Mai Công Nguyễn
25/8/2026
“…Trong cái càn khôn mới, việc quan trọng hàng đầu, cũng là cơ bản nhất, đó là ước vọng chính trị, văn hóa: “Lập Quyền Dân. Tiến lên Việt Nam”.
Sau này lớn lên mới hiểu ra hai cụ Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh từng nói với nhau: Giành được độc lập rồi mà dân quyền không có thì cũng chẳng nghĩa lý gì. Rồi lại còn biết chính ông Hồ cũng từng có ý kiến tương tự: Độc lập, thống nhất rồi mà dân không có hạnh phúc, tự do thì cũng chẳng có nghĩa lý gì!
Nguyễn Trãi nói: “Càn khôn bĩ rồi lại thái”, nên phải An Dân, phải Nhân Nghĩa, phải có Thái bình thiên tử, Thái bình Dân. Lại phải “Văn trị ưng tu trí thái bình”. Hơn nữa, “Làm sao trong thôn cùng xóm vắng không còn lời hờn giận oán sầu”.
Tôi mượn một ý tưởng của Lỗ Tấn: Nhân loại từ xưa không có đường. Nhưng cứ đi mãi rồi thành đường.
Hy vọng cũng như thế. Nhưng đám già rồi làm được gì. Hãy trao hy vọng cho GEN Z.
Nguyễn Phúc Giác Hải, nhà nghiên cứu ngoại cảm nổi tiếng một thời, khi còn sống từng giải thích cho tôi: “Đó là câu sấm nói về chín năm làm một Điện Biên”, để rồi “bát vạn Hồ binh nhập Thăng Long”. Tức là nói về sự kiện Việt Minh rút khỏi Hà Nội năm 1946 và sau khi tiến hành cuộc kháng chiến thần thánh trong chín năm, đuổi quân Pháp về bên kia vĩ tuyến 17. Đó chính là giai đoạn 1946-1954, mà đỉnh điểm là Chính phủ ông Hồ đã trở về Hà Nội.
Vào thời đó, Tố Hữu từng có câu: “Xưa là rừng núi là đêm. Nay thêm sông biển lại thêm ban ngày!”. Một Càn Khôn – Đất Trời được khẳng định.
Nay, tôi có học chút Kinh Dịch, học cả Đạo Đức Kinh của Lão Tử, lại tiếp cận ít nhiều về văn hóa Việt Nam và Đông phương, tôi nghiệm ra câu ấy có một nghiệm mở. Nó không những có thể chỉ ra một sự kiện lịch sử nào đó, mà còn là một dự báo định lượng thời gian cho một chu kỳ lịch sử, trong đó một mô hình xã hội – lịch sử được quan niệm như một Càn Khôn (Đất Trời) được định hình. Một không gian – thời gian cho một mô hình xã hội (chính trị) cụ thể ra đời và định hình.
Số chín là số nguyên lớn nhất, sau đó là số mười, không còn nguyên nữa, phải cộng thêm số 0 (10, 11, 12…). Cho nên văn hóa Á Đông coi số 9 là số đại diện cho sự cao nhất. Vì thế, ngôi cửu trùng là cao nhất, là nói về nhà vua. Cửu thiên huyền vũ là nói chín cõi trời của vũ trụ huyền diệu… Nói tột cùng cũng tức là nói sự chấm dứt của cái cũ, phải “phản”, quay lại, làm mới, làm cái khác.
Nghiệm ra, chín năm là độ dài thời gian đủ cho một biến đổi xã hội, lịch sử. Sau 1954 là một chu kỳ mới ở Việt Nam. Chúng ta sẽ chứng kiến sự kết thúc một chu kỳ chín năm. Năm 1963 đánh dấu một bước ngoặt mới của Việt Nam với sự kiện cuộc đảo chính ở Sài Gòn, giết chết anh em Tổng thống Ngô Đình Diệm, mở cửa cho Mỹ trực tiếp đổ quân vào Việt Nam.
Chín năm sau, vào 1972, là một chu kỳ mới của chiến tranh Việt Nam: Giải phóng Quảng Trị, Đông Hà. Chính phủ Cách mạng lâm thời miền Nam có địa bàn tiếp sức…
Đó là những lát cắt của những chu kỳ mà càn khôn điên đảo trong chiến tranh. Nếu tính những lát cắt trong hòa bình, ta có thể thấy những chu kỳ khác: 1976-1986. Bởi đây là chu kỳ cả nước hô khẩu hiệu “tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc, tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội”, nhưng sản xuất không đủ ăn, thiếu thốn mọi bề. Đó là một chu kỳ khủng hoảng, với đỉnh điểm năm 1986 buộc phải đổi mới. Chưa từ bỏ chủ nghĩa xã hội, nhưng thật sự phải từ bỏ nhiều đặc trưng của mô hình Xô-viết, mở rộng dần xu thế phát triển kinh tế tư nhân bình thường và từng bước mở cửa với thế giới của nhân loại hiện đại.
***
Hôm kia, nhân đọc trên báo Hà Nội Mới một bài nói về 81 năm Cách mạng Tháng Tám, tôi chợt nghĩ đến câu sấm “Cửu cửu càn khôn dĩ định”. Thuở nhỏ học cửu chương, tôi từng thuộc. Chín chín là 81. Thế thì cái càn khôn Việt trong 81 năm qua đã định được những gì?
Cái “dĩ định” ấy có hai sắc thái, hai hàm nghĩa.
Thứ nhất là những gì đã được định hình thành hiện thực trong cái càn khôn đó: Những công trình, giá trị vật chất, những phẩm chất văn minh, văn hóa của con người và xã hội. Nó là những giá trị thật, có cả tốt, cả xấu. Có hòa bình, thống nhất, có độc lập và làm bạn được với nhiều quốc gia, dân tộc, rất khác trước… Lại có con người có giàu sang hơn lên, mà cũng còn rất nhiều đồi bại, thói hư tật xấu.
Thứ hai là những gì chúng ta mong ước, muốn làm, muốn phấn đấu để có một càn khôn mới (Đất Trời mới). Bấy giờ, trong cái khát vọng mong có được một Càn Khôn mới, đã có một sự phối hợp thật ăn ý, hòa đồng, hòa hợp của giới cần lao, những bố cu, mẹ đĩ ở mọi hang cùng ngõ hẻm của đất nước, và giới tinh hoa nhiều tầng lớp của dân tộc, hòa với nhau thành một khối, tưởng chừng không bao giờ và không ai có thể chia cắt nổi.
Vì thế có cái Tuyên ngôn Độc lập, lấy cảm hứng từ tư tưởng nhân quyền Mỹ: Thượng đế ban cho con người quyền tự do, mưu cầu hạnh phúc… với cả cảm hứng từ Cách mạng tư sản dân quyền Pháp và nỗi khao khát độc lập chất chứa từ ngàn xưa, nên đã có một Hiến pháp đẹp như mơ. Người ta bảo mơ bao giờ cũng đẹp hơn thực.
Trong cái càn khôn mới, việc quan trọng hàng đầu, cũng là cơ bản nhất, đó là ước vọng chính trị, văn hóa: “Lập Quyền Dân. Tiến lên Việt Nam”.
Sau này lớn lên mới hiểu ra hai cụ Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh từng nói với nhau: Giành được độc lập rồi mà dân quyền không có thì cũng chẳng nghĩa lý gì. Rồi lại còn biết chính ông Hồ cũng từng có ý kiến tương tự: Độc lập, thống nhất rồi mà dân không có hạnh phúc, tự do thì cũng chẳng có nghĩa lý gì!
Nghĩ cho cùng thì các cụ rất có lý. Trong cái càn khôn mới của dân ta, nếu dân vẫn không có quyền được sống tự do, hạnh phúc, thì khởi nghĩa mà làm gì? Cách mạng mà làm gì? Đổi mới làm gì? Đảng để làm gì, chính quyền để làm gì? Và cả Dân nữa, Dân có làm gì không, hay chỉ sống với phận “phó thường dân”? Làm thường dân cũng không xong, chỉ dám nhận cấp phó. Vậy thì ai là chánh thường dân đây? Những chánh thường dân, hãy vươn mình đứng dậy.
Rút ra là trong cái càn khôn dĩ định hiện thực hôm nay còn nhiều những bất cập. Vì thế, nên phải hô hào “Vươn mình”. Cho nên cần phải hỏi lại mình rằng: Chín chín năm qua, Vua đã làm được gì, quan đã làm được gì, và Dân, tại sao lại biến mình thành “phó thường dân”? Liệu nếu có chánh thường dân thì cái càn khôn hôm nay có khác nhiều không?
Không khỏi chạnh lòng khi nghĩ rằng, có những dân tộc quanh ta, họ lại định được cái càn khôn bảnh bao của họ chỉ trong vòng bốn, năm chục năm. Họ định hình xong từ cuối thế kỷ trước, mà khi khởi nghiệp, họ cũng chỉ ngang như ta hồi ấy. Cái mơ ước sánh vai năm xưa giờ đây chỉ là sánh vế.
Bây giờ mọi người đang tạo dựng cái càn khôn hậu hiện đại của họ. Còn ta thì chỉ mong ba, bốn thập niên nữa, may ra mới bằng họ hôm nay.
Tôi nhớ ông Mác từng nói với người Đức rằng, chúng ta chỉ là người cùng thời đại về mặt triết học, chứ không phải cùng thời đại về lịch sử. Có nghĩa rằng, như Việt Nam hôm nay, về triết học thì biết mình đang sống ở thập niên thứ ba của thế kỷ 21, trong thời đại tin học và trí tuệ nhân tạo. Về mặt lịch sử thì ta đang ở thời quá khứ của thiên hạ.
Chúng ta vẫn còn loay hoay hỏi nhau về cái điểm nghẽn chủ yếu. Phải dám tìm, tìm cho ra cái chân tướng, cái bản mặt của nó, cái phương thức, cái hình thù của nó. Như người đi lạc trong rừng, không xác định rõ lối mòn cũ thì khó thoát ra khỏi rừng.
Phải biết Việt có nghĩa là vượt lên, vượt qua, vươn mình, mà không “việt” được cũng bằng không. Người lạc trong rừng mà không biết từ bỏ lối mòn sẽ không tìm ra được đại lộ. Cha ông ta từng dạy con cháu:
“Con kiến mà leo cành đa,
Leo phải cành cộc, leo ra leo vào”.
Vì thế, vấn đề không chỉ là vươn mình, mà là tìm cho ra cành tươi xanh mà đi tới.
Phật dạy: “Gate, gate, pāragate, pārasamgate!” — phải sang được bờ bên kia. Phải biết “gate” khỏi cành cụt. Mà Phật bảo phải bốn đợt “gate” may ra mới tìm thấy Niết-bàn (Gate, gate, pāragate, pārasamgate!). Chỉ Đổi mới một lần chưa đủ đâu.
Nguyễn Trãi nói: “Càn khôn bĩ rồi lại thái”, nên phải An Dân, phải Nhân Nghĩa, phải có Thái bình thiên tử, Thái bình Dân. Lại phải “Văn trị ưng tu trí thái bình”. Hơn nữa, “Làm sao trong thôn cùng xóm vắng không còn lời hờn giận oán sầu”.
Tôi mượn một ý tưởng của Lỗ Tấn: Nhân loại từ xưa không có đường. Nhưng cứ đi mãi rồi thành đường.
Hy vọng cũng như thế. Nhưng đám già rồi làm được gì. Hãy trao hy vọng cho GEN Z.
Nguyễn Mai Công
Không có nhận xét nào