Header Ads

  • Breaking News

    Chuyện Việt Nam – Đọc báo trong nước

    28/7/2026

    YlymHa tổng hợp

    Nghị định 292 và cơ hội thoát nhóm thuế 12,5%

    Lợi Phan Mai

    24/7/2026

    2026 Special 301 Report.pdf

    Ngày 23/7/2026, nước Mỹ chính thức dựng lại hàng rào thuế quan toàn cầu. Văn phòng Đại diện Thương mại Mỹ USTR công bố quyết định cuối cùng sau 60 cuộc điều tra theo Mục 301, áp mức bổ sung 10% hoặc 12,5% với hàng hóa từ 60 nền kinh tế, chiếm gần như toàn bộ thương mại của Mỹ. Mức thuế có hiệu lực từ 0h01 ngày 24/7 giờ Washington, đúng lúc khoản phụ thu toàn cầu 10% theo Mục 122 mà Tổng thống Trump áp tạm hồi tháng 2 hết hạn.

    Nghị định 292 mới là "chìa khoá"

    Việt Nam nằm trong nhóm chịu 12,5%, cùng Trung Quốc, Thái Lan, Philippines, Singapore, Brazil. Nhóm chịu 10% gồm 17 nền kinh tế đã có lệnh cấm nhập khẩu hàng lao động cưỡng bức hoặc cam kết qua hiệp định với Mỹ như Canada, Mexico, Indonesia, Campuchia, Ấn Độ. EU, Đài Loan, Nhật, Hàn Quốc, Thụy Sĩ được áp cơ chế trần 10% hoặc 12,5% sau khi trừ thuế tối huệ quốc. Ô tô, thép, nhôm, đồng thuộc diện 232 được miễn chồng, nhưng dệt may, da giày, đồ gỗ, điện tử thì không. Một số nguyên liệu Mỹ thiếu như dầu khí, phân bón, thực phẩm được miễn.

    Cùng ngày 23/7, ở Hà Nội, một văn bản tưởng như kỹ thuật đã thay đổi hoàn toàn vị thế pháp lý của Việt Nam. Nghị định 292/2026/NĐ-CP quy định chi tiết Luật Quản lý ngoại thương, trong Phụ lục I về danh mục hàng hóa cấm nhập khẩu, lần đầu tiên ghi một dòng chưa từng có.

    Nghị định cấm nhập khẩu các sản phẩm, hàng hóa được khai thác, sản xuất hoặc chế tạo toàn bộ hoặc một phần bởi hành vi cưỡng bức lao động từ các doanh nghiệp, quốc gia, vùng lãnh thổ phù hợp với các điều ước quốc tế có liên quan mà Việt Nam là thành viên.

    Một dòng chữ, nhưng là chìa khóa để mở cánh cửa mà Washington đã đóng từ ngày 2/6.

    Để hiểu vì sao dòng chữ này quan trọng, phải quay lại diễn biến điều tra. Ngày 12/3/2026, USTR khởi xướng điều tra 301 về lao động cưỡng bức với 60 nền kinh tế theo chỉ đạo trực tiếp của Tổng thống Trump. Sau hai vòng điều trần, hơn 2.100 ý kiến và tham vấn 45 chính phủ, ngày 2/6 USTR ra kết luận sơ bộ rằng việc không ban hành hoặc không thực thi hiệu quả lệnh cấm nhập khẩu hàng lao động cưỡng bức là hành vi không hợp lý, gây gánh nặng cho thương mại Mỹ.

    Từ đó USTR chia thế giới thành hai nhóm. Nhóm đã có lệnh cấm hoặc cam kết được đề xuất 10%, nhóm còn lại gồm Việt Nam bị xếp là không ban hành và không thực thi hiệu quả, bị đề xuất 12,5%. USTR sau đó lấy thêm hơn 1.600 ý kiến và tổ chức điều trần bổ sung từ 7 đến 9/7 với hơn 100 nhân chứng trước khi ra quyết định cuối ngày 23/7.

    Trong suốt quá trình, lập trường của Washington rất nhất quán. Đại sứ Greer nói Mỹ đã duy trì lệnh cấm hàng lao động cưỡng bức gần một thế kỷ. Đã đến lúc các đối tác cũng phải áp dụng tiêu chuẩn tương tự. Nói cách khác, Mỹ không chỉ muốn Việt Nam cấm lao động cưỡng bức trong nước, điều mà Bộ luật Lao động và Điều 297 Bộ luật Hình sự đã làm, mà muốn Việt Nam cấm nhập khẩu hàng hóa từ nước thứ ba nếu hàng đó làm bằng lao động cưỡng bức.

    Đó chính là điểm Việt Nam bị đánh trượt ở kết luận 2/6. Người phát ngôn Bộ Ngoại giao từng giải trình vào tháng 4 rằng Việt Nam đã có biện pháp ngăn ngừa, nhưng phía Mỹ cho rằng chưa có lệnh cấm mang tính pháp lý trực diện về nhập khẩu.

    Nghị định 292 chính là câu trả lời trực diện đó. Về mặt pháp lý, Việt Nam đã chuyển từ nhóm không có lệnh cấm sang nhóm có lệnh cấm. Điều này đặc biệt có ý nghĩa khi quan chức cấp cao Mỹ nói ngay trong ngày 23/7 rằng các nền kinh tế có tiến bộ có thể được giảm thuế từ 12,5% xuống 10%. Ấn Độ ban đầu bị đề xuất 12,5% nhưng đã được chuyển xuống nhóm 10% sau khi thông qua quy định chống nhập khẩu hàng lao động cưỡng bức. Đó là tiền lệ trực tiếp cho Việt Nam.

    Điều này càng quan trọng khi đặt cạnh vòng đàm phán tại Washington tuần này. Khi ông Greer nói với Straits Times rằng Mỹ muốn Việt Nam hành động về rào cản phi thuế quan, an ninh kinh tế, kiểm soát xuất khẩu và quy tắc xuất xứ để ngăn hàng Trung Quốc đội lốt, thì lệnh cấm nhập khẩu hàng lao động cưỡng bức là một phần của bộ tiêu chuẩn đó. Nó cho phép Việt Nam nói rằng chúng tôi cùng tiêu chuẩn với các vị.

    Việt Nam cần làm gì?

    Nhưng có lệnh cấm mới chỉ là vé vào cửa. Để thoát nhóm 12,5%, Việt Nam cần làm thêm bốn việc ngay trong 90 ngày tới, vì thuế 301 không giới hạn 150 ngày như thuế 122, có thể duy trì vô thời hạn, nhưng Tổng thống và USTR có quyền điều chỉnh nếu đối tác thay đổi chính sách.

    Thứ nhất, phải ra thông tư hướng dẫn thế nào là hàng cưỡng bức lao động. Nghị định 292 mới nói cấm, nhưng chưa nói ai xác định, dựa trên Công ước ILO 29, 105 hay danh sách của Bộ Lao động Mỹ, quy trình tham vấn và cơ chế cho doanh nghiệp chứng minh hàng sạch ra sao. Nếu không có hướng dẫn, hải quan không có căn cứ chặn, và USTR sẽ nói có luật nhưng không thực thi.

    Thứ hai, cần lập cơ chế một phần và danh sách minh bạch. USTR không chỉ công nhận lệnh cấm toàn diện mà còn công nhận cơ chế một phần. Việt Nam nên công bố lộ trình cấm trước với hai chuỗi nhạy cảm mà USTR nêu đích danh là bông thô và polysilicon cho pin mặt trời, vốn có rủi ro lẩn tránh cao nhất. Đồng thời công bố danh sách vùng, doanh nghiệp rủi ro dựa trên điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, đúng như chữ trong Nghị định 292.

    Thứ ba, dùng bông Mỹ để cứu dệt may và lấy điểm với USTR. USTR đã nói sẽ thiết lập hạn ngạch thuế quan cho dệt may từ Bangladesh, Campuchia, Indonesia, Malaysia nếu dùng bông Mỹ. Việt Nam chưa có trong danh sách nhưng là nước nhập bông Mỹ lớn nhất thế giới, chiếm hơn 35% xuất khẩu bông Mỹ. Tăng nhập bông Mỹ vừa giúp giảm thâm hụt thương mại, vừa giúp chứng minh chuỗi cung ứng dệt may không liên quan đến bông Tân Cương. Doanh nghiệp cần lưu ngay hợp đồng mua bông Mỹ, chứng từ C/O để khi USTR mở Phụ lục A về miễn trừ, có hồ sơ xin vào.

    Thứ tư, biến hồ sơ tuân thủ thành hồ sơ đàm phán. Ngoài văn bản pháp luật là Nghị định 292 và thông tư hướng dẫn, cần có thực thi như số vụ hải quan chặn hàng nghi ngờ, và cam kết thương mại đưa điều khoản chống lao động cưỡng bức vào thỏa thuận thương mại đối ứng đang đàm phán, giống cách Anh và Ấn Độ đã làm.

    Từ 12,5% xuống 10% không chỉ là 2,5 điểm phần trăm. Với kim ngạch xuất khẩu sang Mỹ hơn 120 tỷ USD, đó là khoảng 3 tỷ USD tiền thuế mỗi năm. Và quan trọng hơn, đó là tín hiệu cho hai cuộc điều tra 301 còn lại về dư thừa công suất và sở hữu trí tuệ đang diễn ra.

    Ngày 24/7, hàng rào thuế quan mới của Mỹ đã dựng lên. Thoát khỏi nhóm 12,5% không phải bằng phản đối, mà bằng cách chứng minh Việt Nam đã có lệnh cấm, đang thực thi lệnh cấm đó, và đang làm sạch chuỗi cung ứng bằng chính nguyên liệu của Mỹ.

    Café Cuối tuần: Nghị định 292 và cơ hội thoát nhóm thuế 12,5%

    Lam Sơn

    25/07/2026

    Ngày 23/7/2026, Mỹ chính thức dựng lại hàng rào thuế quan trên diện rộng. Văn phòng Đại diện Thương mại Mỹ (USTR) công bố quyết định cuối cùng sau 60 cuộc điều tra theo Mục 301, áp mức thuế bổ sung 10% hoặc 12,5% đối với hàng hóa từ 60 nền kinh tế, chiếm gần như toàn bộ thương mại của Mỹ.

    Những tàu hàng cập bến cảng Los Angeles. Ảnh: AFP.

    Mức thuế có hiệu lực từ 0h01 ngày 24/7 theo giờ Washington, đúng thời điểm khoản phụ thu toàn cầu 10% theo Mục 122 mà Tổng thống Donald Trump áp tạm thời hồi tháng 2 hết hạn. Việt Nam nằm trong nhóm chịu 12,5%, cùng Trung Quốc, Thái Lan, Philippines, Singapore, Brazil.

    Nhưng ngay trước khi USTR công bố quyết định cuối cùng, Chính phủ Việt Nam đã ban hành một văn bản có thể tạo ra thay đổi đáng kể về cơ sở pháp lý, đồng thời mở thêm dư địa để Việt Nam đề nghị phía Mỹ xem xét lại mức thuế.

    Một bước chủ động về pháp lý

    Nghị định 292/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Quản lý ngoại thương. Trong Phụ lục I về danh mục hàng hóa cấm nhập khẩu, lần đầu tiên xuất hiện một quy định đáng chú ý.

    Theo đó, Việt Nam cấm nhập khẩu các sản phẩm, hàng hóa được khai thác, sản xuất hoặc chế tạo toàn bộ hoặc một phần bởi hành vi cưỡng bức lao động từ các doanh nghiệp, quốc gia, vùng lãnh thổ, phù hợp với các điều ước quốc tế có liên quan mà Việt Nam là thành viên.

    Một dòng quy định tưởng như mang tính kỹ thuật, nhưng lại bổ sung đúng mắt xích pháp lý mà Washington cho rằng Việt Nam còn thiếu.

    Để hiểu ý nghĩa của thay đổi này, cần quay lại quá trình điều tra của USTR.

    Ngày 12/3/2026, USTR khởi xướng điều tra theo Mục 301 đối với 60 nền kinh tế về chính sách liên quan đến hàng hóa được sản xuất bằng lao động cưỡng bức.

    Sau các vòng điều trần, tiếp nhận hơn 2.100 ý kiến và tham vấn với hàng chục chính phủ, ngày 2/6, USTR kết luận sơ bộ rằng việc không ban hành hoặc không thực thi hiệu quả lệnh cấm nhập khẩu hàng hóa sử dụng lao động cưỡng bức là hành vi không hợp lý, gây gánh nặng hoặc hạn chế thương mại Mỹ.

    Từ tiêu chí này, USTR chia các nền kinh tế thành hai nhóm.

    Nhóm chịu mức 10% gồm 17 nền kinh tế đã có lệnh cấm nhập khẩu hàng hóa sử dụng lao động cưỡng bức, đã đưa ra cam kết trong thỏa thuận với Mỹ hoặc có một phần cơ chế kiểm soát tương đương. Canada, Mexico, Indonesia, Campuchia và Ấn Độ nằm trong nhóm này.

    Nhóm còn lại, trong đó có Việt Nam, chịu mức 12,5%.

    EU, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan và Thụy Sĩ được áp dụng cơ chế trần 10% hoặc 12,5% sau khi tính đến thuế tối huệ quốc. Một số mặt hàng đã chịu thuế theo Mục 232 như ô tô, thép, nhôm và đồng được miễn áp chồng. Tuy nhiên, nhiều nhóm hàng xuất khẩu quan trọng của Việt Nam như dệt may, da giày, đồ gỗ và điện tử không nằm trong diện miễn chung này.

    Trong suốt quá trình điều tra, thông điệp của Washington khá nhất quán.

    Mỹ không chỉ yêu cầu các đối tác cấm hành vi cưỡng bức lao động trong phạm vi lãnh thổ của mình. Điều Mỹ muốn thấy là một cơ chế pháp lý trực diện nhằm ngăn hàng hóa được làm ra bằng lao động cưỡng bức từ nước thứ ba thâm nhập thị trường.

    Việt Nam đã cấm cưỡng bức lao động trong Bộ luật Lao động và có quy định xử lý trong pháp luật hình sự. Nhưng theo cách đánh giá của USTR, chừng đó chưa đủ để tạo thành một lệnh cấm nhập khẩu rõ ràng.

    Xét theo đúng tiêu chí mà USTR đặt ra, Nghị định 292 chính là câu trả lời pháp lý trực diện đối với điểm còn thiếu này.

    Về mặt pháp luật trong nước, Việt Nam đã chuyển từ trạng thái chưa có một lệnh cấm nhập khẩu trực diện sang trạng thái đã ban hành lệnh cấm. Đây là một bước tiến đáng kể, cho thấy Việt Nam không chỉ phản ứng bằng lập luận ngoại giao mà còn chủ động hoàn thiện công cụ pháp lý để thích ứng với các tiêu chuẩn thương mại mới.

    Tuy nhiên, việc Việt Nam có được USTR công nhận để chuyển từ nhóm thuế 12,5% xuống 10% hay không vẫn còn phụ thuộc vào phạm vi của quy định và hiệu quả thực thi.

    Nghị định mới đặt ra nguyên tắc cấm. Còn hàng hóa nào bị coi là sản phẩm của lao động cưỡng bức, cơ quan nào xác định, căn cứ vào nguồn dữ liệu nào, doanh nghiệp có quyền giải trình ra sao và hải quan sẽ thực hiện việc chặn hàng như thế nào vẫn cần được quy định cụ thể.

    Đây chính là khoảng cách giữa một lệnh cấm trên văn bản và một cơ chế được đối tác thương mại công nhận là có hiệu quả.

    Tiền lệ của Ấn Độ cho thấy cánh cửa điều chỉnh không hoàn toàn đóng lại. Nền kinh tế này ban đầu được đề xuất áp mức 12,5%, nhưng sau khi đưa ra quy định chống nhập khẩu hàng hóa sử dụng lao động cưỡng bức, đã được chuyển sang nhóm 10% trong quyết định cuối cùng.

    Điều đó không có nghĩa Việt Nam chắc chắn sẽ được hạ thuế. Nhưng ít nhất, Nghị định 292 đã tạo ra một cơ sở pháp lý mới để Việt Nam đưa vấn đề này vào bàn đàm phán.

    Động thái đó càng đáng chú ý khi đặt cạnh các cuộc trao đổi thương mại giữa Việt Nam và Mỹ.

    Washington đang yêu cầu các đối tác xử lý không chỉ vấn đề thuế quan, mà cả rào cản phi thuế quan, an ninh kinh tế, kiểm soát xuất khẩu, quy tắc xuất xứ và nguy cơ hàng hóa nước thứ ba lợi dụng Việt Nam để đi vào thị trường Mỹ.

    Trong bối cảnh đó, lệnh cấm nhập khẩu hàng hóa sử dụng lao động cưỡng bức có thể trở thành một phần của bộ tiêu chuẩn mới mà Việt Nam cần đáp ứng để bảo vệ vị trí trong chuỗi cung ứng toàn cầu.

    Nó cũng cho phép Việt Nam bước vào đàm phán với một thông điệp rõ ràng hơn: Việt Nam không chỉ nêu quan điểm đối với kết luận của Mỹ, mà đã chủ động điều chỉnh chính sách theo hướng phù hợp hơn với các chuẩn mực thương mại quốc tế.

    Mở rộng dư địa đàm phán

    Nghị định 292 mở ra cơ hội, nhưng để cơ hội đó chuyển thành kết quả, Việt Nam cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế thực thi.

    Trước hết, cần sớm ban hành hướng dẫn cụ thể về việc nhận diện hàng hóa được sản xuất bằng lao động cưỡng bức.

    Quy định phải làm rõ tiêu chí đánh giá, cơ quan có thẩm quyền xác định, nguồn dữ liệu được sử dụng, quy trình phối hợp giữa hải quan và các bộ, ngành, cũng như cơ chế để doanh nghiệp chứng minh hàng hóa có nguồn gốc hợp pháp.

    Nếu không có hướng dẫn thực thi, lệnh cấm có nguy cơ chỉ dừng lại ở nguyên tắc. Khi đó, phía Mỹ hoàn toàn có thể cho rằng Việt Nam đã có luật nhưng chưa có khả năng áp dụng hiệu quả.

    Tiếp đó, cần xây dựng một cơ chế cảnh báo và quản lý rủi ro minh bạch.

    Việt Nam không nhất thiết phải ngay lập tức tạo ra một danh sách cấm có phạm vi quá rộng. Nhưng có thể xác định các chuỗi cung ứng, khu vực hoặc nhóm sản phẩm có rủi ro cao, từ đó yêu cầu doanh nghiệp cung cấp hồ sơ truy xuất nguồn gốc.

    Cơ chế này cần minh bạch, có tiêu chí rõ ràng và tránh biến thành một rào cản hành chính mới đối với hoạt động thương mại hợp pháp.

    Cùng với đó, Việt Nam cần biến truy xuất nguồn gốc nguyên liệu thành lợi thế đàm phán.

    Dệt may, da giày, đồ gỗ và điện tử là những ngành chịu ảnh hưởng trực tiếp từ mức thuế mới, đồng thời cũng là những ngành có chuỗi cung ứng xuyên biên giới phức tạp.

    Doanh nghiệp Việt Nam cần chủ động lưu giữ hợp đồng, chứng nhận xuất xứ, hồ sơ nguyên liệu và dữ liệu về nhà cung cấp. Việc sử dụng nguyên liệu có nguồn gốc rõ ràng, trong đó có nguyên liệu từ Mỹ, có thể giúp củng cố hồ sơ tuân thủ và tạo thêm lợi thế trong quá trình đàm phán thương mại.

    Đây chưa phải là cơ chế miễn trừ tự động. Nhưng nó có thể trở thành một đề xuất chính sách đáng cân nhắc khi Mỹ đã dành cơ chế riêng cho một số đối tác sử dụng nguyên liệu đáp ứng yêu cầu của họ.

    Quan trọng hơn, việc thực thi Nghị định 292 cần được đưa thành một phần của hồ sơ đàm phán với Mỹ.

    Một lệnh cấm chỉ thực sự có giá trị khi đi kèm kết quả cụ thể: số vụ kiểm tra, số lô hàng bị cảnh báo, quy trình xác minh, cơ chế phối hợp với doanh nghiệp và các cam kết về làm sạch chuỗi cung ứng.

    Việt Nam cũng có thể đề xuất đưa nội dung chống lao động cưỡng bức vào các thỏa thuận thương mại đang đàm phán, qua đó chứng minh đây không phải biện pháp mang tính đối phó nhất thời mà là một thay đổi chính sách có tính lâu dài.

    Từ 12,5% xuống 10% chỉ là chênh lệch 2,5 điểm phần trăm. Nhưng với quy mô xuất khẩu hàng trăm tỷ USD, tác động kinh tế không hề nhỏ.

    Nếu lấy kim ngạch xuất khẩu sang Mỹ hơn 120 tỷ USD làm phép tính tham chiếu đơn giản, chênh lệch 2,5 điểm phần trăm có giá trị lý thuyết khoảng 3 tỷ USD mỗi năm.

    Số thuế thực tế sẽ thấp hơn do còn phụ thuộc danh mục miễn trừ, cơ cấu mặt hàng và trị giá hàng hóa thực sự thuộc diện chịu thuế. Dù vậy, phép tính này vẫn cho thấy quy mô lợi ích kinh tế nếu Việt Nam có thể được chuyển sang nhóm thuế thấp hơn.

    Quan trọng hơn, việc được công nhận là nền kinh tế có cơ chế chống hàng hóa sử dụng lao động cưỡng bức hiệu quả còn mang ý nghĩa vượt ra ngoài cuộc điều tra hiện tại.

    Nó có thể trở thành tín hiệu tích cực đối với các cuộc điều tra thương mại khác liên quan đến dư thừa công suất, sở hữu trí tuệ, xuất xứ hàng hóa và an ninh chuỗi cung ứng.

    Mỹ đã dựng lại hàng rào thuế quan bằng một công cụ pháp lý có khả năng kéo dài hơn nhiều so với khoản phụ thu tạm thời theo Mục 122.

    Trong bối cảnh đó, phản ứng chính sách nhanh, đúng trọng tâm và có khả năng thực thi sẽ tạo thêm lợi thế cho Việt Nam.

    Nghị định 292 vì thế không chỉ là một văn bản bổ sung danh mục hàng hóa cấm nhập khẩu. Quan trọng hơn, nó cho thấy Việt Nam đã chủ động bổ sung đúng công cụ pháp lý còn thiếu, qua đó mở rộng dư địa đàm phán và nâng chuẩn chuỗi cung ứng.

    Cánh cửa giảm thuế chưa tự động mở ra. Nhưng với Nghị định 292, Việt Nam đã có thêm cơ sở để gõ đúng cánh cửa.

    Nguồn tin từ Mỹ giúp phát hiện nhà máy ở Việt Nam làm giày giả mạo thương hiệu lớn

    NGỌC AN

    Đây là vụ việc vi phạm quy mô lớn, tính chất phức tạp và có yếu tố xuyên biên giới về xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ được phát hiện trong những năm gần đây. 11 container giày giả nhãn hiệu đã xuất trót lọt sang Mỹ.

    Từ nguồn thông tin do Cơ quan Điều tra an ninh nội địa Mỹ (HSI) cung cấp, Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước (Bộ Công Thương) đã kiểm tra, phát hiện nhà máy sản xuất gần 50.000 đôi giày mang dấu hiệu giả mạo các nhãn hiệu Nike, Nike Air và Air Jordan xuất khẩu vào Mỹ. 

    Hơn 50.000 đôi giày được gia công để xuất khẩu sang Mỹ

    Theo đó, tháng 6-2026 thông qua kênh trao đổi nghiệp vụ giữa Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước và HSI, cục tiếp nhận thông tin ban đầu về một đường dây có dấu hiệu tổ chức gia công giày mang nhãn hiệu Nike tại Việt Nam để xuất khẩu sang Mỹ.

    Ngay sau khi tiếp nhận thông tin, cục đã làm việc với HSI và khẩn trương xác minh, thu thập thông tin và xây dựng phương án kiểm tra, bảo đảm giữ bí mật nhằm ngăn chặn nguy cơ tẩu tán tang vật.

    Quá trình xác minh cho thấy quy mô vụ việc lớn hơn nhiều so với thông tin ban đầu. Từ khoảng 12.000 đôi giày nghi vấn, cơ quan chức năng xác định tổng số hàng hóa liên quan lên tới gần 50.000 đôi giày đang được gia công và không thể phân biệt được là hàng giả. 

    Thậm chí, mã xác thực của từng đôi giày cũng bị sao chép từ sản phẩm thật chính hãng. Nghiêm trọng nhất là có một phần hàng hóa đã được xuất khẩu sang thị trường Mỹ. 

    Ngày 16-7, cục đã ban hành quyết định kiểm tra việc chấp hành pháp luật trong hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa tại Công ty MP (trụ sở tại TP.HCM). Cuộc kiểm tra được triển khai với sự phối hợp của Cục A05 (Bộ Công an) và công an địa phương.

    Tại thời điểm kiểm tra, đoàn kiểm tra phát hiện doanh nghiệp đang sản xuất, lưu giữ số lượng lớn giày thành phẩm và bán thành phẩm mang các nhãn hiệu Nike, Nike Air và Air Jordan.

    Trong đó ghi nhận 25.396 đôi giày thành phẩm mang các nhãn hiệu Nike và Air Jordan, với tổng trị giá hơn 12,3 tỉ đồng. Có thêm 20.875 đôi mũ giày và 10.800 đôi đế giày mang dấu hiệu Nike đang trong quá trình hoàn thiện được phát hiện, với tổng trị giá hơn 11,2 tỉ đồng. Nếu tính theo giá thị trường, tổng giá trị hàng hóa là hơn 100 tỉ đồng.

    Làm việc với đoàn kiểm tra, đại diện doanh nghiệp cho biết toàn bộ số hàng hóa được sản xuất theo hợp đồng gia công ký với Công ty F.C.T. Nguyên vật liệu do đối tác nước ngoài cung cấp, doanh nghiệp thực hiện gia công theo đơn đặt hàng và xuất trả sản phẩm cho đối tác để xuất khẩu.

    Doanh nghiệp đã xuất trình tài liệu, gồm hợp đồng gia công, thư điện tử trao đổi với đối tác, tài liệu được cho là giấy ủy quyền sử dụng nhãn hiệu Nike cùng các hồ sơ xuất khẩu để giải trình về nguồn gốc lô hàng. 

    Xuất khẩu trót lọt 11 container sang Mỹ giả nhãn hiệu 

    Các lô hàng xuất khẩu sang Mỹ đều là hàng giả - Ảnh: QLTT cung cấp

    Theo hồ sơ doanh nghiệp cung cấp, từ đầu năm 2026 đến thời điểm kiểm tra, doanh nghiệp đã xuất khẩu trót lọt 11 container sang thị trường Mỹ giày thành phẩm mang nhãn hiệu Nike và Air Jordan, với tổng trị giá khai báo hơn 25,46 tỉ đồng.

    Tuy nhiên, theo văn bản xác nhận của Nike Việt Nam và thư của Giám đốc cấp cao Bộ phận License (giấy phép) toàn cầu của Nike Inc., Nike khẳng định chưa từng cấp bất kỳ giấy phép, hợp đồng hoặc văn bản ủy quyền nào cho Công ty MP. hoặc L.L.C. 

    Hãng Nike cũng không cho phép các tổ chức, cá nhân này đại diện hoặc nhân danh Nike trong hoạt động kinh doanh.

    Trên cơ sở kết quả kiểm tra thực tế, tài liệu doanh nghiệp cung cấp, ý kiến xác nhận của chủ thể quyền và các thông tin do HSI trao đổi, đoàn kiểm tra nhận định số hàng hóa nêu trên có dấu hiệu giả mạo các nhãn hiệu đang được bảo hộ tại Việt Nam.

    Xưởng làm hàng giả sản phẩm thương hiệu nổi tiếng - Video: QLTT cung cấp

    Theo Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước, đây là một trong những vụ việc có quy mô lớn, tính chất phức tạp về xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ được phát hiện. Vụ việc không chỉ liên quan đến số lượng hàng hóa rất lớn mà còn có yếu tố xuyên biên giới, với sự tham gia của các tổ chức, doanh nghiệp tại Mỹ, Trung Quốc và Việt Nam.

    Đây không chỉ là vụ việc có quy mô lớn về số lượng hàng hóa, mà còn phản ánh phương thức lợi dụng hoạt động gia công quốc tế và các tài liệu được cho là hợp pháp bị làm giả mạo để đưa hàng hóa giả vào chuỗi cung ứng xuyên biên giới.

    Theo ông Trần Hữu Linh, Cục trưởng Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước, kết quả bước đầu của vụ việc khẳng định quyết tâm thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đấu tranh chống hàng giả, xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp, quyền sở hữu trí tuệ. Việc này cho thấy cơ chế phối hợp quốc tế trong phát hiện, chia sẻ thông tin và xử lý các vụ việc có yếu tố xuyên biên giới.

    "Việc phát hiện không chỉ có ý nghĩa ở góc độ xử lý một hành vi vi phạm, mà đã phát hiện ra phương thức vi phạm có thể còn tồn tại ở nhiều trên thị trường, với sự tham gia của nhiều bên, thậm chí có thể có cả sự thông đồng", ông Linh nhấn mạnh.

    Hiện Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước đã lập biên bản kiểm tra, áp dụng các biện pháp ngăn chặn theo quy định. Đồng thời tiếp tục củng cố hồ sơ, mở rộng phạm vi nguồn gốc, xuất xứ của nguyên liệu, đối tác nhập khẩu. Cục dự kiến chuyển vụ việc sang cơ quan điều tra để xem xét, xử lý nghiêm minh, bóc dỡ đường dây vi phạm tới tận cùng.

    Phát hiện doanh nghiệp sao chép mã truy xuất nguồn gốc khi bắt hàng giả

    Phan Hậu

    22/05/2026

    Khi bắt giữ nhiều vụ hàng giả, hàng xâm phạm sở hữu trí tuệ, quản lý thị trường phát hiện hiện tượng sao chép mã QR code truy xuất nguồn gốc sản phẩm hàng hóa hiện nay rất phổ biến.

    Đó là thông tin cảnh báo từ ông Trần Hữu Linh, Cục trưởng Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước (Bộ Công thương), khi chia sẻ tại tọa đàm: "Truy xuất nguồn gốc - Lá chắn bảo vệ doanh nghiệp và người tiêu dùng", do Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước, Tạp chí Tiếp thị và Gia đình tổ chức tại Hà Nội ngày 22.5.

    Phát hiện doanh nghiệp sao chép mã truy xuất nguồn gốc khi bắt hàng giả- Ảnh 1.

    Ông Trần Hữu Linh (thứ 2 từ trái qua) cảnh báo về "phong trào" nhà nhà, doanh nghiệp làm truy xuất nguồn gốc nhưng người tiêu dùng không nhận được đầy đủ thông tin nhận biết đâu là hàng giả, đâu là hàng thật

    ẢNH: P.H

    Theo ông Trần Hữu Linh, từ 1.7, luật Chất lượng sản phẩm hàng hóa chính thức có hiệu lực, nhiều nhóm hàng có nguy cơ rủi ro cao bắt buộc phải có truy xuất nguồn gốc.

    Ngoài ra, nhiều quốc gia trên thế giới hiện nay đặt ra yêu cầu hàng hóa xuất khẩu từ Việt Nam phải có mã số truy xuất nguồn gốc. Đơn cử như thị trường EU, từ năm 2027, các sản phẩm dệt may, da giày xuất khẩu vào khu vực này phải có "hộ chiếu" riêng, mô tả kỹ từ nguyên liệu, thành phần cấu tạo.

    Theo đó, ông Linh nhấn mạnh, truy xuất nguồn gốc phải xuất phát từ doanh nghiệp để có công cụ cho phép theo dõi, nhận diện được sản phẩm từ nguồn nguyên liệu, sản xuất, vận chuyển và phân phối đến người tiêu dùng. 

    Đây cũng là giải pháp để bảo vệ người tiêu dùng trước vấn nạn hàng giả, hàng nhái, hàng vi phạm sở hữu trí tuệ. Đây cũng là công cụ để cơ quan chức năng có nhận diện hàng giả, hàng thật để quản lý thị trường, bảo vệ quyền lợi chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng.

    Cục trưởng Cục Quản lý và phát triển thị trường trong nước đề nghị các doanh nghiệp phải hiểu đúng và làm đúng quy định về truy xuất nguồn gốc. Thực tế hiện nay đang có "phong trào nhà nhà, doanh nghiệp làm QR code" nhưng người tiêu dùng không nhận được đầy đủ thông tin nhận biết đâu là hàng giả, đâu là hàng thật.

    Chia sẻ từ trải nghiệm bản thân, ông Linh cho hay, cách đây vài ngày, khi trực tiếp kiểm tra nguồn gốc đồ uống chế biến từ sâm tại gia đình, mã QR code trên sản phẩm này không hoạt động. Trong nhiều vụ bắt giữ hàng giả gần đây, cán bộ quản lý thị trường phát hiện tình trạng sao chép mã QR code là rất phổ biến. Hàng của doanh nghiệp này nhưng lại lấy mã của đơn vị khác để gắn lên.

    Cũng theo ông Linh, nguy hiểm nhất là trên các sản phẩm gas, có tình trạng doanh nghiệp này sử dụng vỏ bình của doanh nghiệp khác nhưng mã số trên thân bình được mài mòn đi, quá trình này làm vỏ bình mỏng đi, tiềm ẩn nguy cơ cháy nổ, mất an toàn cho người sử dụng.

    "Trước đây, từng có giai đoạn nhiều doanh nghiệp chạy theo trào lưu làm tem chống hàng giả và cho rằng như vậy là đã chống được hàng giả và với truy xuất nguồn gốc cũng cần nhìn nhận lại bản chất vấn đề để hiểu đúng và làm đúng. Truy xuất nguồn gốc không chỉ là công cụ quản lý mà là nền tảng xây dựng niềm tin, bảo vệ doanh nghiệp, nâng cao sức cạnh tranh. Chỉ khi mỗi sản phẩm có chứng minh thư rõ ràng về xuất xứ, quy trình sản xuất, chất lượng và hành trình lưu thông thì thị trường mới có thể vận hành minh bạch, bền vững", ông Linh nói.

    Ông Linh cho rằng, ngoài các quy định pháp luật, yêu cầu đòi hỏi từ người tiêu dùng, để truy xuất nguồn gốc phát huy hiệu quả, quan trọng nhất nằm ở ý thức trách nhiệm, hệ thống quản lý nội bộ của doanh nghiệp. Doanh nghiệp thực sự muốn quản lý tốt sản phẩm, bảo vệ người tiêu dùng thì mới đầu tư nghiêm túc cho hệ thống truy xuất nguồn gốc.

    Vượt Việt Nam, hơn 40 tỉ USD FDI vào Thái Lan nhờ bùng nổ đầu tư AI

    Bloomberg Businessweek Việt Nam

    Tác giả: Suttinee Yuvejwattana

    24 tháng 07, 2026 

    BBWV - Các nhà đầu tư nước ngoài đã nộp đơn đăng ký đầu tư 1,37 ngàn tỉ baht (40,6 tỉ USD) vào Thái Lan trong nửa đầu năm 2026, tăng 80% so với một năm trước đó, giữa bối cảnh làn sóng đầu tư vào các dự án trí tuệ nhân tạo và trung tâm dữ liệu bùng nổ.

    Hình ảnh: Dario Pignatelli/Bloomberg

    Các nhà đầu tư nước ngoài đã nộp đơn đăng ký đầu tư 1,37 ngàn tỉ baht (40,6 tỉ USD) vào Thái Lan trong nửa đầu năm 2026, tăng 80% so với một năm trước đó, giữa bối cảnh làn sóng đầu tư vào các dự án trí tuệ nhân tạo (AI) và trung tâm dữ liệu bùng nổ.

    Ủy ban Đầu tư Thái Lan (BOI) đã nhận được 1.299 đơn đăng ký đầu tư từ cả trong và ngoài nước với tổng số vốn 1,47 ngàn tỉ baht trong 6 tháng tính đến ngày 30 tháng 6, trong đó các hồ sơ FDI nhắm vào 877 dự án, Tổng thư ký BOI Narit Therdsteerasukdi cho biết trong một tuyên bố hôm thứ Năm. Riêng lĩnh vực kỹ thuật số đã chiếm tới 1,12 ngàn tỉ baht, tương đương hơn 3/4 tổng số đơn đăng ký.

    Các khoản đầu tư đề xuất này — dù không phải tất cả đều có thể trở thành hiện thực — là tin mừng đối với chính phủ của Thủ tướng Anutin Charnvirakul, người đã cam kết thúc đẩy một nền kinh tế đang có mức tăng trưởng tụt hậu so với các nước láng giềng như Indonesia, Malaysia và Việt Nam. Chúng cũng cho thấy tác động từ cuộc chiến ở Trung Đông (vốn làm đẩy chi phí năng lượng và các chi phí khác lên cao) đã không thể làm suy giảm sức hút của quốc gia này.

    "Tăng trưởng đầu tư của Thái Lan vẫn giữ vững ngay cả khi nền kinh tế thế giới phải đối mặt với những biến động thực sự," ông Narit cho biết. “Điều này phản ánh niềm tin mạnh mẽ của nhà đầu tư vào tiềm năng của Thái Lan với tư cách là một đại bản doanh cho các ngành công nghiệp của tương lai.”

    Làn sóng đầu tư tăng vọt diễn ra trong bối cảnh Thái Lan đã vươn lên thành một điểm đến trong khu vực về hạ tầng AI và điện toán đám mây.

    Các công ty công nghệ toàn cầu bao gồm Google (thuộc Alphabet Inc.), Amazon Web Services và Microsoft Corp. đều đã công bố các khoản đầu tư lớn nhằm mở rộng hạ tầng đám mây và AI tại nước này. Vào tháng 5, BOI đã phê duyệt khoản mở rộng hạ tầng dữ liệu trị giá 842 tỉ baht của TikTok System (Thái Lan), bao gồm các dịch vụ lưu trữ dữ liệu, máy chủ và cơ sở lưu trữ.

    Bên cạnh lĩnh vực kỹ thuật số, các dự án điện và điện tử đã thu hút 120,2 tỉ baht tiền đăng ký đầu tư, tiếp theo là nông nghiệp và chế biến thực phẩm với 61,4 tỉ baht; dịch vụ logistics và dịch vụ giá trị cao với 40,2 tỉ baht; cùng các dự án ô tô đạt 25,7 tỉ baht.

    Ông Narit cho biết các dự án được phê duyệt dự kiến sẽ tạo ra hơn 82.000 việc làm, mang lại kim ngạch xuất khẩu hàng năm vượt quá 1,24 ngàn tỉ baht và tiêu thụ khoảng 386 tỉ baht nguyên liệu thô trong nước mỗi năm.

    “Giá trị đầu tư không phải là mục tiêu duy nhất,” ông Narit nhấn mạnh. “Thành công thực sự đồng nghĩa với việc tạo ra công ăn việc làm chất lượng, nâng cao tay nghề và mang lại thu nhập tốt hơn cho công nhân Thái Lan.”

    Bổ sung từ Bloomberg Businessweek Việt Nam: Sự bứt phá dòng vốn FDI của Thái Lan tạo ra góc nhìn so sánh đáng chú ý đối với bức tranh đầu tư trong khu vực. Trong nửa đầu năm 2026, Việt Nam tiếp tục ghi nhận kết quả tích cực với tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký đạt 34,65 tỉ USD, tăng 61% so với cùng kỳ, nhưng vẫn ít hơn 6 tỉ USD so với Thái Lan.

    Bloomberg Businessweek Việt Nam


    Không có nhận xét nào