuần là đúng hay sai trong một vài chi tiết lịch sử. Vấn đề lớn hơn là cách chúng ta đối xử với một công trình nghiên cứu khi dịch và xuất bản nó cho độc giả Việt Nam. Nếu một tác giả sử dụng các nguồn lưu trữ của Pháp, hồi ký của các nhân chứng, thư từ, báo cáo tình báo, hoặc các công trình nghiên cứu đã được xuất bản ở nước ngoài, thì cách phản biện phù hợp nhất theo tôi là kiểm tra độ tin cậy của các nguồn ấy, đối chiếu chứng cứ và chỉ ra những điểm sai trong lập luận của tác giả. Ngược lại, nếu một nguồn tư liệu bị loại bỏ chỉ vì nó không phải là nguồn “chính thống”, hoặc vì nó không được xuất bản tại Việt Nam, thì điều đó đặt ra một câu hỏi đáng suy nghĩ về tiêu chuẩn học thuật đang được sử dụng.
Đặc biệt, tôi chú ý đến phần kết luận của ông Cao Minh, trong đó ông cho rằng nhiều thông tin của Duiker dựa trên các tác phẩm như Đêm Giữa Ban Ngày của Vũ Thư Hiên, hồi ký của Hoàng Văn Hoan hay các tác phẩm của Bùi Tín, đồng thời nhấn mạnh rằng những tác phẩm này không được xuất bản tại Việt Nam. Tôi không rõ việc một cuốn sách có được xuất bản tại Việt Nam hay không thì liên quan như thế nào đến độ chính xác của thông tin mà nó cung cấp. Trong nghiên cứu lịch sử, giá trị của một nguồn tư liệu thường được đánh giá thông qua xuất xứ, hoàn cảnh hình thành, tính xác thực và khả năng kiểm chứng, chứ không phải chỉ dựa trên nơi xuất bản của nó.
Điều khiến tôi lo ngại là nếu tiêu chuẩn đánh giá một công trình dịch phẩm sử học không còn là chất lượng nguồn tư liệu và sức mạnh của lập luận, mà là việc các nguồn ấy có được chấp nhận trong một hệ thống xuất bản nhất định hay không, thì bản thân quá trình nghiên cứu lịch sử sẽ bị thu hẹp đáng kể. Khi đó, vấn đề không còn là Duiker đúng hay sai, mà là những loại chứng cứ nào được phép tham gia vào cuộc tranh luận học thuật.
Tôi không biết động cơ của ông Cao Minh là gì, và tôi cũng không cho rằng việc quy kết động cơ là cần thiết. Điều tôi quan tâm là các lập luận cụ thể mà ông đưa ra. Sau khi đối chiếu với nguyên văn tiếng Anh và hệ thống chú thích của Duiker, tôi vẫn chưa bị thuyết phục rằng những lý do được nêu ra là đủ để biện minh cho việc cắt bỏ các đoạn văn đã được đề cập ở trên. Nói một cách khác, tôi khẳng định những gì ông Cao Minh nêu ra, hầu hết là cách biện hộ cắt xén hoặc lèo lái độc giả đến với khẳng định một chiều rất đáng ngờ của ông, hơn là dựa trên sự đánh giá khách quan phân tích nội dung nghĩa ngữ trong nguyên tác.
Mà điều này lại dẫn đến câu hỏi mà tôi đã hỏi – đó là liệu ông Cao Minh, trong vai trò hiệu đính gia một dịch phẩm sử học như thế, thật sự có đủ trình độ Anh ngữ chuyên môn để đọc và hiểu không? Hay thật ra ông không hề có trình độ đọc nguyên tác Anh ngữ, và những gì ông hiệu đính, chỉ đến từ bản dịch Việt ngữ của dịch giả Nguyễn Thành Nam? Nhưng nếu một hiệu đính gia không đủ trình độ về ngoại ngữ được viết trong nguyên tác, thì làm sao ông lại có thể được trao cho chức vụ hiệu đính gia?
Và nếu quả thật ông Cao Minh khẳng định ông đủ trình độ chuyên môn Anh ngữ, thì theo thiển ý của tôi, sau khi đọc bài phê bình của ông, tôi thấy rõ ông thật sự rất có vấn đề về đọc và nghiên cứu nguyên tác Anh ngữ. Cũng như là, có vẻ ông Cao Minh đã không trung thực khi nêu ra các lý do để cắt xén. Tôi không hiểu tại sao một việc làm không trung thực dễ bị phát hiện như thế mà ông Cao Minh lại tin rằng ông có thể đăng lên Facebook mà không ai có thể kiểm chứng được? Phải chăng ông Cao Minh xem thường trình độ đọc nguyên tác Anh ngữ của độc giả Việt Nam ngày nay?
Do vì tôi không thể để lại comment trong bài viết của ông Cao Minh, nên tôi nhờ anh chị nào có thể viết comments trong bài viết của ông Cao Minh, nhắn lại là có bài phản biện này vậy. Tôi thấy trong bài viết ấy, có đến hơn 238 shares, và cả trăm ý kiến khen ngợi ông Cao Minh là một biên tập viên giỏi như thế nào. Nhưng tôi không biết các độc giả cho ý kiến khen ngợi này, họ có thật sự đọc lại nguyên tác Anh ngữ chưa? Hay quan trọng hơn, họ có đủ trình độ đọc Anh ngữ chuyên môn để tự khẳng định rằng ông Cao Minh có đủ chuyên môn để thực hành công tác biên tập viên cho công trình dịch phẩm sử học này hay không?
Các anh chị nếu muốn, đọc luôn nguyên tác Anh ngữ Ho Chi Minh A Life của Duiker tại đây: https://archive.org/details/HoChiMinh_201808
Mời các anh chị tham khảo. Dĩ nhiên tôi có thể sai, nếu có mời các anh chị lên tiếng để chúng ta cùng học hỏi.
Đáng khả nghi về ông Nguyễn Thành Nam
Cao Minh
5-6-2026
Lời giới thiệu từ Tiếng Dân: Một cuốn sách chưa kịp phát hành đã gây tranh cãi dữ dội trên mạng xã hội, kéo theo những câu hỏi về giới hạn của nghiên cứu lịch sử, quyền trích dẫn tư liệu và trách nhiệm của người viết.
Trong bài viết bên dưới, tác giả Cao Minh kể lại quá trình tham gia hiệu đính bản dịch cuốn sách “Ho Chi Minh: A Life” của tác giả William J. Duiker do Nguyễn Thành Nam thực hiện, đồng thời lý giải vì sao nhiều nội dung bị đề nghị cắt bỏ trước khi xuất bản tại Việt Nam. Từ đó, tác giả đặt ra nghi vấn về việc ông Nguyễn Thành Nam sử dụng những nguồn tư liệu và quan điểm lịch sử gây tranh cãi trong cuốn sách “Chuyện với Thanh”.
***
Trên mạng xã hội đang rần rần phản đối cuốn sách “Chuyện với Thanh” của Nguyễn Thành Nam”, nguyên Tổng Giám đốc Tập đoàn FPT. Báo Nhân dân Điện tử đã đăng hai bài giới thiệu về cuốn sách này, sau đó tháo gỡ.
Theo thông tin trên các trang mạng xã hội, cuốn “Chuyện với Thanh” của Nguyễn Thành Nam” đã xúc phạm lãnh tụ Hồ Chí Minh! Tôi chưa đọc cuốn sách nên không tham gia bình luận. Tuy nhiên, qua những trang trích dẫn trong cuốn sách, tôi biết, tác giả Nguyễn Thành Nam đã sử dụng một số tư liệu trong cuốn sách “Ho Chi Minh: A Life” của tác giả William J. Duiker.
Đây là cuốn sách gần 700 trang, xuất bản tại nước Mỹ, được Nguyễn Thành Nam dịch và giao cho tôi đọc, hiệu đính và làm các thủ tục xuất bản cuốn sách.
Trước khi nhận lời hiệu đính và làm thủ tục xuất bản, tôi đề nghị ông Nguyễn Thành Nam cung cấp cho tôi thông tin tác giả William J. Duiker và đề nghị tác giả cho phép được cắt bỏ một số chi tiết trong tác phẩm để phù hợp với những quy định về xuất bản của Việt Nam. Đề nghị của của tôi đã được ông Nguyễn Thành Nam trả lời qua email: “Bên bản quyền đã đồng ý về nguyên tắc việc biên tập như anh (tức là tôi) đề xuất. Tuy nhiên họ muốn xem cụ thể là bên anh biên tập như thế nào”.
Sau hàng tháng trời đọc bản dịch của ông Nguyễn Thành Nam (trên 500 trang đánh máy khổ A4), tôi đã phát hiện nhiều thông tin trong bản dịch sai lệch với những thông tin về lịch sử Đảng CSVN và Hồ Chí Minh đã công bố trong các tác phẩm đã xuất bản ở Việt Nam. Thậm chí, có những thông tin xúc phạm đến Bác Hồ kính yêu và các nhà lãnh đạo cách mạng tiền bối. Tôi đã lọc ra 23 thông tin, sự kiện đề nghị tác giả cắt bỏ. Phần đề nghị cắt bỏ, tôi đã ghi chi tiết nội dung, lý lo cắt… và gửi cho chị Quế Anh – người được ông Nguyễn Thành Nam, ủy quyền làm việc với tác giả William J. Duiker.
Tuy nhiên, những nội dung đề nghị cắt bỏ của tôi không được ông William J. Duiker đồng ý nên cuốn sách này không được xuất bản ở Việt Nam.
Xin trích một số thông tin tôi đề nghị cắt bỏ:
Trong “Phần mở đầu”, tại Chú thích 5, tác giả viết: “Những cuốn xuất bản ở Bắc Việt thì cố gắng tô vẽ một vị thánh thay vì miêu tả chân dung một nhà hoạt động chính trị”. Tôi đề nghị cắt bỏ vì đây là nhận định chủ quan. Thực tế, tác phẩm “Búp sen xanh” của Nhà văn Sơn Tùng và một số tác phẩm khác viết về Hồ Chí Minh xuất bản ở Việt Nam cũng được bạn đọc đánh giá cao…
Tại chương “Ngựa hoang”, Chú thích 22, tác giả nghi ngờ Bản Yêu sách nhân dân An Nam không phải của Hồ Chí Minh! Tuy nhiên, trong phần chú giải, tác giả viết “Trong bản yêu sách, đầu tiên Thành phiên âm thành “Quac”, sau mới sửa thành “Quoc”, mà không đưa ra nguồn tư liệu chứng minh cho mối “nghi ngờ” trên. Bản yêu sách của Hồ Chí Minh đã trở thành Bảo vật Quốc gia nên không thể nêu về mối nghi ngờ không phải là tác phẩm của Nguyễn Ái Quốc! Tôi đề nghị cắt bỏ đoạn này.
Chương “Con Rồng cháu Tiên”
Chú thích 32, phần nói về vụ cụ Phan Bội Châu bị mật thám Pháp bắt tại ga Bắc Trạm, Thượng Hải, tháng 6/1925. Tác giả viết: “Mặc dù không phủ nhận là Nguyễn Ái Quốc có thể phản bội Phan Bội Châu nếu tin rằng điều đó phục vụ lợi ích cách mạng, nhưng trong vụ này rõ ràng là Nguyễn Ái Quốc không tin là có thể khai thác được gì cho phong trào từ việc bắt Phan Bội Châu”. Đoạn này khiến bạn đọc dễ hiểu nhầm Nguyễn Ái Quốc dính líu đến vụ chỉ điểm cho mật thám bắt cụ Phan Bội Châu.
Tôi cũng đề nghị cắt bỏ.
Tại chú thích 58: Tôi đề nghị cắt bỏ đoạn nói về mối quan hệ giữa Nguyễn Ái Quốc với bà Tăng Tuyết Minh vì chưa có tài liệu chính thống nào ở Việt Nam khẳng định mối quan hệ này
Tại chương “Giữa hai cuộc chiến”.
Chú thích 29. Tôi đề nghị cắt bỏ đoạn nói về sự sùng bái Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đoạn này tác giả dẫn nguồn trong tác phẩm “Đêm giữa ban ngày” của Vũ Thư Hiên.
Chú thích 36:
Đề nghị tác giả cắt bỏ đoạn nói về ông Trường Chinh sau Cải cách ruộng đất. Vì tác giả dẫn nguồn tư liệu của ông Bùi Tín. Đây là nhận định chủ quan của ông Bùi Tín về ông Trường Chinh. Ông Bùi Tín không thể phán xét ông Trường Chinh rằng “Tính cách hơi xa lạ, ông này không được các đồng chí yêu quý không phải vì sự tàn bạo mà vì sự lạnh lùng và thiếu tình người”!
Trong cuốn sách, tác giả William J. Duiker còn đưa nhiều thông tin chưa được kiểm chứng về mối quan hệ giữa Chủ tịch Hồ Chí Minh với các đồng chí, học trò của mình như Trần Phú, Hà Huy Tập, Nguyễn Thị Minh Khai, Lê Duẩn… Hầu hết, những thông tin này tác giả đều trích nguồn từ cuốn sách “Đêm giữa ban ngày” của Vũ Thư Hiên”; “Giọt nước trong biển cả”, hồi ký của Hoàng Văn Hoan và một số cuốn sách của Bùi Tín, xuất bản ở nước ngoài. Những cuốn sách này không được xuất bản ở Việt Nam.
… Nếu tác giả Nguyễn Thành Nam mà trích dẫn, sử dụng quan điểm của William J. Duiker trong “Ho Chi Minh: A Life” vào cuốn “Chuyện với Thanh” thì rất đáng khả nghi về tư tưởng và động cơ của ông khi viết “Chuyện với Thanh”!
______
Còn đây là bài phản biện bài viết của ông Cao Minh, từ tác giả Brian Wu: Đôi điều tôi muốn chia sẻ cùng vị hiệu đính gia Cao Minh bên Việt Nam
Một số hình ảnh tác giả Cao Minh kèm theo bài viết:
Ảnh chụp bìa sách “Chuyện với Thanh” của tác giả Nguyễn Thành Nam
Ảnh chụp bìa sách “Ho Chi Minh: A Life” của tác giả William J. Duiker
Không có nhận xét nào