Header Ads

  • Breaking News

    VNCS: Tầm nhìn trăm năm – Những tầm nhìn thất bại

    Phần 2

    Anh Quoc

    24/6/2026

    “...Thực chất thủ đô mới Xuân Hòa chết yểu vì từ một quyết định mang tính bột phát của một vài cá nhân có quyền lực, chỉ căn cứ vào một yếu tố lo lắng trong một hoàn cảnh bí bách vội vàng (từ chủ trương của Bộ Chính trị đến khi triển khai trên thực địa có hơn 3 tháng) chưa có nghiên cứu kỹ càng, và một quy hoạch tổng thể, đặc biệt trong tình trạng nền kinh tế còn khó khăn và chiến tranh đang diễn ra.

    Nó xuất phát từ những ý tưởng hoang đường, hoàn toàn không có tính thực tiễn trong thời điểm không đủ hội tụ khả năng triển khai”.

    1) THỦ ĐÔ HỤT XUÂN HÒA.

    Sau khi Hà Nội rơi vào tay chế độ mới có nhiều thay đổi về địa giới hành chính, cơ bản được mở rộng để phục vụ các chính sách phát triển kinh tế, nhưng trong hoàn cảnh chiến tranh những chính sách này không phù hợp để thích ứng và nó thường xuyên bị thay đổi.

    Nội đô Hà nội được bao quanh bởi các con đê bằng đất, các khó khăn kinh tế khiến nó không được tu bổ thường xuyên và nguy cơ đê vỡ ám ảnh các lãnh đạo Hà Nội.

    Do đó, ngày 2-8-1969, Bộ trưởng Bộ Kiến trúc lúc đó là ông Bùi Quang Tạo đã trình bày quy hoạch mở rộng thủ đô. 

    Bộ Chính trị quyết định: Xuân Hòa là địa điểm mở rộng Hà Nội. 

    Ngày 22-11-1969, Phó Thủ tướng Đỗ Mười ký Quyết định 128/TTg về việc xây dựng lại thị xã Phúc Yên và xây dựng mới Xuân Hòa.

    Và sự lo lắng này đã thành hiện thực.

    Năm 1971 Miền Bắc chịu một đợt lũ lịch sử.

    Đây được xem là trận lũ lụt lớn nhất trong vòng 250 năm qua ở miền Bắc Việt Nam, và nó đã đi vào ký ức không thể xóa nhòa của rất nhiều người dân Hà Nội.

    Trận lũ lụt được một cơ quan thời tiết của Hoa Kỳ xếp là một trong những thiên tai lớn nhất của thế kỷ 20, và mức độ thảm khốc do nó gây ra chỉ đứng sau trận lụt trên sông Dương Tử ở Trung Quốc làm hàng triệu người chết xảy ra năm 1931.

    Ngày 20 tháng 8, đỉnh lũ ở Hà Nội là 14,13m, vượt mức báo động 3 là 2,63m. Nước lụt lúc ấy đã ngang mặt cầu Long Biên và mấp mé mặt đê, khiến quân đội phải phá một số tuyến đê ở các vùng lân cận Hà Nội để phân lũ cứu Hà Nội.

    Do lo sợ cây cầu Long Biên huyết mạch bị nước lũ cuốn trôi, ngành giao thông đã phải đưa một đoàn tàu chất nặng đá hộc lên nằm yên trấn giữ mặt cầu.

    Chỉ tính riêng 4 tỉnh Hải Hưng, Hà Bắc, Vĩnh Phú, Hà Tây, trận lụt đã làm 1062 xã của 94 huyện với 2,9 triệu hộ gia đình bị ngập lụt nặng, tương đương với trên 40% tổng số hộ gia đình. 

    Trận lụt đã khiến khoảng 100.000 người thiệt mạng, cộng thêm 2.7 triệu người bị ảnh hưởng nặng do sống ở những xã bị ngập hoàn toàn, thiệt hại lên đến con số 70 triệu đồng theo thời giá lúc bấy giờ (năm 1971) tương đương với 10.000 tỉ đồng theo thời giá năm 2015.

    Trận lũ năm 1971 càng thúc đẩy việc chuyển trung tâm thủ đô lên Xuân Hòa với lập luận: “Xuân Hòa gần núi, tiện cho việc phòng thủ, phòng không. Quan trọng nhất là đất ở đó cũng khá cao, an toàn hơn. Hà Nội chỉ cao 6 m so với mực nước biển trong khi nước sông Hồng tới mùa lũ có thể đến 13-14 m, nguy cơ gây ngập lụt rất cao, lúc nào Hà Nội cũng có thể bị uy hiếp một khi Mỹ ném bom vỡ đê. Nếu sang phía Xuân Hòa thì mối nguy ấy đỡ đi”

    Và người ta vội vã tiến hành xây dựng những hạng mục công trình ở Xuân Hòa và ý lấy ý tưởng đưa thị trấn Vĩnh Yên có Đàm Vạc là trung tâm của thủ đô mới.

    Một loạt cơ quan hành chính, sự nghiệp bắt đầu lục tục chuyển lên Xuân Hòa. ĐH Kiến trúc (trực thuộc Bộ Kiến trúc, bây giờ là Bộ Xây dựng) là một trong những đơn vị tiên phong. Rồi Ban Cơ yếu Trung ương, Trường Công nhân kỹ thuật Việt-Xô, ĐH Tài chính, ĐH Sư phạm II… đều về cả Xuân Hòa. 

    Một loạt cán bộ của Viện Quy hoạch thủ đô được giao nhiệm vụ tháp tùng Bộ trưởng Bùi Quang Tạo thực địa, khảo sát khu vực Đầm Vạc, được dự kiến là trung tâm thủ đô tương lai. 

    Ngoài lý do rất thời chiến nêu trên, theo quan điểm thời ấy, Xuân Hòa có thêm một tiêu chuẩn để trở thành thủ đô mới, bởi lẽ nơi đây là vùng trung du, đất trung du thích hợp với việc xây dựng mà không phù hợp cho trồng trọt, làm nông nghiệp. Do vậy, chuyển dời thủ đô về Xuân Hòa cũng có lợi về mặt sử dụng đất đai.

    Trung tâm này dự kiến bao gồm cả khách sạn, công viên, hội trường và một nơi gọi là “trung tâm hội nghị 81 đảng cộng sản”, mọi việc tiến hành rất khẩn trương, răm rắp. Đêm đêm, đèn huỳnh quang thắp sáng rực. Vài quả đồi ở Xuân Hòa bị san phẳng. Một đoạn đường bê tông dài mấy cây số cũng đã được thi công.

    Theo quy hoạch dự kiến, Hà Nội 36 phố phường sẽ được bảo tồn nguyên trạng, dân số tối đa chỉ khoảng 1,2 triệu. Thành phố mới mở sẽ to rộng, hoành tráng, dân số từ 3 đến 5 triệu.

    ĐẼO CÀY GIỮA ĐƯỜNG

    Nhưng việc thi công rầm rộ chỉ kéo dài vài năm, sau đó lắng dần. Để đi tới việc ngừng “dự án” này, đã có sự tranh luận, nhiều người không tán thành, nhưng đó chỉ là yếu tố phụ mà sau này người ta mới hé lộ.

    Thực chất thủ đô mới Xuân Hòa chết yểu vì từ một quyết định mang tính bột phát của một vài cá nhân có quyền lực, chỉ căn cứ vào một yếu tố lo lắng trong một hoàn cảnh bí bách vội vàng (từ chủ trương của Bộ Chính trị đến khi triển khai trên thực địa có hơn 3 tháng) chưa có nghiên cứu kỹ càng, và một quy hoạch tổng thể, đặc biệt trong tình trạng nền kinh tế còn khó khăn và chiến tranh đang diễn ra.

    Nó xuất phát từ những ý tưởng hoang đường, hoàn toàn không có tính thực tiễn trong thời điểm không đủ hội tụ khả năng triển khai.

    Không hạ tầng điện, nước, không đường xá… vẫn đưa dân đến, chết yểu là điều tất nhiên không có gì phải bàn cãi.

    Sau này đại học Kiến trúc, đại học Tài chính, đại học Xây dựng… và các cơ quan trung ương lại quay về Hà Nội.

    Một yếu tố quan trọng khác, năm 1973 Hiệp định Paris được ký kết, Mỹ chấm dứt chiến tranh phá hoại ở Miền Bắc, rút quân về nước, mối lo Mỹ ném bom đê điều không còn nữa, việc xây dựng thủ đô mới ở Xuân Hoà vì thế càng trở nên không còn thuyết phục.

    Hậu quả là những dự án bị bỏ hoang, dang dở để lại, và cuộc tranh cãi “tại sao không triển khai thủ đô mới lên Xuân Hòa?” kéo dài đến năm 1980 mới chấm dứt, hơn 10 năm tương đương với hai kỳ đại hội Đảng chỉ loanh quanh với một tầm nhìn ngắn hạn mới dứt ra được.

    Anh Quốc


    Không có nhận xét nào