Cội nguồn lịch sử và văn hóa
24/6/2026
“...Tài năng và đức độ của Võ Trường Toản khiến chúa Nguyễn Phúc Ánh (sau là vua Gia Long) khi vào Gia Định nhiều lần triệu kiến để hỏi kế sách. Dù một mực từ chối ra làm quan để giữ cốt cách xử sĩ, ông vẫn được chúa Nguyễn hết lòng kính trọng, ban tặng danh hiệu "Sùng Đức" (sau đổi là Tố Đức). Khi ông mất vào mùa hè năm 1792, chúa Nguyễn đã vô cùng tiếc thương, ban từ hiệu khắc trên bia mộ là "Gia Định xử sĩ Sùng Đức Võ tiên sinh".
Võ Trường Toản (?- 1792) là một nhà giáo, nhà hiền triết xuất chúng, được tôn vinh là "Hậu Tổ" của nền giáo dục Nho học vùng đất Đồng Nai - Gia Định vào thế kỷ XVIII.
Về gốc tích, có giả thuyết cho rằng tổ tiên ông là người Hoa lánh nạn Mãn Thanh di cư vào miền Trung, rồi theo làn sóng mở cõi tiến dần vào Nam lập nghiệp; các tài liệu thời Nguyễn cũng phân vân giữa hai quê quán của ông là Thanh Kệ (thuộc Thừa Thiên Huế ngày nay) và Bình Dương (thuộc Gia Định cũ). Tuy nhiên, toàn bộ di sản của ông đều bắt rễ sâu sắc tại vùng đất Nam Bộ.
Là người học rộng tài cao, thông tuệ thao lược và có đức hạnh hơn người, Võ Trường Toản lại chọn lối sống ẩn dật, đứng ngoài vòng danh lợi. Khi bùng nổ cuộc nội chiến Tây Sơn - Chúa Nguyễn, ông lánh về vùng Hòa Hưng (Gia Định) mở trường dạy học. Trọng tâm giáo hóa của ông không nhằm mục đích cử tử, khoa bảng cầu vinh, mà hướng vào "nghĩa lý", trau dồi nhân cách và thực học. Ngôi trường của ông đã trở thành "lò đúc nhân tài" cho cả vùng Nam Bộ với hàng trăm môn sinh, trong đó nổi bật nhất là nhóm "Gia Định tam gia" (Trịnh Hoài Đức, Lê Quang Định, Ngô Nhơn Tịnh) cùng các bậc đại thần, tiết nghĩa như Ngô Tùng Châu, Phạm Ngọc Uẩn, Lê Bá Phẩm. Đóng góp của ông lớn đến mức các học trò của ông sau này đều trở thành rường cột, định hình nên bộ máy hành chính, văn hóa và ngoại giao của triều đại trung hưng nhà Nguyễn.
Tài năng và đức độ của Võ Trường Toản khiến chúa Nguyễn Phúc Ánh (sau là vua Gia Long) khi vào Gia Định nhiều lần triệu kiến để hỏi kế sách. Dù một mực từ chối ra làm quan để giữ cốt cách xử sĩ, ông vẫn được chúa Nguyễn hết lòng kính trọng, ban tặng danh hiệu "Sùng Đức" (sau đổi là Tố Đức). Khi ông mất vào mùa hè năm 1792, chúa Nguyễn đã vô cùng tiếc thương, ban từ hiệu khắc trên bia mộ là "Gia Định xử sĩ Sùng Đức Võ tiên sinh".
Vua Gia Long sau này cũng ban tặng đôi câu liễn ca ngợi công đức vĩ đại của một người thầy tuy không có con nối dõi nhưng học trò khắp thiên hạ đều hiếu kính như con ruột:
"Sinh tiền giáo huấn đắc nhân, vô tử nhi hữu tử / Một hậu thịnh danh tại thế, tuy vong giả bất vong".
Dịch nghĩa:
“Lúc sống, dạy dỗ được người, không con mà như có
Khi mất, tiếng tăm còn để, thân tan danh vẫn còn..”
Ban đầu, thi hài cụ Võ được an táng tại làng Hòa Hưng (Gia Định). Đến năm 1852 (thời Tự Đức), triều đình chính thức cho lập đền thờ và cấp ruộng đất tế tự cho ông tại Gia Định theo lời tâu của Kinh lược sứ Nguyễn Tri Phương.
Tuy nhiên, biến cố lịch sử ập đến khi thực dân Pháp xâm lược và chiếm đóng ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ vào năm 1862. Không cam tâm để ngôi mộ của bậc tôn sư nằm dưới sự kiểm soát của quân ngoại bang, năm 1867, các sĩ phu yêu nước Nam Kỳ do Đại thần Phan Thanh Giản, Đốc học Nguyễn Thông và Hiệp trấn Phạm Hữu Chánh dẫn đầu đã tổ chức cải táng di cốt của cụ Võ cùng vợ và con gái về vùng đất tự do lúc bấy giờ là xã Bảo Thạnh (Ba Tri, Bến Tre). Ngày lễ cải táng diễn ra trang nghiêm do Nguyễn Thông làm chủ lễ, và chính Phan Thanh Giản đã đặt bút soạnbài văn bia bằng chữ Hán vào năm Đinh Mão (1867), tạm dịch ra như sau:
"Tiên sinh họ Võ, húy Trường Toản. Đời trước hoặc nói là người Thanh Kệ (Quảng Đức), hoặc nói người Bình Dương (Gia Định), trước thọ nghiệp cùng ai chưa biết rõ. Chỉ biết sở học của tiên sinh đã tới bậc dày dặn, đầy đủ, chất thật có thuật nghiệp thâm uyên thông đạt. Xảy hồi loạn Tây Sơn, tiên sinh ở ẩn mở trường dạy họ, thường học trò đến mấy trăm. Ông Ngô Tùng Châu là môn sinh cao đệ nhất. Thứ đến là các ông Trịnh Hoài Đức, Phạm Ngọc Uẩn, Lê Quang Định, Lê Bá Phẩm, Ngô Nhơn Tịnh. Bậc danh sĩ là ông Chiêu, ông Trúc đều ẩn dật. Ngoài ra không kể hết được...Các ông ấy đều gặp hồi phong vận, thời trung hưng triều Gia Long đức bậc tôi hiền, có người hoặc sát thân để làm nên điều nhân, hoặc quên mình để trọng tiết nghĩa, thảy đều nên công nghiệp lớn... Lúc ngự vào Gia Định, đức Thế Tổ Cao Hoàng đế hằng triệu tiên sinh tới đối ứng… Tiên sinh không khứng ra làm quan, nên đại khái không thấy được sự nghiệp. Từ thuở tiên sinh lấy lối học nghĩa lý để giáo hóa, chẳng những đương thời đào tạo được nhiều bậc nhân tài, mà còn truyền thuật, giảng luận, trau dồi về sau"...
Hiện nay, di sản văn học của cụ Võ chỉ còn lại bài "Hoài cổ phú" bằng chữ Nôm. Tại khu mộ cải táng ở Bến Tre, ba ngôi mộ của cụ, vợ và con gái được xây dựng theo dáng voi phục tôn nghiêm bên cạnh ngôi đền thờ mang kiến trúc mái cong hai tầng truyền thống. Toàn bộ khu mộ và đền thờ đã được xếp hạng là Di tích lịch sử cấp quốc gia từ năm 1998, trở thành một biểu tượng bất diệt cho tinh thần tôn sư trọng đạo và lòng yêu nước của người dân Nam Bộ.
Trong Tụy Văn lâu nằm trong khuôn viên Văn Thánh Miếu Vĩnh Long cũng có đặt bài vị thờ ông.
Tên ông còn được đặt tên cho các công trình công cộng, như đường phố, trường học nhiều nơi trong nước.
Không có nhận xét nào