Vũ Thùy Dương
04/06/2026
“...Khi lời thoại “I see you” trong Avatar trở thành lời tự vấn đầy trăn trở về thân phận và sự hiện diện, sự công nhận và phẩm giá cho người di cư trở nên đáng quý hơn bao giờ hết”.
Trong Avatar, “I see you” đã trở thành một nghi thức thừa nhận giá trị tự thân của mỗi cá thể trong dòng chảy sinh mệnh chung - (C): Tác giả thiết kế
Hơn một thập kỷ kể từ khi Avatar lần đầu ra mắt (năm 2009), câu thoại “I see you” vẫn mang nhiều tầng nghĩa. Thoạt nghe, đây dường như chỉ là một cách diễn đạt giản đơn của hành vi “nhìn thấy”. Tuy nhiên, trong thổ nhưỡng văn hóa của Pandora, câu nói này vượt khỏi chức năng giao tiếp thông thường để trở thành một nghi thức thừa nhận giá trị tự thân của mỗi cá thể trong dòng chảy sinh mệnh chung. Phóng chiếu lăng kính ấy sang những người di cư mắc kẹt nơi biên giới, sự thừa nhận này là một đặc quyền xa xỉ. Tại ranh giới giữa các quốc gia, việc ưu tiên định danh bằng hồ sơ thay vì phẩm giá đã thu hẹp biên độ tồn tại của con người trong cái nhìn của hệ thống quyền lực. Sự đối lập giữa lý tưởng Avatar và thực tại trần trụi của dòng người tha hương đã phơi bày một khoảng trống mênh mông trong nhận thức về quyền được hiện hữu.
“Tồn tại” dưới góc nhìn an ninh hóa
Tồn tại thực chất là gì? Trong triết học hiện sinh của Jean-Paul Sartre, ông cho rằng tồn tại trước hết là sự hiện hữu không có định hướng từ trước. Đặt trong hệ quy chiếu của Avatar, khái niệm này được mở rộng với một chiều kích mới mẻ. Có chăng, tại hành tinh Pandora, sự tồn tại có nghĩa là các cá nhân thiết lập mối quan hệ mật thiết với vạn vật xung quanh. Hơn cả lời chào xã giao, “I see you” là một tuyên ngôn bản thể luận (Ontology), đúng hơn là sự thâm nhập vào nội tâm của đối phương để xác lập một liên kết liên chủ thể.
Khi một người Na’vi thốt lên lời này, họ đang thực hiện một nghi thức giải phóng đối phương khỏi sự vô danh và đặt họ vào chỗ đứng xác định giữa vũ trụ bao la. Hay có thể nói, một cá thể sẽ trở nên mờ nhạt nếu không được nhận ra và đặt vào trong thế giới ý nghĩa của người khác. Điều này giải thích phần nào sự tồn tại trong Avatar chưa bao giờ (và cũng không nên) là cách hiểu theo nghĩa vật lý. Nếu tồn tại chỉ là có mặt thì sự hiện diện của Eywa - một thực thể không có hình hài cụ thể - sẽ khó lòng lý giải. Eywa hằng hữu vì bà xuất hiện ngay cả trong nhận thức, niềm tin, ký ức và trong cách người Na’vi tương tác với thế giới. Tồn tại, trong nghĩa này là sự khẳng định vị thế chủ thể trong tâm thức của vạn vật xung quanh.
Song, trên thực tế, “cái nhìn” trong Avatar vận hành như một thước đo phân định bản thể. Ở đây không có một quy chuẩn tuyệt đối nào được đặt ra cho một linh hồn, bởi mỗi cá thể là độc nhất. Thế nhưng, trong một cộng đồng gắn kết chặt chẽ như các bộ tộc trong Pandora, sự công nhận không dành cho tất cả, mà là một loại “vốn xã hội” dành riêng cho những ai thuộc về.
Triết lý này phản chiếu thực tại nghiệt ngã trong quan hệ quốc tế khi các quốc gia sở tại thường dùng ánh mắt như công cụ quyền lực để sàng lọc và phán xét người di cư. Nếu với cư dân bản địa, “I see you” là sự cộng hưởng bản thể, thì với kẻ ngoại lai, nó lại tạo ra một biên độ loại trừ (Margins of Exclusion) khá cực đoan. Nhân vật Spider chính là hiện thân của giới hạn này - một “kẻ tị nạn” mắc kẹt trong tình cảnh dở dang: không hoàn toàn bị loại bỏ nhưng cũng không thực sự được tiếp nhận. Sự khước từ ban đầu của Neytiri cho thấy một nhãn quan bị đóng khung bởi định kiến và dư chấn quá khứ. Đây cũng là minh chứng điển hình của Lý thuyết gắn nhãn (Labelling theory), khi những lo ngại về an ninh và quyền lực chính trị biến con người thành những “mối đe dọa trừu tượng” để thực hiện một quá trình An ninh hóa (Securitization) đầy chủ đích.
Bằng cách trình bày sự hiện diện của Spider như một mối rủi ro cho sự tồn vong của gia đình và bộ tộc, Neytiri đã hợp thức hóa hành động của mình như nhu cầu tự thân trong việc bảo tồn giá trị bản sắc cốt lõi trước những thế lực ngoại lai xâm lấn. Do tàn dư nỗi đau quá lớn từ Người Trời gây ra, “cái nhìn” giờ đây trật khỏi đường ray tự do kết nối để rồi trở thành một nhà tù tâm trí, khiến người ta chỉ thấy những bóng ma của kẻ xâm lược và mặc định quy chụp nó lên toàn bộ nhóm người ngoại lai. Sự đóng băng nhận thức này giống như tình cảnh của người di cư tại Đức hay các quốc gia Châu Âu khi họ bị gán nhãn “người ngoài” và cứ thế hoài nghi về sự công nhận có phần khiên cưỡng hay chỉ mang tính hình thức mà họ nhận được. Một khi quốc gia quê hương - điểm tựa căn tính ban đầu - tan vỡ, những người di cư rơi vào cuộc khủng hoảng hiện sinh không hồi kết. Và đó chính xác là trạng thái hoang mang tột độ vì những con người ấy chẳng tìm được cảm giác thuộc về.
Vậy câu hỏi đặt ra là liệu có nơi nào coi họ như một thành viên thật sự của cộng đồng, hay họ mãi chỉ là những thực thể luôn trong tình trạng có thể bị loại bỏ không thương tiếc?
Công tâm mà xét, việc các quốc gia Châu Âu đón nhận dòng người di cư vừa là sự gánh vác trách nhiệm pháp lý theo các định chế nhân quyền quốc tế (như Công ước Geneva 1951, Công ước Châu Âu về Nhân quyền (ECHR), Hiến chương về các quyền cơ bản của Liên hiệp Châu Âu), vừa là tính toán thực dụng nhằm giải quyết bài toán thiếu hụt lao động. Trước sức ép kinh tế và an sinh xã hội đè nặng, sự tiếp nhận này rõ ràng là một nỗ lực lớn lao. Mặc dù vậy, nếu chúng ta chỉ dừng lại ở việc thực thi các điều khoản pháp lý khô khan hay xem người nhập cư như công cụ kinh tế thuần túy mà thiếu đi sự thấu cảm thì việc mở cửa biên giới địa lý mới chỉ là nửa chặng đường. Một quốc gia đón nhận người nhập cư bằng tâm thế nghĩa vụ cưỡng ép thay vì soi rọi ở họ những giá trị nhân văn và tiềm năng đóng góp, vô hình trung, đã tạo ra một rào cản vô hình ngay trong lòng xã hội. Đó là lúc người di cư dù đã được công nhận về mặt giấy tờ và giá trị kinh tế nhưng vẫn là những thực thể không bao giờ được thấu hiểu trọn vẹn.
Vấn đề của hệ thống và “quyền được quên”
Chính trong bối cảnh ấy, biến chuyển nội tâm của Neytiri đối với Spider đã phá vỡ rào cản đó. Trở về sau cuộc giải cứu Jake Sully nghẹt thở ở căn cứ, Neytiri dừng chân bên dòng suối với gương mặt lấm lem vệt sơn đỏ ngụy trang tộc Tro - hiện thân của bạo lực và thù hận. Hành vi rửa mặt của cô lúc ấy tựa hồ nghi thức thanh tẩy nhận thức; để rồi khi sắc đỏ loang ra như máu cũng là lúc cô thả trôi định kiến cố hữu về Người Trời để cảm thấu Spider như một bản thể độc lập. Trong bối cảnh quốc tế, hành động này đại diện cho sự nới lỏng trong phạm vi nhận thức, trực tiếp thách thức tính cứng nhắc của quy tắc cộng đồng, từ đó mở ra một không gian cho các cá thể có phần khác biệt được phép hiện hữu và thuộc về.
Mặt khác, cần nhấn mạnh rằng sự công nhận này khác sự thỏa hiệp mù quáng ở chỗ nó là sự chọn lọc có ý thức dựa trên cơ chế quan sát và cảnh giác. Giống như cách người Na’vi phòng vệ trước cỗ máy kim loại tân tiến từ Người Trời, nỗi lo ngại về an ninh hay tội phạm xuyên biên giới của các quốc gia là hoàn toàn có cơ sở thực tế. Trớ trêu thay, ranh giới giữa “sự cảnh giác chính đáng” nhằm bảo tồn văn hóa và “nhà tù định kiến” vốn rất mong manh. Điều này dấy lên nỗi trăn trở về bản sắc Châu Âu (hay tính đồng nhất của một cộng đồng tưởng tượng) đang tự giới hạn mình khi dùng “I see you” như một ánh nhìn định kiến. Nỗi lo an ninh có thể là cái cớ để bảo vệ biên giới địa lý nhưng nó không nên được coi như cái cớ để ngăn cản sự thấu hiểu. Khi chứng kiến người nhập cư với tư cách vĩnh viễn là kẻ đứng ngoài, Châu Âu có thể củng cố sự cố kết nhất thời, nhưng cái giá phải trả là sự tự cô lập. Từ một biểu tượng của tinh thần tự do và cởi mở, ánh nhìn ấy trở nên khép kín, khiến một nền văn minh vốn đa dạng tự giam mình trong nỗi sợ bị tan rã và đánh mất tiềm năng phát triển. Suy cho cùng, một tâm thế tự do khỏi những xiềng xích của nỗi sợ là điều kiện tiên quyết để thực sự “thấy” và tiếp nhận một ai đó.
Dẫu vậy, khi đặt vấn đề này dưới lăng kính pháp lý và nhân quyền, một nghịch lý khác nảy sinh: Được “nhận diện” có luôn là một đặc quyền? Dưới góc độ pháp lý, người di cư nên có quyền được nhận diện chính đáng để được bảo hộ. Thế nhưng, liệu bản thân họ có xem “quyền được quên” như một cách để sống hòa hợp hơn không? Một khi sự công nhận là công cụ để kiểm soát, sự vô hình lập tức thoát khỏi mác bi kịch để trở thành chiến thuật sinh tồn chủ động. Tương tự cách tộc Metkayina ẩn mình vào làn nước trước hỏa lực và công nghệ của Người Trời, người di cư chọn có mặt trong những kẽ hở xã hội để thực thi cái mà Papadopoulos và cộng sự gọi là Chính trị học vô hình (Imperceptible Politics) trong tác phẩm Escape Routes: Control and Subversion in the 21st Century.
Khác với logic phản kháng quyết liệt ở nguyên tác, sự vô danh ngày nay mang theo một mưu cầu nhân văn hơn: quyền được quên để sống hòa hợp. Mượn mô hình nhà tù toàn cảnh Panopticon của Michel Foucault, kẻ bị giam luôn bị theo dõi dưới ống kính muôn góc cạnh của luật pháp nhưng chưa được thấu hiểu thì việc hòa tan vào cộng đồng chính là hành động phá hủy nhà tù đó. Đáng chú ý, cơ chế này còn bủa vây cả những người di cư bất khả kháng qua các thủ tục hành chính kéo dài, thứ trực tiếp rút gọn nhân dạng thành bộ hồ sơ pháp lý chờ phê duyệt. Sự vô danh soi chiếu ở góc độ nào đó chính là tấm khiên cuối cùng để bảo vệ phẩm giá và quyền được sống bình yên của một người. Không chỉ vậy, sự vô danh dẫu là cứu cánh khỏi tình thế bị gán nhãn nhưng cũng đồng thời đẩy họ vào nỗi cô đơn cùng cực. Vì thế, cần có một sự thay đổi trong “cái nhìn” từ nhân danh quyền lực sang thấu cảm hiện sinh.
Lời hồi đáp cho một nhân vị vẹn tròn
Đối diện với một châu Âu đang loay hoay trong bức tường ngột ngạt của định kiến, sức mạnh của giác quan nổi lên như chìa khóa then chốt để phá vỡ thế trận đó. Đến với Avatar: The Way of Water, câu thoại kinh điển này được đẩy vào không gian phi ngôn ngữ. Mối liên kết giữa Lo'ak và Payakan không còn đi qua bộ lọc của ngôn ngữ hay các cấu trúc định danh vì nó là một dạng thị giác bản năng. Hay nói như thể Lo'ak chẳng xem Payakan như loài thủy quái hung tợn và Payakan cũng chẳng xem Lo'ak như đứa trẻ con. Trong khoảnh khắc ngắn ngủi khi hai ánh mắt chạm nhau, mọi rào cản về loài bị xóa nhòa, nhường chỗ cho một sự thấu cảm nguyên sơ. Payaka không cần phát ngôn để “thấy” con người vì chính sự phơi bày bản thể trần trụi qua ánh mắt đã xác lập vị thế tồn tại của đối phương. Giữa đại dương mênh mông, “I see you” là sự giao thoa giữa hai tâm hồn cô độc, hay là chiếc phao cứu rỗi nhau trước khi cùng lịm đi bởi sự loại trừ khắt khe của cộng đồng.
Cuộc đối thoại bằng trực giác đó gợi mở một góc nhìn sâu sắc về Cảm quan di cư (Sensory Migration) trong đời thực. Bởi lẽ, di cư đúng hơn là cuộc dấn thân vào những va đập của thế giới như vị mặn của biển hay cái bỏng rát của sa mạc, thay vì chỉ là sự dịch chuyển không gian sống. Chính từ va chạm ấy, những người con xa xứ chủ động tạo ra/tìm kiếm những gì là thân thuộc ngay trên mảnh đất mới để tự “chữa lành” nỗi cô độc như mùi thức ăn quê hương tỏa ra từ một góc phố, hay giai điệu kinh cầu vang lên giữa lòng đô thị.
Rồi đây, cư dân bản địa có thể trở thành đối tượng tiếp nhận các giá trị văn hóa mới; khi đó, họ đã thực hiện một cú “I see you” thuần khiết nhất. Chỉ khi dám ngửi, dám nghe và cảm nhận văn hóa của người nhập cư, họ mới có thể chạm tới một con người. Sức mạnh hóa giải của cảm quan di cư là ở khả năng tái định vị người nhập cư từ một “mối đe dọa trừu tượng” hiện diện như một thực thể sống động. Nó gợi mở nhu cầu được nhìn thấy như một bản năng nguyên sơ có trước cả ngôn ngữ. Trước khi con người biết nhận diện nhau dựa trên màu cờ hay sắc áo, họ đã cần được nhìn nhận như những tồn-tại-có-ý-nghĩa.
Chính sự nhận biết thuần túy này đã triệt tiêu vai trò của công cụ quyền lực nhằm nhường chỗ cho không gian bao dung để mọi cá thể - dù khác về chủng tộc hay căn tính - đều có thể chung sống. Từ đó, nó xác lập nên một trật tự cân bằng mà ở đó cả hai đều có thể cùng tồn tại, và sự tồn tại của đối phương không loại trừ khả năng sống sót của kẻ khác. Xét dưới lăng kính nhân văn, đây không phải cuộc xâm lược bản sắc mà những người cực đoan thường lo ngại và rêu rao, mà là một sự thẩm thấu căn tính trong một hệ sinh thái mở cho phép mọi sự sống được tái sinh thông qua sự thấu cảm. Và rằng ở “chiều không gian thứ ba” (chỗ giao thoa giữa cái cũ chưa mất đi và cái mới đã xuất hiện), bản sắc thoát ly tính tĩnh tại để từng bước hòa vào dòng chảy chung đầy sức mời gọi.
Có một sự trùng hợp thú vị về ngôn ngữ khi “I see you” lúc phát âm nhanh lại gần giống với ICU (Intensive Care Unit) - nơi sự sống được duy trì nhờ việc luôn có ai đó dõi theo. Sự đồng âm ngẫu nhiên ấy, một cách kỳ lạ, lại lột tả trọn vẹn một ý niệm sâu sắc trên hành trình tha hương. Đối với những cá thể đang quanh quẩn ngoài rìa xã hội thì được nhìn thấy cũng có nghĩa là được giữ lại ở thế giới chứ không chỉ đơn thuần là được nhận ra giữa hằng hà sa số cá thể. Trong khi những định chế khắt khe từng đẩy con người đến bờ vực tan biến, chính lòng trắc ẩn lại là phương thuốc chữa lành giúp họ vững bước bất chấp bao nhãn dán chủng tộc, quốc tịch, màu da… Suy cho cùng, trong vũ trụ đầy rẫy va chạm và phức tạp, con người chưa bao giờ thôi khao khát một ai đó nói hoặc đơn giản là thể hiện rằng: “I see you”.
Vũ Thùy Dương hiện là sinh viên năm Nhất ngành Quan hệ Quốc tế tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh. Mối quan tâm hiện tại của Thùy Dương là các vấn đề chính trị - xã hội, triết học và nghệ thuật. Độc giả có thể liên hệ với Thùy Dương qua địa chỉ email: nguynthao5806lv@gmail.com
Không có nhận xét nào