04/6/2026
Bản Anh Ngữ đọc tại đây:
1. Tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội
Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Việt Nam trong quý 1 năm 2026 ước tính tăng 7,83% so với cùng kỳ năm ngoái (con số tương ứng trong quý 1 năm 2025 là 7,07%). Cụ thể, khu vực nông, lâm, ngư nghiệp tăng trưởng 3,58%, đóng góp 5,60% vào tổng giá trị tăng thêm của nền kinh tế; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 8,92%, đóng góp 44,08%; khu vực dịch vụ tăng 8,18%, đóng góp 50,32%.
Ngành nông, lâm, ngư nghiệp duy trì tăng trưởng ổn định. Năng suất cây lâu năm thuận lợi, chăn nuôi lợn tiếp tục phục hồi, sản lượng nuôi trồng thủy sản tăng mạnh nhờ ứng dụng khoa học công nghệ tiên tiến. Trong quý 1 năm 2026, giá trị gia tăng của các hoạt động nông nghiệp tăng 3,36% so với cùng kỳ năm ngoái, đóng góp 4,01% vào tổng giá trị gia tăng của toàn nền kinh tế. Hoạt động lâm nghiệp tăng 3,22%, đóng góp 0,21%, trong khi ngành thủy sản tăng 4,51%, đóng góp 1,38%.
Khu vực công nghiệp và xây dựng, sản xuất công nghiệp duy trì đà tăng trưởng dương, trong khi hoạt động xây dựng khởi sắc nhờ giải ngân đầu tư công được đẩy mạnh. Trong quý 1 năm 2026, giá trị gia tăng của các hoạt động công nghiệp tăng 9,01% so với cùng kỳ năm ngoái (so với 7,63% trong quý 1 năm 2025), đóng góp 38,34% vào tổng giá trị gia tăng của nền kinh tế. Sản xuất vẫn là động lực chính của nền kinh tế, tăng trưởng 9,73% (so với 9,36% trong quý 1 năm 2025) và đóng góp 32,52%. Ngoài ra, cung cấp điện tăng 6,54%, đóng góp 3,78%; ngành cấp thoát nước, quản lý và xử lý rác thải tăng 8,58%, đóng góp 0,63%; ngành khai khoáng tăng 5,42%, đóng góp 1,41%. Xây dựng tăng 8,36%, đóng góp 5,74%.
Lĩnh vực dịch vụ, nhu cầu tiêu dùng mạnh mẽ trong dịp Tết Nguyên đán và sự gia tăng đáng kể của lượng khách quốc tế đến Việt Nam đã thúc đẩy sự tăng trưởng của lĩnh vực thương mại và dịch vụ. Đóng góp của số lượng hoạt động dịch vụ thị trường vào tăng trưởng tổng giá trị gia tăng của nền kinh tế trong quý 1 năm 2026 như sau: thương mại bán buôn và bán lẻ tăng 9,62%, đóng góp 14,52%; vận chuyển và lưu kho tăng 8,95% so với cùng kỳ năm ngoái, đóng góp 6,95%; hoạt động tài chính, ngân hàng, bảo hiểm tăng 7,70%, đóng góp 5,09%; ngành thông tin và truyền thông tăng 7,65%, đóng góp 4,21%; hoạt động dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 7,49%, đóng góp 2,89%.
Về cơ cấu kinh tế quý 1/2026, khu vực nông, lâm, ngư nghiệp; lĩnh vực công nghiệp và xây dựng; khu vực dịch vụ; và thuế trừ trợ cấp sản phẩm lần lượt chiếm 10,89%, 37,15%, 43,45% và 8,51%
Về chi tiêu GDP trong quý 1 năm 2026, tiêu dùng cuối cùng, hình thành vốn, xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ và nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ ghi nhận mức tăng hàng hóa và dịch vụ lần lượt là 8,45%, 7,18%, 19,85% và 24,27% so với cùng kỳ năm ngoái.
2. Nông, lâm nghiệp và ngư nghiệp
a) Nông nghiệp
– Lúa xuân: Tính đến ngày 20/3/2026, diện tích gieo cấy cả nước đạt 2.915,2 nghìn ha lúa xuân, giảm 37,3 nghìn ha so với cùng kỳ năm ngoái. Trong đó, vùng Đồng bằng sông Cửu Long đạt 1.240,7 nghìn ha, giảm 24,8 nghìn ha; diện tích thu hoạch đạt 466,8 nghìn ha, chiếm 37,6% diện tích gieo trồng và giảm 28,4 nghìn ha; năng suất ước đạt 73,5 tạ/ha, tăng 0,7 tạ/ha; sản lượng ước đạt 9,1 triệu tấn, giảm 99,3 nghìn tấn.
– Lúa đông: Kết thúc giai đoạn 2025-2026, vùng Đồng bằng sông Cửu Long gieo cấy được 182,3 nghìn ha, giảm 9,4 nghìn ha so với cùng kỳ năm ngoái. Năng suất ước đạt 53,5 tạ/ha, tăng 0,8 tạ/ha. Sản lượng ước đạt 975,3 nghìn tấn, giảm 34,5 nghìn tấn.
– Vụ năm: Tính đến ngày 20/3/2026, tiến độ gieo cấy một số vụ xuân như đậu tương, rau quả tăng so với cùng kỳ năm ngoái; diện tích trồng ngô, đậu phộng giảm chủ yếu do hiệu quả kinh tế thấp.
– Cây lâu năm: Sản lượng cây lâu năm quý I/2026 tăng trưởng dương, giá nông sản chính duy trì ở mức cao, khuyến khích người dân mở rộng quy mô canh tác và đầu tư chăm sóc cây trồng.
– Chăn nuôi: Chăn nuôi trâu bò quý I/2026 tiếp tục gặp khó khăn do diện tích đất chăn nuôi thu hẹp, hiệu quả thấp; chăn nuôi lợn tiếp tục phục hồi và ổn định. Tổng đàn lợn cả nước tính đến hết tháng 3/2026 tăng 2,9% so với cùng kỳ năm ngoái; tổng số gia cầm tăng 3,3%; tổng số gia súc giảm 1,9%; và số lượng trâu giảm 4,8%.
b) Lâm nghiệp
Tháng 3/2026, diện tích rừng trồng mới tập trung cả nước ước tính đạt 23,9 nghìn ha, giảm 1,1% so với cùng kỳ năm ngoái; số cây rừng trồng phân tán đạt 8,9 triệu cây, tăng 2,9%; sản lượng gỗ khai thác đạt 1.684,2 nghìn m3, tăng 4,1%; diện tích rừng bị thiệt hại tháng 3/2026 là 9,4 ha, giảm 86,4% so với cùng kỳ năm ngoái. Tính chung quý I/2026, diện tích rừng trồng mới tập trung cả nước ước đạt 45,6 nghìn ha, tăng trưởng 1,5% so với cùng kỳ năm ngoái; số cây rừng trồng phân tán ước đạt 19,0 triệu cây, giảm 1,5%; sản lượng gỗ khai thác đạt 4.337,8 nghìn m3, tăng 2,6%; rừng bị thiệt hại là 57,8 ha, giảm 73,2%.
c) Câu cá
Sản lượng khai thác thủy sản và nuôi trồng thủy sản tháng 3/2026 đạt 780,7 nghìn tấn, tăng 2,8% so với cùng kỳ năm ngoái. Trong đó, sản lượng nuôi trồng thủy sản ước đạt 495,4 nghìn tấn, tăng 6,1%; Sản lượng thủy sản khai thác ước đạt 285,3 nghìn tấn, giảm 2,7%. Tính chung quý I/2026, sản lượng khai thác thủy sản và nuôi trồng thủy sản ước đạt 2.184,0 nghìn tấn, tăng trưởng 3,2% so với cùng kỳ năm ngoái, trong đó, sản lượng nuôi trồng thủy sản ước đạt 1.296,8 nghìn tấn, tăng 5,4%, sản lượng thủy sản khai thác ước đạt 887,2 nghìn tấn, tăng 0,2%.
3. Sản xuất công nghiệp
– Trong quý 1/2026, Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) ước tính tăng 9,0% so với cùng kỳ năm ngoái (con số tương ứng năm 2024 là 8,3%). Cụ thể, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng trưởng 9,7%, đóng góp 7,6 điểm phần trăm vào mức tăng chung; ngành cấp thoát nước, quản lý và xử lý rác thải tăng 7,8%, đóng góp 0,1 điểm phần trăm; cung cấp điện tăng 6,3%, đóng góp 0,6 điểm phần trăm; ngành khai khoáng tăng 4,7%, đóng góp 0,7 điểm phần trăm.
– IIP trong quý I/2026 đã tăng so với cùng kỳ năm ngoái ở tất cả 34 tỉnh, thành phố.
– Trong quý 1 năm 2026, Chỉ số xuất xưởng công nghiệp của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ghi nhận mức tăng 9,5% so với cùng kỳ năm 2025 (cùng kỳ năm 2025 tăng 5,4%).
– Chỉ số tồn kho công nghiệp ngành chế biến, chế tạo tính đến ngày 31/3/2026 tăng 8,5% so với cùng kỳ năm ngoái và tăng 12,9% so với cùng kỳ năm ngoái. Hệ số vòng quay hàng tồn kho (ITR) bình quân cho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong quý I/2026 là 84,9% (cùng kỳ năm ngoái có con số trung bình là 90,0%).
– Số lượng lao động trong các doanh nghiệp công nghiệp tính đến ngày 1/3/2026 tăng trưởng 1,1% so với tháng trước và tăng 2,4% so với cùng kỳ năm ngoái.
4. Hoạt động của doanh nghiệp
a) Tình hình đăng ký doanh nghiệp
– Trong tháng 3, cả nước có gần 22,0 nghìn doanh nghiệp thành lập mới, tăng 94,1% so với tháng trước và tăng 40,5% so với cùng kỳ năm ngoái; trên 7,9 nghìn doanh nghiệp hoạt động trở lại, tăng 28,3% so với tháng trước và giảm 13,3% so với cùng kỳ năm ngoái; 5.059 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động có thời hạn, tăng 18,8% so với tháng trước và tăng 15,2% so với cùng kỳ năm ngoái; 6.304 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể, tăng 80,5% so với tháng trước và tăng 28,7% so với cùng kỳ năm ngoái, 3.818 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, tăng 16,0% so với tháng trước và tăng 78,7% so với cùng kỳ năm ngoái.
– Tính chung quý 1/2026, cả nước có 96,0 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập mới và hoạt động trở lại, tăng 31,7% so với cùng kỳ năm ngoái; bình quân mỗi tháng có 32,0 nghìn doanh nghiệp thành lập mới và hoạt động trở lại. Số doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường là 91,8 nghìn doanh nghiệp, tăng 16,5% so với cùng kỳ năm ngoái; bình quân mỗi tháng có 30,6 nghìn doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường. Tổng vốn đăng ký bổ sung cho nền kinh tế trong quý I/2026 đạt hơn 1,3 triệu tỷ đồng, giảm 5,1% so với cùng kỳ năm ngoái.
b) Xu hướng kinh doanh của doanh nghiệp
Kết quả điều tra xu hướng kinh doanh của các doanh nghiệp trong lĩnh vực chế biến, chế tạo quý I/2026 cho thấy: 23,8% số doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh tốt hơn so với quý IV/2025; 46,1% số doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh ổn định, 30,1% số doanh nghiệp gặp khó khăn. Dự kiến trong quý II/2026, 40,8% số doanh nghiệp cho rằng xu hướng sẽ tốt hơn so với quý I/2026; 37,5% số doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh sẽ ổn định, 21,7% số doanh nghiệp dự báo sẽ khó khăn hơn.
5. Hoạt động dịch vụ
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ theo giá hiện hành tháng 3/2026 ước đạt 638,6 nghìn tỷ đồng, tăng 12,1% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung quý I/2026, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo giá hiện hành ước đạt 1.902,8 nghìn tỷ đồng, tăng 10,9% so với cùng kỳ năm trước, nếu loại trừ yếu tố tăng giá là 7,0%.
Vận chuyển hành khách trong tháng 3/2026 ước đạt 539,3 triệu lượt hành khách, giảm 2,2% so với tháng trước và vận chuyển hành khách (km) đạt 26,8 tỷ lượt khách.km, giảm 5,7%. Tính chung quý I/2026, vận chuyển hành khách ước đạt 1.649,8 triệu lượt khách, tăng 18,3% so với cùng kỳ năm ngoái và vận chuyển hành khách (km) đạt 84,5 tỷ lượt khách.km, tăng 11,3%.
Hàng hóa vận chuyển trong tháng 3/2026 ước đạt 272,5 triệu tấn, tăng 2,9% so với tháng trước và hàng hóa vận chuyển (tấn-km) đạt 54,8 tỷ tấn-km, tăng 3,5% so với tháng trước. Tính chung quý I/2026, hàng hóa vận chuyển ước đạt 810,9 triệu tấn, tăng 14,5% so với cùng kỳ năm ngoái và vận chuyển hàng hóa (tấn-km) đạt 157,6 tỷ tấn-km, tăng 12,0% so với cùng kỳ năm ngoái.
Kim ngạch viễn thông theo giá hiện hành quý I/2026 ước đạt 102,8 nghìn tỷ đồng, tăng 6,3% so với cùng kỳ năm ngoái (không bao gồm yếu tố giá, tăng 6,6%).
Khách quốc tế đến Việt Nam trong tháng 3/2026 đạt gần 2,1 triệu lượt, tăng 1,3% so với cùng kỳ năm ngoái. Nhìn chung, trong quý I/2026, khách quốc tế đến Việt Nam đạt 6,76 triệu lượt, tăng 12,4% so với cùng kỳ năm ngoái, đánh dấu mức quý I cao nhất được ghi nhận. Số lượng công dân Việt Nam xuất cảnh trong quý I/2026 đạt 1,2 triệu lượt, giảm 55% so với cùng kỳ năm ngoái.
6. Hoạt động ngân hàng, bảo hiểm và thị trường chứng khoán
– Tính đến ngày 24/3/2026, tổng thanh khoản tăng 1,04% so với cuối năm 2025. Tiền gửi của các tổ chức tín dụng tăng 0,44%, tăng trưởng tín dụng của nền kinh tế đạt 2,15%.
– Tổng doanh thu phí bảo hiểm quý 1/2026 ước đạt 57.058 tỷ đồng, tăng 2,5% so với cùng kỳ năm ngoái, cụ thể: Doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ ước đạt 33.073 tỷ đồng, giảm 2,5%, trong khi doanh thu phí bảo hiểm phi nhân thọ ước đạt 23.985 tỷ đồng, tăng 10,2%.
– Thị trường chứng khoán chứng kiến sự mở rộng đáng kể về khối lượng giao dịch, tạo điều kiện huy động vốn cho doanh nghiệp. Trong quý 1/2026, giá trị giao dịch bình quân trên thị trường chứng khoán đạt 35.043 tỷ đồng/phiên, tăng gần 19,8% so với con số bình quân năm 2025. Trên thị trường trái phiếu, giá trị giao dịch bình quân quý 1/2026 đạt 21.452 tỷ đồng/phiên (tăng 2,6%). Trên thị trường phái sinh, giá trị giao dịch bình quân đạt gần 276,9 nghìn hợp đồng/phiên, (tăng 14,2%).
7. Đầu tư phát triển
– Tổng vốn đầu tư giải ngân quý I/2026 theo giá hiện hành ước đạt 744,7 nghìn tỷ đồng, tăng 10,7% so với cùng kỳ năm trước.
– Tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Việt Nam tính đến ngày 31/3/2026, bao gồm: Vốn đăng ký cấp mới, vốn đăng ký điều chỉnh, vốn góp, cổ phần mua của nhà đầu tư nước ngoài đạt 15,20 tỷ USD, tăng 42,9% so với cùng kỳ năm ngoái.
– Vốn FDI giải ngân vào Việt Nam trong quý 1/2026 ước đạt 5,41 tỷ USD, tăng 9,1% so với cùng kỳ năm ngoái.
– Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Việt Nam trong ba tháng năm 2026 chứng kiến 48 dự án được cấp mới giấy chứng nhận đầu tư với tổng vốn 597,2 triệu USD, gấp 2,6 lần cùng kỳ năm trước; 4 lượt dự án điều chỉnh vốn với số vốn tăng thêm 22,8 triệu USD, gấp 4,3 lần so với cùng kỳ năm trước. Tính chung, tổng vốn FDI ra nước ngoài (vốn cấp mới và điều chỉnh) của Việt Nam đạt 619,9 triệu USD, gấp 2,6 lần so với cùng kỳ năm trước.
8. Thu, chi ngân sách nhà nước
Tổng thu ngân sách nhà nước tháng 3/2026 ước đạt 219,3 nghìn tỷ đồng. Tổng thu ngân sách nhà nước lũy kế quý 1/2026 đạt 829,4 nghìn tỷ đồng, đạt 32,8% dự toán năm (+11,4% so với cùng kỳ).
Tổng chi ngân sách nhà nước tháng 3/2026 ước đạt 207,5 nghìn tỷ đồng. Chi lũy kế quý 1/2026 ước đạt 530,1 nghìn tỷ đồng, đạt 16,8% dự toán năm (+23,1% so với cùng kỳ).
9. Xuất nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ
a) Xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa
Trong tháng 3/2026, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa đạt 93,55 tỷ USD, tăng 39,2% so với tháng trước và tăng 23,9% so với cùng kỳ năm ngoái. Tính chung quý 1/2026, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa đạt 249,50 tỷ USD, tăng 23,0% so với cùng kỳ năm trước, trong đó xuất khẩu tăng 19,1%; và nhập khẩu tăng 27,0%. Cán cân thương mại hàng hóa ghi nhận nhập siêu 3,64 tỷ USD.
– Xuất khẩu hàng hóa: Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tháng 3/2026 đạt 46,44 tỷ USD, tăng 40,3% so với tháng trước và tăng 20,1% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung quý 1/2026, kim ngạch xuất khẩu đạt 122,93 tỷ USD, tăng 19,1% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 24,47 tỷ USD, giảm 16,6%, chiếm 19,9% tổng kim ngạch xuất khẩu; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 98,46 tỷ USD, tăng 33,3% và chiếm 80,1%.
+ Về cơ cấu hàng hóa xuất khẩu quý 1/2026, nhóm hàng sản xuất đạt 110,52 tỷ USD, chiếm 89,9%.
– Nhập khẩu hàng hóa: Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng 3/2026 đạt 47,11 tỷ USD, tăng 38,2% so với tháng trước và tăng 27,8% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung, trong quý 1/2026, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa đạt 126,57 tỷ USD, tăng 27,0% so với cùng kỳ năm ngoái. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 35,2 tỷ USD, giảm 4,3%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 91,37 tỷ USD, tăng 45,3%.
+ Về cơ cấu hàng hóa nhập khẩu quý 1/2026, nhóm hàng vốn đạt 118,84 tỷ USD, chiếm 93,9%.
– Về thị trường xuất nhập khẩu hàng hóa quý 1/2026, Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch đạt 39,0 tỷ USD. Trung Quốc vẫn là thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch đạt 50,1 tỷ USD.
– Theo số liệu sơ bộ, cán cân thương mại hàng hóa tháng 3/2026 ghi nhận nhập siêu 0,67 tỷ USD. Nhìn chung, trong quý 1 năm 2026, cán cân thương mại hàng hóa ghi nhận thâm hụt 3,64 tỷ USD (thặng dư 3,57 tỷ USD cùng kỳ năm trước). Trong đó, khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 10,73 tỷ USD; trong khi khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) ghi nhận xuất siêu 7,09 tỷ USD.
b) Xuất khẩu, nhập khẩu dịch vụ
Trong quý 1/2026, kim ngạch xuất khẩu dịch vụ ước đạt 9,1 tỷ USD, tăng 19,2% so với cùng kỳ năm ngoái. Trong đó, dịch vụ du lịch đạt 4,9 tỷ USD (chiếm 53,8% tổng doanh thu), tăng 16,7%; và dịch vụ vận tải đạt 2,65 tỷ USD (chiếm 29,1%), tăng 29,3%.
Kim ngạch nhập khẩu dịch vụ trong quý 1/2026 ước đạt 10,78 tỷ USD (trong đó có 4,0 tỷ USD phí dịch vụ vận tải và bảo hiểm hàng hóa nhập khẩu), tăng 16,9% so với cùng kỳ năm ngoái. Trong đó, dịch vụ vận tải đạt 4,75 tỷ USD (chiếm 44,1% tổng doanh thu), tăng 27,2%; và dịch vụ du lịch đạt 3,8 tỷ USD (chiếm 35,3%), tăng 11,8%.
Nhập siêu dịch vụ trong quý 1 năm 2026 là 1,68 tỷ USD.
10. Chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá vàng và đô la Mỹ
a) Chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá vàng và đô la Mỹ
– Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 3/2026 tăng 1,23% so với tháng trước; tăng trưởng lần lượt 2,44% và 4,65% so với tháng 12/2025 và cùng kỳ năm trước. Đây là mức tăng CPI hàng năm cao nhất trong tháng Ba trong năm năm. Nhìn chung, CPI trong quý 1 năm 2026 tăng 3,51% so với cùng kỳ năm ngoái; lạm phát cơ bản tăng 3,63%.
– Chỉ số giá vàng tháng 3/2026 tăng 1,54% so với tháng trước; tỷ lệ hàng năm là 82,77%; tăng 18,81% so với tháng 12/2025; chỉ số giá vàng trung bình trong quý 1 năm 2026 tăng 82,70%.
– Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 3/2026 tăng 0,72% so với tháng trước; tăng trưởng hàng năm là 2,25%; giảm 0,47% so với tháng 12/2025; chỉ số giá đô la Mỹ trung bình trong quý 1 năm 2026 tăng 2,58%.
b) Chỉ số giá sản xuất
Chỉ số giá sản xuất đầu vào trong quý 1 năm 2026 có mức tăng so với cùng kỳ năm ngoái. Ngược lại, chỉ số giá xuất nhập khẩu hàng hóa trong quý 1 năm 2026 có mức so với cùng kỳ năm ngoái. Trong quý 1/2026, chỉ số giá sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 5,39% so với quý trước và tăng 4,5% so với cùng kỳ năm ngoái. Chỉ số giá sản xuất của ngành có mức tăng 0,68% so với quý trước và tăng 2,95% so với cùng kỳ năm ngoái. Chỉ số giá sản xuất của dịch vụ đã tăng 2,08% so với quý trước và tăng 4,07% so với cùng kỳ năm ngoái. Chỉ số giá sản xuất đầu vào trong quý 1 năm 2026 đã tăng 1,44% so với quý trước và tăng 4,76% so với cùng kỳ năm ngoái. Chỉ số giá xuất khẩu hàng hóa ghi nhận mức tăng 0,31% so với quý trước và giảm 0,18% so với cùng kỳ năm ngoái. Chỉ số giá nhập khẩu hàng hóa tăng 0,63% so với quý trước và giảm 1,42% so với cùng kỳ năm ngoái.
11. Các vấn đề xã hội
a) Lao động và việc làm
Hiệu suất lao động và việc làm trong quý 1 năm 2026 vẫn ổn định. Quy mô lực lượng lao động và số lượng người có việc làm giảm so với quý trước nhưng tăng so với cùng kỳ năm ngoái, phù hợp với xu hướng điển hình của quý I. Thu nhập trung bình hàng tháng của người lao động tăng cả theo quý và hàng năm, góp phần cải thiện mức sống và chất lượng việc làm. Tỷ lệ thất nghiệp và tỷ lệ thiếu việc làm vẫn được kiểm soát; tỷ lệ việc làm phi chính thức giảm so với cùng kỳ năm trước.
Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên trong quý 1 năm 2026 đạt 53,6 triệu người, giảm theo quý là 232,9 nghìn người và tăng 687,8 nghìn người so với cùng kỳ năm ngoái.
Tỷ lệ lao động qua đào tạo có văn bằng/chứng chỉ trong quý 1/2026 là 29,6%, tăng 0,1 điểm phần trăm so với quý trước và tăng 0,8 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm ngoái.
Số người có việc làm trong quý 1/2026 ước tính đạt 52,5 triệu người, giảm 233,4 nghìn người, tương đương giảm 0,4% so với quý trước và tăng 656,8 nghìn người, tương ứng tăng 1,3% so với cùng kỳ năm ngoái.
Tỷ lệ thiếu việc làm trong độ tuổi lao động trong quý 1 năm 2026 là 1,68% (1,27% ở khu vực thành thị và 1,95% ở khu vực nông thôn); tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động là 2,21% (2,46% ở khu vực thành thị và 2,04% ở khu vực nông thôn); và tỷ lệ thất nghiệp thanh niên (15-24 tuổi) trong quý 1 năm 2026 là 8,86%.
Thu nhập bình quân tháng của người lao động trong quý 1/2026 là 9,0 triệu đồng/tháng, tăng 329,0 nghìn đồng so với quý 4/2025 và tăng 706 nghìn đồng so với cùng kỳ năm 2025.
b) Điều kiện sống và an sinh xã hội của nhân dân
Theo kết quả điều tra mức sống hộ gia đình, tỷ lệ hộ gia đình báo cáo thu nhập tăng trong quý 1/2026 so với cùng kỳ năm 2025 là 31,8%.
Công tác an sinh xã hội tiếp tục nhận được sự quan tâm và triển khai nhanh chóng, thiết thực từ Trung ương đến địa phương. Theo báo cáo tổng kết từ các địa phương, từ đầu năm (đến ngày 25/3/2026), tổng mức hỗ trợ an sinh xã hội cho tất cả các nhóm đạt gần 25,0 nghìn tỷ đồng, tăng trên 7,0 nghìn tỷ đồng so với quý 1/2025. Chi tiết cho các nhóm cụ thể như sau: hỗ trợ cho các tín đồ quốc gia và thân nhân liệt sĩ đạt gần 12,7 nghìn tỷ đồng; hỗ trợ đối tượng bảo trợ xã hội theo Nghị định số 20/2021/NĐ-CP là gần 10,4 nghìn tỷ đồng; hỗ trợ hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có hoàn cảnh khó khăn, hộ chính sách xã hội đạt gần 1,6 nghìn tỷ đồng; hỗ trợ đột biến, bất thường tại các địa phương lên tới gần 366,2 tỷ đồng. Hơn 32,6 triệu thẻ BHYT/thẻ khám chữa bệnh miễn phí đã được trao cho người thụ hưởng.
Về hỗ trợ gạo, từ đầu năm đến ngày 27/3/2026, Chính phủ đã hỗ trợ 15,3 nghìn tấn gạo cho nhân dân, trong đó: gần 9,1 nghìn tấn cứu đói Tết Nguyên đán cho 604,6 nghìn lượt người; 5,6 nghìn tấn cứu đói trước thu hoạch cho 372,9 nghìn người; trên 604 tấn phục vụ khắc phục hậu quả thiên tai, lũ lụt cho 40,3 nghìn người.
Về Chiến dịch "Quang Trung", sau 1,5 tháng triển khai, chiến dịch đã hoàn thành trước hai tuần so với kế hoạch, 34.759 ngôi nhà hư hỏng được sửa chữa hoàn toàn, cho phép người dân trở về trước ngày 31/12/2025, toàn bộ 1.597 ngôi nhà bị phá hủy, sập, cuốn trôi đều được xây dựng lại và hoàn thành trước ngày 15/01/2026, cung cấp cho người dân những ngôi nhà kiên cố để đón Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 14 và đón xuân mới[4].
Ngày 19/3/2026, đồng thời Lễ khởi công trường nội trú đa cấp đã được tổ chức tại 121 xã biên giới nội địa thuộc 17 tỉnh, thành phố trong cả nước. Cùng với 108 trường được khởi công xây dựng vào năm 2025, nâng tổng số lên 229 trường nội trú đa cấp, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển giáo dục toàn diện của học sinh tại 229 xã biên giới nội địa[5].
c) Dịch bệnh, vệ sinh an toàn thực phẩm, ngộ độc thực phẩm
Theo báo cáo của Bộ Y tế, trong quý 1/2026, có 38,6 nghìn ca mắc sốt xuất huyết (04 ca tử vong); 22,6 nghìn trường hợp mắc bệnh tay chân miệng (04 trường hợp tử vong); 2.430 trường hợp sốt phát ban nghi ngờ mắc sởi; 81 trường hợp viêm não virus; 21 trường hợp viêm màng não do não mô cầu; 10 trường hợp tử vong do bệnh dại trên cả nước.
Về vệ sinh an toàn thực phẩm, cơ quan chức năng đã phát hiện và xử lý các vụ việc quy mô lớn liên quan đến việc thu gom, vận chuyển, giết mổ, tiêu thụ lợn bệnh tại một số địa phương. Các đối tượng vi phạm đã làm sai lệch kết quả kiểm soát giết mổ và tạo điều kiện cho động vật, sản phẩm động vật không đáp ứng yêu cầu vệ sinh thú y, an toàn thực phẩm đưa vào thị trường.
Về ngộ độc thực phẩm, trong quý 1/2026 (từ ngày 19/12/2025 đến ngày 17/3/2026), cả nước đã xảy ra 20 vụ với 500 người bị ngộ độc (03 người tử vong).
d) Văn hóa, thể thao
Trong quý 1 năm 2026, một loạt các hoạt động văn hóa, lễ hội đã được tổ chức trên toàn quốc, tập trung vào các lễ hội dân gian truyền thống và đặc thù vùng miền, bên cạnh các sự kiện văn hóa nổi bật như Lễ hội Phở, Tuần lễ Áo dài, qua đó góp phần bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa.
Các hoạt động thể thao quần chúng sôi động và rộng khắp, với sự tham gia nhiệt tình của công chúng, gắn liền với lễ kỷ niệm Ngày Thể thao Việt Nam và các hoạt động như Olympic vì sức khỏe cộng đồng.
Thể thao tinh hoa tiếp tục được phát huy thông qua nhiều cuộc thi trong nước và quốc tế, chuẩn bị cho các sự kiện lớn của ngành, đồng thời góp phần lan tỏa tinh thần thể thao và nâng cao vị thế của thể thao Việt Nam.
Về kết quả thi đấu quốc tế, đội tuyển bóng đá nữ quốc gia Việt Nam ghi nhận kết quả trái chiều tại Giải vô địch bóng đá nữ châu Á 2026 tổ chức tại Úc từ ngày 1 đến 21/3/2026.
e) Tai nạn giao thông
Trong quý 1 năm nay, cả nước xảy ra 3.926 vụ tai nạn giao thông, khiến 2.407 người chết và 2.352 người bị thương. Trung bình trong quý 1/2026, mỗi ngày xảy ra 44 vụ tai nạn giao thông, khiến 27 người chết và 26 người bị thương.
g) Tổn thất do thiên tai
Trong quý 1 năm 2026, thiên tai khiến 1 người chết và 10 người bị thương; thiệt hại hơn 2,4 nghìn ha lúa và các loại cây trồng khác; bị phá hủy, cuốn trôi hoặc làm hư hại 446 ngôi nhà. Tổng thiệt hại về tài sản do thiên tai trong quý 1/2026 ước đạt 159,7 tỷ đồng, tăng 76,2% so với cùng kỳ năm 2025.
h) Bảo vệ môi trường và phòng chống cháy, nổ
Trong quý 1/2026, cơ quan chức năng phát hiện 5.591 vụ vi phạm môi trường, trong đó, xử lý 4.832 vụ với tổng số tiền phạt gần 87,6 tỷ đồng, ghi nhận mức tăng 24,0% so với cùng kỳ năm ngoái; cả nước xảy ra 729 vụ cháy, nổ, làm 26 người chết và 34 người bị thương, thiệt hại ước tính 237,6 tỷ đồng, gấp 4,6 lần cùng kỳ năm trước./.
Cơ cấu tương ứng cho cùng kỳ năm 2025 lần lượt là 11,50%, 36,50%, 43,40% và 8,60%.
Trị giá kim ngạch xuất khẩu được tính theo giá F.O.B và kim ngạch nhập khẩu được tính theo giá C.I.F (bao gồm cả chi phí vận chuyển và bảo hiểm của hàng hóa nhập khẩu).
Số liệu sơ bộ về xuất nhập khẩu hàng hóa tháng 3/2026 được Hải quan Việt Nam cung cấp vào ngày 03/4/2026.
Theo Thông báo số 36/TB-VPCP ngày 20/01/2026 do Văn phòng Chính phủ ban hành.
https://laodong.vn/thoi-su/229-truong-pho-thong-noi-tru-lien-cap-cac-xa-bien-gioi-da-duoc-khoi-cong-1671354.ldo
Thống Kê Việt Nam
Không có nhận xét nào