Header Ads

  • Breaking News

    Ai đang hưởng lợi từ những cuộc đấu tố ở Việt Nam?

    Tác giả: GS Stephen B. Young

    Bản dịch từ CRT Admin

    06/8/2026

    Các chiến dịch đấu tố  chính trị vẫn tiếp tục lan rộng, bất chấp Chỉ thị số 07 và ngay cả khi người đứng đầu Đảng công khai cổ xúy cho tinh thần khai phóng trí tuệ. Nếu hiện tượng chia rẽ này chỉ đơn thuần là biểu hiện cực đoan tự phát của dăm ba trăm “Hồng vệ binh” Việt bất mãn, tại sao họ có thể mở hết đợt tấn công này đến đợt tấn công khác mà không bị ngăn chặn? Ai đang chống lưng họ? Phải chăng phía sau họ có một thế lực đang theo đuổi một nghị trình nào đó chống lại Việt Nam?

    Nhà ái quốc La Mã Marcus Tullius Cicero từng dạy chúng ta phải luôn đặt câu hỏi: “Cui bono?” — Ai là người hưởng lợi?

    Người dân Việt Nam không được hưởng lợi từ những chiến dịch đấu tố; họ cũng chẳng được lợi lộc gì từ sự trì trệ kinh tế hay nguy cơ tụt hậu so với các quốc gia khác về công nghệ và trí tuệ nhân tạo.

    Vậy ai có thể “đục nước béo cò” khi con cháu Lạc Long Quân và Âu Cơ bị cuốn vào một cuộc chiến dường như bất tận giữa người Việt với người Việt?

    “Một ngàn năm nô lệ giặc Tàu
    Một trăm năm đô hộ giặc Tây
    Hai mươi năm nội chiến từng ngày
    Gia tài của mẹ, một rừng xương khô
    Gia tài của mẹ, một núi đầy mồ”

    — Trịnh Công Sơn

    1. Khi một cuốn sách trở thành chiến trường

    Những cuộc đấu tố khởi đầu từ việc phê phán cuốn Chuyện với Thanh đã không còn là một cuộc tranh luận văn chương. Chúng đã trở thành một phép thử đối với cán cân quyền lực  trong hệ thống chính trị Việt Nam. Bắt đầu từ một vài đoạn văn trong cuốn sách, các đợt tấn công nhanh chóng mở rộng sang tác giả, nhà xuất bản, báo chí, giới văn nghệ sĩ, cũng như những người bị nghi ngờ đã bảo trợ hoặc che chở cho tác phẩm.

    Một cuộc “truy sát văn chương” nữa lại được mở ra — tiếp nối hàng chục vụ việc tương tự từng xảy ra trên đất nước vốn đã chịu quá nhiều đau khổ này. Nhưng dường như bản thân những cuốn sách không phải là mục tiêu cuối cùng của những cuộc đấu tố. Không! Điều đang bị tấn công là một cái gì đó sâu xa hơn, thuộc về chính căn tính của Việt tộc.

    Sau Chuyện với Thanh, việc truy sát những biểu hiện bị coi là “lệch chuẩn” đã lan sang các tác phẩm cũ, những cách diễn giải khác nhau về  lịch sử, và thậm chí cả những thiết chế văn học được chính thức công nhận. Nguyễn Quang Thiều, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam, cũng trở thành một mục tiêu.

    Cuộc tranh luận không còn xoay quanh câu hỏi tác phẩm này hay tác phẩm kia hay hoặc dở, sự kiện nào đúng hoặc sai. Thay vào đó, những người buộc tội muốn biết tác giả đứng về phía nào và ai là người “chống lưng” cho ông ta.

    Đó là chiến thuật phổ biến của mọi chiến dịch đấu tố chính trị: thay vì bác bỏ một quan điểm, người ta hình sự hóa động cơ của tác giả; thay vì thảo luận về sự thật, người ta chất vấn lòng trung thành của người ấy. Đó là cách sử dụng giản đơn những lập luận ad hominem – công kích cá nhân – vốn không thể chứng minh được điều gì, mà chỉ dùng các ngoa ngữ để chia rẽ con người với nhau.

    Gustave Le Bon từng nhận xét rằng xây dựng một nền văn minh đòi hỏi những bộ óc sáng tạo, trong khi phá hủy nó chỉ cần một đám đông bị kích động. Đám đông ấy không nhất thiết phải hiểu đầy đủ điều mà họ tuyên bố đang cổ súy. Họ chỉ cần được trao cho một kẻ thù, một khẩu hiệu và niềm  tin rằng mình là hiện thân của chính nghĩa. Nhưn thật ra, đó chỉ là việc khai thác những cảm xúc ấu trĩ, chứ không phải lý trí trưởng thành.

    Tin tức

    “Những hồng vệ binh” Việt Nam ngày nay không cần băng đỏ trên tay hay cuốn Mao tuyển nhỏ cùng màu. Họ sử dụng Facebook, TikTok, YouTube và những diễn đàn được định hướng chính trị. Tuy vậy, phương pháp căn bản của họ vẫn không thay đổi so với tiền lệ Trung Quốc: tách một câu văn khỏi văn cảnh, gán cho nó một động cơ chính trị, dựng lên một “kẻ phản bội”, rồi huy động đám đông “hành quyết danh dự” của người ấy.

    Điều đặc biệt đáng chú ý là chiến dịch này vẫn tiếp diễn ngay cả sau khi Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị số 07 nhằm tăng cường kỷ luật, điều chỉnh các phát ngôn công khai và kiềm chế những biểu hiện kiêu ngạo chính trị trong hệ thống. Người ta có thể nghĩ rằng một chỉ thị của Bộ Chính trị đã đủ để khiến ngay cả những phần tử cực đoan nhất phải thoái lui. Nhưng điều xảy ra dường như lại ngược lại: các mặt trận đấu tố mới vẫn tiếp tục được mở ra.

    Vậy ai đã trao cho những “tân Hồng vệ binh” Việt sự tự tin — và cả sự kiêu ngạo – đến dường ấy?

    2. Khi ngay cả người đứng đầu Đảng cũng bị bịt miệng

    Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm từng nhiều lần nói về giáo dục khai phóng, khoa học và công nghệ, đổi mới tư duy và một “kỷ nguyên vươn mình của dân tộc”. Thế nhưng,  trong khi ông nói về sự cởi mở, không gian trí tuệ của Việt Nam lại đang bị thu hẹp. Trong khi ông kêu gọi đổi mới, những tác phẩm đưa ra cách lý giải lịch sử khác với câu chuyện chính thống lại bị đưa ra đấu tố công khai.

    Sự bất tuân này không thể tiếp tục bị coi nhẹ như hành động của thiểu số cá nhân riêng lẻ. Nó cho thấy có thể đang tồn tại những thế lực công khai “ngáng chân” – thậm chí bịt miệng – chính những thông điệp của người đứng đầu Đảng.

    Nếu những người tham gia các chiến dịch này chỉ là dăm ba trăm “bò đỏ” tự huy động – cách gọi tại Việt Nam dành cho những phần tử dân tộc chủ nghĩa cực đoan, hiếu chiến trên mạng – thì họ khó có thể mở hết mặt trận này sang mặt trận khác, lôi kéo cả báo chí, các đoàn thể quần chúng và những mạng lưới bảo trợ mà không vấp phải một phản ứng thể chế dứt khoát. Càng khó giải thích hơn vì sao Chỉ thị số 07 lại không thể ngăn chặn “làn thủy triều đỏ” ấy.

    Ai đứng đằng sau họ? Ai định hướng, cung cấp diễn đàn và bảo đảm sự an toàn  chính trị cho họ? Vì sao họ tin rằng mình có thẩm quyền phán xét các thiết chế chính thức, những cán bộ cấp cao và các nhà văn, nghệ sĩ đã thành danh? Và vì sao một Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đã tập trung quyền lực đến mức hiếm thấy trong lịch sử Việt Nam hiện đại lại không thể – hoặc không muốn – buộc họ phải dừng lại?

    Chính việc cần phải đặt ra những câu hỏi ấy cho thấy quyền lực của Tô Lâm có thể không lớn như bề ngoài.

    Ông có thể kiểm soát nhiều cơ quan, nhưng điều đó không nhất thiết có nghĩa là ông đủ sức chế ngự mọi mạng lưới quyền lực khác nhau đã ăn sâu vào chế độ. Những mạng lưới con người này đã hình thành qua nhiều thập niên, bao gồm các thành viên của bộ máy tuyên truyền, quân đội, công an, các tổ chức quần chúng, doanh nghiệp có quan hệ chính trị và những mối quan hệ với nước ngoài — những mạng lưới đồng sự không xuất hiện trên bất kỳ sơ đồ tổ chức chính thức nào.

    Cũng không thể loại trừ khả năng chính Tô Lâm từng tìm cách sử dụng các khuynh hướng bảo thủ trong chế độ để loại bỏ đối thủ và củng cố quyền lực của mình. Tuy nhiên, một khi được “tháo cũi sổ lồng”, các phe phái ấy có thể đã tạo ra động năng riêng, cuối cùng thậm chí tìm cách hạn chế chính nghị trình mà Tổng Bí thư tuyên bố là của mình – nghị trình được đề ra nhằm đưa nhân dân Việt Nam bước vào một “kỷ nguyên mới”.

    3. Ai hưởng lợi khi mặt nước yên tĩnh bị khuấy động?

     Trong mọi cuộc khủng hoảng chính trị, câu hỏi quan trọng nhất không chỉ là ai đã khởi xướng, mà còn là ai được hưởng lợi.

    Người dân Việt Nam chắc chắn không được hưởng lợi. Trong khi xã hội bị cuốn vào những cuộc tranh cãi gay gắt quanh một câu văn trong một cuốn sách, những vấn đề ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống hằng ngày lại bị đẩy khỏi cuộc thảo luận công khai: khó khăn kinh tế, doanh nghiệp kiệt quệ, thị trường bất động sản trì trệ, thất nghiệp, chất lượng giáo dục và y tế suy giảm, những khoản tiền phạt vượt quá khả năng tài chính của nhiều gia đình, cùng một bộ máy hành chính dù đã được tinh giản nhưng tại một số nơi lại trở nên nặng nề hơn.

    Giới văn nghệ sĩ càng không được hưởng lợi. Một xã hội  trong đó mỗi tác giả đều phải tự hỏi câu văn nào của mình có thể bị tách ra và sử dụng như bằng chứng chống lại mình sẽ không thể sản sinh ra những tác phẩm lớn. Nếu người nghệ sĩ không thể nói lên sự thật, ít nhất họ có thể từ chối tham gia vào việc nói dối. Nhưng trong bầu không khí đấu tố chính trị, ngay cả sự im lặng cũng có thể bị diễn giải như một lập trường chính trị.

    Về lâu dài, bản thân chế độ cũng không được hưởng lợi. Khi lòng trung thành thay thế năng lực, tố giác thay thế phê bình và đám đông thay thế pháp quyền, hệ thống sẽ mất khả năng tự sửa chữa những sai lầm của chính mình. Những “vi khuẩn” mà Le Bon mô tả là đang ăn mòn một nền văn minh không thể lây nhiễm một cơ thể khỏe mạnh; chúng chỉ sinh sôi sau khi cộng đồng ấy đã bị suy yếu từ bên trong.

    Nhưng thế lực bên ngoài nào muốn Việt Nam tiếp tục bất ổn, không có khả năng tiến hành những cải cách thực chất và không thể xây dựng một đồng thuận dân tộc mới, những thế lực ấy sẽ hưởng lợi rất lớn từ sự chia rẽ do chính người Việt gây ra cho nhau.

    Thế lực ấy không cần trực tiếp tạo ra từng chiến dịch đấu tố. Chúng chỉ cần khai thác những chia rẽ sẵn có, khuếch đại nỗi sợ hãi và sự oán giận, khuyến khích những người cảm thấy bất an trước thay đổi, đồng thời khiến các phe phái ấy  tin rằng mỗi bên đều đang chiến đấu chính đáng để bảo vệ nguyên trạng mà họ trân trọng hoặc nguyên trạng đang che chở cho họ.

    Một đất nước bị cuốn vào một “cuộc nội chiến tinh thần” sẽ không còn đủ năng lực trí tuệ để nhìn ra bên ngoài và hướng tới tương lai. Một dân tộc vẫn tiếp tục tranh cãi về kẻ thắng và người thua của nửa thế kỷ trước sẽ rất khó xây dựng chiến lược cho nửa thế kỷ tiếp theo. Và một ban lãnh đạo thường xuyên phải kiềm chế những xung đột nội bộ sẽ khó theo đuổi một chính sách đối ngoại thực sự độc lập.

    Không cần thiết phải nêu tên thế lực bên ngoài ấy. Chỉ cần nhìn vào la bàn và tự hỏi: Ai luôn muốn một Việt Nam không sụp đổ, nhưng cũng không đủ mạnh và không đủ đoàn kết để thoát khỏi quỹ đạo của mình?

    Nhân dịp này nhắc lại ba sự kiện lịch sử đáng được lưu ý:

    Thứ nhất, theo lời cha tôi – người có mặt tại Hội nghị Genève năm 1954 trên cương vị một nhà ngoại giao cấp cao của Hoa Kỳ – trong quá trình thương lượng nhằm chấm dứt cuộc chiến tranh thuộc địa của Pháp tại Đông Dương, việc chia cắt Việt Nam thành hai nhà nước có khả năng đối đầu nhau là do Bắc Kinh đề xuất và sau đó được Paris chấp thuận.

    Thứ hai, theo lời những người bạn của tôi, vốn là đồng nghiệp của Đại sứ Việt Nam Cộng hòa Nguyễn Văn Kiểu tại Đài Bắc, vào đầu năm 1975, khi bộ đội miền Bắc đang tiến về Nam hướng tới Sài Gòn, Đại sứ Kiểu đã chuyển đến người anh trai của mình – Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Nguyễn Văn Thiệu – một đề nghị từ Bắc Kinh. Bắc Kinh hứa, nếu ông Thiệu chấm dứt liên minh giữa Việt Nam Cộng hòa với Hoa Kỳ, Trung Quốc sẽ đứng ra bảo vệ miền Nam Việt Nam và chống lại cuộc tiến công của Hà Nội. Ông Thiệu đã từ chối đề nghị này.

    Thứ ba, cũng  trong năm 1975, vào ngày 30 tháng Tư, theo học giả George J. Veith, Thiếu tướng Pháp về hưu Paul Vanuxem đã gặp Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Dương Văn Minh tại Dinh Độc Lập và thúc giục ông tiếp tục cầm cự ít nhất thêm 24 giờ, công khai đoạn tuyệt với Hoa Kỳ và tìm kiếm sự bảo trợ từ Trung Quốc. Theo một số nhân chứng có mặt trong cuộc gặp, Vanuxem cho rằng Trung Quốc sẽ gây sức ép buộc Hà Nội chấp nhận ngừng bắn và có thể can thiệp quân sự.

    Veith cũng dẫn lời cựu viên chức ngoại giao Việt Nam Cộng hòa Nguyễn Xuân Phong, người cho rằng “sức mạnh” mà Bắc Kinh đề xuất cung cấp ban đầu sẽ bao gồm hai sư đoàn lính dù Trung Quốc đổ bộ xuống Biên Hòa, dưới sự che chở của một lực lượng quốc tế do Pháp lãnh đạo. (Theo “China and the Fall of South Vietnam: The Last Great Secret of the Vietnam War”, Chương trình  Lịch sử và Chính sách công của Trung tâm Wilson, công bố ngày 9/2/2022).

    4. Hai bộ mặt của cùng một chiến lược

    Vụ chìm tàu Khôi Nguyên 18 gần đá Chữ Thập trên Biển Đông, với nguyên nhân chưa được giải thích rõ ràng, cung cấp một ví dụ đáng chú ý về một chiến lược phân đôi.

    Trong một hoạt động can thiệp nhân đạo, lực lượng hải quân Trung Quốc đã nhanh chóng cứu được phần lớn thủy thủ Việt Nam. Hành động này cho thấy Trung Quốc thực sự là một cường quốc có khả năng đến hiện trường nhanh nhất và duy trì sự hiện diện thường trực quanh đá Chữ Thập.

    Sự thể hiện “lòng tốt” ấy đối với những người Việt Nam gặp nạn tương phản với cách Trung Quốc hành xử đối với Philippines: sử dụng vòi rồng, gây ra những vụ va chạm nguy hiểm, cản trở các nhiệm vụ tiếp tế và đe dọa ngư dân Philippines. Hai cách hành xử ấy có vẻ không nhất quán, nhưng chúng có thể là hai bộ mặt của cùng một chiến lược phô diễn quyền lực nhằm đạt được các mục đích  chính trị.

    Philippines công khai liên kết với Hoa Kỳ và phản đối những hành vi cưỡng ép của Trung Quốc đối với các vùng lãnh thổ của mình trên Biển Đông; vì vậy, theo cách nhìn của Trung Quốc, Philippines phải bị trừng phạt. Trong khi đó, đối với Việt Nam, Trung Quốc đồng thời sử dụng cả ve vãn, dụ dỗ lẫn đe dọa, bởi Bắc Kinh không muốn đẩy Hà Nội hoàn toàn vào vòng tay Washington.

    Một nước được cho thấy cái giá phải trả cho sự bất tuân. Nước kia được nhắc nhở về những lợi ích được cho là sẽ có nếu tiếp tục nằm dưới ảnh hưởng của Trung Quốc. Trong trường hợp Việt Nam, những lợi ích được chào mời ấy được dành sẵn cho những người Việt Nam có thể bị cám dỗ tận dụng chúng.

    5. Hai mũi xung kích và một bàn tay vô hình

    Trong cuộc xung đột hiện nay, bộ máy tuyên truyền và một số các cựu lãnh đạo quân nhân như Trung tướng Hoàng Kiền và Thiếu tướng Nguyễn Thanh Tuấn đã nổi lên như hai mũi xung kích dễ nhận thấy nhất đang thúc đẩy sự mất ổn định mang tính hệ thống tại Việt Nam.

    Bộ máy tuyên truyền tự nhận cho mình một dạng “vốn xã hội” – đó là quyền lực xác định tính chính thống: cách kể lịch sử thế nào là đúng, ai đủ tư cách là người yêu nước, tác phẩm nào là “lệch chuẩn” và tư tưởng nào mang nguy cơ “tự diễn biến”. Một số thành phần  trong các tổ chức cựu chiến binh lại sở hữu một dạng vốn biểu tượng khác: uy tín đạo đức đến từ những đau thương và hy sinh trong chiến tranh, cùng tính chính danh chính trị đi kèm với chiến thắng.

    Khi hai nguồn quyền lực nói trên này kết hợp với nhau, một cuộc tranh luận văn học vốn vô hại có thể lập tức bị biến thành một vụ truy tố chính trị. Các câu hỏi nhanh chóng không còn là tác phẩm đúng hay sai ở điểm nào, mà chuyển thành tác giả thuộc phe nào, liệu người ấy có xúc phạm quá khứ hay không và ai đã cho phép tác phẩm xuất hiện.

    Chính trị

    Không có bằng chứng công khai nào chứng minh rằng những lực lượng nói trên đang nhận chỉ thị trực tiếp từ nước ngoài. Nhưng ảnh hưởng chiến lược không nhất thiết phải vận hành thông qua những cam kết hợp đồng công khai. Nó có thể vượt qua biên giới nhờ sự tương đồng về ý thức hệ, các mối quan hệ cá nhân, lợi ích phe phái và bản năng tự bảo vệ của những người lo sợ sẽ mất địa vị nếu đất nước tiến hành cải cách.

    Những bàn tay vô hình đứng sau chiến dịch không cần kiểm soát từng quân cờ trên bàn cờ đấu tố. Nó chỉ cần bảo đảm rằng cuộc truy sát diễn biến theo hướng có lợi cho mình.

    Bộ máy tuyên truyền bảo vệ sự độc quyền đối với chân lý. Các nhóm dân tộc chủ nghĩa cực đoan bảo vệ một cách diễn giải  lịch sử giúp duy trì địa vị chính trị của họ. “Bò đỏ” tìm thấy cảm giác quyền lực thông qua đấu tố. Các phe phái chính trị sử dụng những “vụ án chương” này để nhận diện và loại bỏ đối thủ.

    Động cơ của họ có thể khác nhau, nhưng hậu quả lại hội tụ: xã hội bị chia rẽ, cải cách bị cản trở, Tô Lâm bị kìm giữ trong trạng thái đối đầu  chính trị triền miên và Việt Nam tiếp tục bị giam cầm trong một quỹ đạo ý thức hệ – một quỹ đạo được một bộ phận người Việt đón nhận nhưng có nguồn gốc từ bên ngoài dội vào.

    6. Một Chỉ thị số 07 vẫn chưa đủ

    Chỉ thị số 07 do Bộ Chính trị ban hành có thể điều chỉnh những phát ngôn công khai, khôi phục kỷ luật và tạm thời khiến một số cá nhân im tiếng. Nhưng một chỉ thị hành chính không thể chữa trị những rối loạn do chính cấu trúc quyền lực tạo ra.

    Muốn chấm dứt nạn “kiêu binh chính trị” của một số người đối với những người khác, trước hết phải từ bỏ độc quyền chân lý. Muốn ngăn chặn các chiến dịch đấu tố, phải bảo vệ quyền tranh luận. Muốn vô hiệu hóa ảnh hưởng từ bên ngoài, Việt Nam phải xây dựng những thể chế minh bạch, trong đó không một mạng lưới phe phái nào có thể viện dẫn lòng yêu nước để bịt miệng người khác.

    Bàn tay nguy hiểm nhất không nhất thiết là bàn tay công khai vươn vào từ bên ngoài. Nguy hiểm hơn là bàn tay đã tìm được – ngoài tầm nhìn của công chúng – những bàn tay bên trong đất nước sẵn sàng hành động thay cho họ.

    Và khi điều ấy xảy ra, một mệnh lệnh kích động bất tuân không cần phải từ bên kia biên giới; một chiến dịch không cần mang danh nghĩa nước ngoài; và những công dân Việt Nam vẫn có thể nhân danh lòng yêu nước  trong khi giúp kẻ khác giam giữ đất nước mình mãi mãi trong một vùng nước tù đọng và “nội chiến tình thần” liên miên.

    Dường như một Chỉ thị số 07 vẫn chưa đủ.

    Nhưng quốc gia này sẽ còn cần thêm bao nhiêu chỉ thị 07 của Bộ Chính trị nữa trước khi nhận ra rằng vấn đề không chỉ nằm ở những kẻ khuấy bùn lên mặt nước, mà còn nằm ở chính cái ao tù đã từ lâu đem lại sự yên ổn và thịnh vượng cá nhân cho bọn họ?

    Và dân tộc này – đất nước này, sẽ còn phải tiếp tục trầm luân đến bao giờ?

    ______

    Một phiên bản Anh ngữ của bài viết có thể đọc được tại đây: Who Is Behind Vietnam’s “Red Guards” And Why? – Caux Round Table for Moral Capitalism

    Tác giả: Giáo sư Stephen B. Young, Tiến sĩ Luật, Tổng Giám đốc Toàn cầu – Caux Round Table for Moral Capitalism.


    Không có nhận xét nào