Kỳ 2
Tác giả: Nguyễn Đông A
August 2, 2026
Bản đồ Sài Gòn năm 1795 với thành Bát Quái ở chính giữa do Jean-Marie Dayot vẽ. Author: Dayot, Jean-Marie (1754-1808?). Cartographe, Rosili Mesros, François Etienne de (1748-1832). Cartographe
DẤU THÀNH XƯA, BÓNG ĐẤT CŨ
Hôm nay, tôi lại lặng lẽ lần theo những dấu tích xưa của đất Sài Gòn. Từ Thành Quy, Thành Phụng, qua Đại đồn Chí Hòa rồi ghé Đồn Cây Mai, bước chân cứ chậm rãi nối nhau từ Quận 1 xuống Quận 5 – Chợ Lớn, vòng lên Quận 10, Quận 11 rồi sang Tân Bình. Càng đi, lòng tôi càng như bị kéo ngược về phía sau, trở về một Sài Gòn đã khuất bóng. Thành quách năm nào không còn hiện hữu trên mặt đất, chỉ còn lặng lẽ sống trong những trang sử cũ, vài bức ảnh bạc màu và cả trong tên những con đường, góc phố mà người ta vẫn gọi mỗi ngày, dù chẳng mấy ai còn nhớ cái tên ấy bắt đầu từ đâu.
Ngày trước, nơi đây từng có hai tòa thành lớn do triều Nguyễn dựng nên để trấn giữ vùng đất phương Nam. Vậy mà qua bao phen binh lửa và dâu bể, giờ tìm lại cũng không còn một viên gạch nào nguyên vẹn. Đất mình hình như vẫn vậy. Những gì làm bằng đất, bằng gỗ thường mong manh trước chiến tranh và thời cuộc, chỉ cần một cơn biến động đi qua là dấu tích vật chất gần như tan biến. Thế nhưng, có những thứ tưởng đã mất lại âm thầm ở lại trong ký ức của đất và trong lời ăn tiếng nói của con người. Những cái tên còn sót lại không chỉ để gọi một địa danh, mà như một lời nhắc nhở nhẹ nhàng rằng nơi này đã từng có một quá khứ rất đáng để nhớ. Tôi vẫn tin, có những di tích không còn đứng trên mặt đất, nhưng lại đứng rất vững trong ký ức của một thành phố. Chính những ký ức ấy mới là nền móng bền lâu nhất mà thời gian không dễ gì xóa nhòa.
THÀNH QUY — CÁI BÓNG BÁT QUÁI GIỮA LÒNG PHỐ
Chuyện phải kể từ hồi rất xa, năm 1623, khi chúa Nguyễn cho đặt trạm thu thuế ở Bến Nghé và Sài Gòn, chỗ nay là Quận 1, Quận 5. Rồi năm 1679 lập đồn dinh ở Tân Mỹ, gần ngã tư Cống Quỳnh – Nguyễn Trãi bây giờ. Người Minh Hương qua đây từ năm 1680, khai hoang lập ấp. Đến năm 1698, Nguyễn Hữu Cảnh vào kinh lý, thấy đất đã mở mang ngút ngàn, dân cư đã hơn bốn vạn hộ, mới lập phủ Gia Định, chia hai huyện Phước Long và Tân Bình, một vùng đất rộng chừng ba vạn cây số vuông. Từ đó cái tên Gia Định mới thành hình, rồi lần hồi phủ Gia Định gồm năm dinh trấn, kéo dài từ Sài Gòn xuống tới Hà Tiên.
Đất này không yên được lâu. Gần mười năm ròng, từ 1776 đến 1783, chúa Nguyễn với quân Tây Sơn cứ giằng co nhau chiếm rồi mất, mất rồi chiếm, cái vòng lẩn quẩn ấy cứ lặp đi lặp lại trên mảnh đất Gia Định. Tới tháng 8 năm Mậu Thân, nhằm lúc Tây Sơn còn bận đối phó với quân Thanh ngoài Bắc Hà, Nguyễn Ánh mới thừa cơ lấy lại Sài Gòn, và từ cái mốc đó, ông quyết định xây thành, biến nơi đây thành căn cứ để tính chuyện lâu dài.
Năm 1790, thành Bát Quái ra đời, xây ở làng Tân Khai theo bản vẽ của một người Pháp tên Olivier de Puymanel, kiến trúc pha trộn Đông Tây, nhưng dáng hình thì tám cạnh, gọi là Bát Quái, mà nhìn trên bản đồ lại giống hình con rùa khổng lồ, nên dân gian quen miệng gọi là Thành Quy. Ba mươi ngàn dân phu thợ thầy đã đổ mồ hôi ra để đắp nên nó. Con số ấy, nghĩ lại, đủ biết công sức một thời cha ông mình bỏ ra cho một tòa thành mà rốt cuộc cũng chỉ tồn tại được không tới nửa thế kỷ.
Sơ đồ Thành Bát Quái Sài Gòn do Trương Vĩnh Ký vẽ, Nguyễn Đình Đầu lược dịch và chú giải
Thành xây theo kiểu Vauban, kiên cố ba lớp. Trong cùng là tường đá cao hơn sáu thước, ngoài là hào sâu gần bảy thước, rộng đến bảy mươi sáu thước, và ngoài cùng là lũy đất chu vi gần bốn cây số. Tám cửa thành mang tên theo bát quái: Càn Nguyên, Ly Minh, Khôn Hậu, Khảm Hiền, Chấn Hanh, Cấm Chí, Tốn Thuận, Đoài Duyệt. Tôi nghe thôi đã thấy cái ý đồ phòng thủ mà lại muốn gửi gắm phong thủy Á Đông vào trong từng viên gạch. Đến đời Minh Mạng, tên cửa đổi khác đi, nhưng cái hồn thành thì vẫn vậy.
Lạ là từ khi thành Bát Quái mọc lên, quân Tây Sơn không còn đánh vào Gia Định lần nào nữa. Một tòa thành, đôi khi không cần đánh cũng đã thắng, nó chỉ cần đứng đó, đủ khiến người ta chùn tay. Vậy mà cái thành từng bất khả xâm phạm với ngoại địch, cuối cùng lại gãy đổ vì chính người trong nhà. Năm 1833, Lê Văn Khôi, con nuôi của Lê Văn Duyệt, chiếm thành làm căn cứ chống lại triều đình. Triều đình phải huy động hàng chục ngàn quân, vây ròng rã hai năm trời mới hạ được, vì bên trong thành đủ khí giới, đủ lương thực để cầm cự. Đến năm 1836 thì san bằng hẳn, xây một thành khác nhỏ hơn.
Dấu tích còn sót lại của Thành Quy giờ chỉ là những mảnh vụn nằm im dưới lòng đất. Năm 1926, đào móng xây cao ốc ở góc Tự Do – Gia Long, nay là Đồng Khởi – Lý Tự Trọng, người ta gặp đá ong lục lăng, đoán là chân tường thành cũ. Năm 1935, đào ở khu nhà thương Đồn Đất cũng gặp dấu tích tương tự. Theo lời cụ Trương Vĩnh Ký, thì trung tâm thành nằm ngay chỗ Nhà thờ Đức Bà bây giờ. Hồi đào móng xây nhà thờ, thợ gặp một lớp tro than dày ba tấc, lẫn trong đó là tiền điếu tiền kẽm cháy quánh lại thành khối, có cả đạn gang đạn đá, có lẽ là tàn tích kho lương của Lê Văn Khôi bị thiêu năm 1835. Đứng trước nhà thờ bây giờ, chỗ tượng Đức Mẹ thấy đông người qua lại, chụp hình, cười nói, mấy ai ngờ dưới chân mình từng là tro cốt của một cuộc vây thành kéo dài hai năm.
Thành nằm giữa một mạng lưới giao thông thủy bộ chằng chịt. Đường bộ nối Cao Miên, nối miền Tây, nối Đồng Nai, đường sông có sông Sài Gòn che chắn và là cửa ngõ giao thương, có xưởng Ba Son làm tiền tiêu. Lại thêm hệ thống kênh rạch Thị Nghè, Bến Nghé, kênh Tẻ, kênh Tàu Hủ nối liền miền Tây, chở lúa gạo về nuôi cả một vùng đô hội đang thành hình. Xung quanh thành, phố xá, chợ búa, xưởng thợ mọc lên theo, người Hoa từ Hà Tiên, Định Quán cũng dạt về đây lánh loạn, dần dà thành ra vùng Chợ Lớn. Năm 1819, dân trong vùng đã lên tới một trăm tám mươi ngàn người bản xứ, cộng thêm mười ngàn người Hoa. Con số không nhỏ cho một vùng đất mới khai phá chưa đầy trăm năm.
THÀNH PHỤNG — ĐỨA CON SINH SAU, MỆNH MỎNG
Thành mới xây năm 1836, đè lên một góc nền thành cũ, ở phía Đông Bắc, nhỏ hơn, vuông vắn hơn, gọi là thành Phụng, cũng chính là thành Gia Định. Nhìn theo bản đồ hôm nay, thành nằm lọt giữa bốn con đường Nguyễn Du, Mạc Đĩnh Chi, Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Bỉnh Khiêm ở Quận 1. Mười ngàn binh lính cùng dân bốn tỉnh Gia Định, Biên Hòa, Vĩnh Long, Định Tường đã bỏ ra hai tháng ròng để đắp nên nó.
Hình dáng Thành Phụng theo mô tả trong một sơ đồ quy hoạch của Pháp năm 1867. Author: Colonial French (as described in the book Ký ức lịch sử về Sài gòn và các vùng phụ cận, Vietnam: Trẻ Publishing House ,TP.HCM, 1997.)
So với người anh Bát Quái, thành Phụng chu vi gần hai ngàn thước, cao chưa tới năm thước, hào rộng năm mươi hai thước, chỉ có bốn pháo đài thay vì tám. Người ta xây thành theo lối Vauban như cũ, nhưng quy mô đã thu nhỏ lại đáng kể. Có lẽ vì e dè cái họa nội loạn mới trải qua, cũng có lẽ vì của cải, sức người sau một trận binh biến đã hao hụt quá nhiều.
Dấu tích Thành Phụng trên bản đồ Sài Gòn năm 1882. Author: Boilloux
Sự mỏng manh của thành mới lộ ra ngay khi gặp phải đối thủ thật sự lợi hại. Tháng 2 năm 1859, quân Pháp đánh thành Gia Định, chỉ một ngày sau là hạ được. Án sát Lê Tứ, Hộ đốc Vũ Duy Ninh tự vẫn, các tướng khác đành rút lui về Tây Thái. Đến tháng 3 cùng năm, quân Pháp cho nổ ba mươi hai ổ mìn, châm lửa đốt sạch, thành Phụng tan thành gạch vụn chỉ trong một trận hỏa công. Lửa thiêu rụi hai ngàn cây súng gươm giáo cổ, tám mươi lăm thùng thuốc súng, kho lúa đủ nuôi sáu bảy ngàn người ăn cả năm, tiền bạc bản xứ ước tính cả trăm ngàn France. Thành cháy dai dẳng đến cả tuần lễ vì lúa gạo trong kho nhiều quá.
Vậy đó, một tòa thành đắp bằng mồ hôi của bốn tỉnh, dựng lên chưa đầy hai mươi ba năm, chỉ cần một buổi sáng là hóa thành tro. Nếu Thành Quy mang dáng dấp tư duy quân sự phương Tây, thì Thành Phụng lại hoàn toàn do người Việt tự tay dựng nên, một biểu hiện của ý chí tự chủ. Nhưng ý chí, tiếc thay, không phải lúc nào cũng đủ sức chống lại đại bác. Bốn mươi lăm năm của Thành Quy, hai mươi ba năm của Thành Phụng cộng lại cũng chưa tới bảy mươi năm, mà đủ để khắc vào lịch sử đất miền Nam dấu ấn không phai. Dấu tích ngày nay chỉ còn một bức tranh vẽ cảnh Pháp công thành, với vài tàn tích rải rác dọc đường Đinh Tiên Hoàng, gần xưởng Ba Son.
ĐẠI ĐỒN CHÍ HÒA — TẤM LƯNG CHẮN CUỐI CÙNG
Mất thành Gia Định rồi, triều đình không chịu buông. Năm 1860, vua Tự Đức cử Nguyễn Tri Phương vào Nam, giao trọng trách trấn giữ. Ông cho biến cái đồn nhỏ Chí Hòa mà tướng Tôn Thất Hiệp dựng trước đó, thành một đại đồn đồ sộ, dài tới ba ngàn thước, ngang một ngàn thước, chia làm năm khu, tường đất đá ong cao ba thước rưỡi, dày hai thước, đầy lỗ châu mai, ngoài còn rào tre, hố chông, ao nước chằng chịt. Trên tường bố trí một trăm năm mươi khẩu đại bác, quân số có tới hai mươi ngàn thường trực cộng mười ngàn dân dũng.
Vị trí Đại đồn Chí Hòa trên bản đồ Gia Định năm 1861. Author: Hienzquynh
Vị trí đại đồn được chọn không phải ngẫu nhiên. Theo lời nhà văn Sơn Nam, sở dĩ chọn Chí Hòa – Phú Thọ, dọc rạch Nhiêu Lộc, là vì ba lẽ: một là có thể cắt đứt đường tiếp tế của Pháp từ đồng bằng sông Cửu Long vào Sài Gòn – Chợ Lớn; hai là thuận đường cho quân từ Gò Công, Mỹ Tho tới lui vận lương tiếp viện; ba là phía Bắc giáp Mười Tám Thôn Vườn Trầu, đất hiểm, dân nghĩa khí, dùng làm hậu cứ vững chắc. Nhìn trên bản đồ, hình thế đại đồn tựa như một lực sĩ giang hai cánh tay ôm lấy Sài Gòn – Chợ Lớn, ý đồ là ép quân Pháp phải lùi ra sông mà chết.
Ngày 23 tháng 2 năm 1861, Đề đốc Charner đem khoảng mười ngàn quân cùng chiến thuyền tấn công. Nguyễn Tri Phương chỉ huy khoảng mười hai ngàn quân chống trả quyết liệt, nhất là trong hai ngày 24, 25 tháng 2. Nhưng vũ khí hiện đại của đối phương quá chênh lệch, quân ta phải rút lui, để Đại đồn rơi vào tay giặc rồi bị san bằng.
Một viên sĩ quan Pháp trực tiếp tham chiến từng ghi lại rằng đồn Kỳ Hòa rộng lớn, xây vuông vức, có ụ phòng thủ nhô ra hai góc, mặt sau là một tòa thành kín gọi thành Giữa, dùng làm cửa hậu cho cả doanh trại. Bên trong lại chia đôi bằng một lớp tường ngăn có bệ bắn, có hào, có cọc nhọn cài chéo để phòng thủ thêm một lớp nữa. Nghĩa là cách bố trí không hề đơn giản, mà tầng tầng lớp lớp, mưu tính hẳn hoi. Nhưng người đời sau cũng nhận ra cái yếu chết người của đại đồn. Đồn quá rộng mà quân phòng thủ lại mỏng, hai bên hông yếu, chỉ mặt tiền hướng ra sông Sài Gòn là mạnh, nên đối phương dễ bề đánh tạt sườn, đánh vòng ra sau lưng. Vũ khí trăm rưỡi khẩu đại bác, nếu đem ra đối đầu với chiến tranh thời trung cổ thì đã đủ gọi là kiên cố, nhưng đặt cạnh hỏa lực hiện đại của liên quân, nó lại trở thành một pháo đài mong manh.
Gần một năm trời, ba mươi ngàn quân dân đổ mồ hôi xây dựng, vậy mà chỉ giữ được hơn một ngày là thất thủ. Người đời sau gọi thẳng đó là một chiến lược phòng thủ tai hại. Tôi cứ tần ngần mãi, đâu thể trách cứ gì người xưa, mà thấy rõ cái bi kịch của một thời. Người ta dốc hết tâm sức, niềm tin vào một bức tường đất, trong khi đối phương đã cầm trong tay thứ vũ khí của một thời đại khác hẳn. Sau trận thua, triều đình Huế như người mất phương hướng, vội vã điều thêm quân vào Biên Hòa, để rồi chính viên tướng cầm quân tâu về rằng việc nước bây giờ, ngoài một chữ hòa, không còn cách nào khác. Một câu thôi, mà nghe ra cả một nỗi bất lực của thời cuộc.
ĐỒN CÂY MAI — TỪ GÒ HOA THƠM ĐẾN ĐỒN LŨY MÁU LỬA
Đồn Cây Mai vào khoảng thập niên 1870. Author: Gsell, Émile (1838-1879)
Nếu ba tòa thành trên mang dáng vẻ uy nghiêm của binh đao, thì gò Cây Mai lại khởi đầu bằng một câu chuyện của hoa, của thơ, của những tao nhân mặc khách.
Xưa kia, ở khu vực nay là đường Hùng Vương, Quận 5, có một gò đất cao, trên đó mọc bảy cây mai cổ thụ. Chúng không phải mai vàng ngày Tết mà là giống nam mai, mai mù u, hoa nở không cần tuyết, chỉ cần lá che chở hương thơm phảng phất. Vua Gia Long cùng các danh sĩ liệt gò này vào hàng Gia Định thập cảnh. Trịnh Hoài Đức, một trong Gia Định tam gia, từng tả lại cảnh nơi đây đẹp tựa chốn bồng lai: “gò cao nổi giữa đồng bằng, có ngôi chùa Ân Tông trên đỉnh, đêm về tiếng chuông tiếng kinh vang vọng trong sương khói, dưới chân gò suối trong lượn quanh, chiều mát thấy các cô gái chèo thuyền hái sen, còn văn nhân thi sĩ thì mang bầu rượu leo lên từng bực gò mà ngâm vịnh, câu thơ như còn vương mùi hương hoa”. Nhóm Bạch Mai thi xã với những tên tuổi như Phan Văn Trị, Bùi Hữu Nghĩa, Nguyễn Thông, Tôn Thọ Tường từng lấy nơi này làm chốn xướng họa văn chương suốt một thời thái bình hiếm hoi, trước khi quân Pháp kéo tới.
Gò này vốn xưa là nền chùa tháp của người Cao Miên để lại, móng cũ vẫn còn nhận ra được. Năm 1816, khi sửa chùa, người ta đào được ngói gạch cùng hai tấm vàng lá chạm hình Phật cưỡi voi, có lẽ là vật trấn yểm của các sư Miên thuở trước. Đến đời Minh Mạng, vì kỵ húy tên vua, chùa đổi tên từ Ân Tông sang Mai Sơn. Cũng dưới thời ấy, khi Nguyễn Tri Phương cùng Phan Thanh Giản vào Nam, ông còn cho dựng thêm một nhà chòi có lầu bên cạnh chùa, gọi là Phương đình.
Cảnh đẹp thanh bình ấy chấm dứt vào năm 1858, khi quân Pháp bắt đầu uy hiếp Đà Nẵng, rồi chuyển hướng đánh Gia Định năm 1859. Quân triều đình từ Định Tường, Vĩnh Long kéo lên chi viện, tụ tập quanh chùa Cây Mai, nhưng rồi cũng phải thua chạy. Đến tháng 7 năm 1860, quân Pháp chiếm hẳn gò Mai, biến chùa thành đồn lũy, nối liền với một chuỗi đồn bót khác dọc từ Thị Nghè đến Phú Lâm mà họ gọi là Phòng tuyến các chùa, dùng làm bàn đạp đánh lên Đại đồn Chí Hòa. Ngoài mục đích quân sự, đồn Cây Mai còn được giữ chặt vì đây là nơi trấn giữ nguồn lúa gạo dồi dào nhất của cả xứ lúc bấy giờ, quân Việt từng tìm cách đào hào cô lập đồn này khỏi khu phố Tàu Chợ Lớn để cắt đường tiếp tế, nhưng không thành.
Từ khi chùa bị triệt phá làm đồn lính, tương truyền các vong hồn cứ quấy nhiễu binh lính Pháp không thôi, đến mức viên chỉ huy phải cho mời một vị hòa thượng ở chùa Giác Viên tới lập đàn cầu siêu, mới yên. Chuyện thực hư ra sao không ai dám chắc, nhưng cái cách người đời truyền miệng câu chuyện ấy, tôi nghĩ, chính là cách một cộng đồng bị tước mất chốn linh thiêng của mình, giữ lại một chút uy nghi cuối cùng. Chùa có thể bị phá, nhưng oai linh của đất thì không ai chiếm đoạt được.
Sau này chùa được dời ra chân gò, rồi lại dời tiếp vào vùng Bà Hom vì nhu cầu chỉnh trang đô thị đầu thế kỷ hai mươi. Còn gò Mai ngày nay đã thành doanh trại quân đội, chỉ còn sót lại một cái miếu nhỏ bên gốc mai già cỗi. Một chút tàn dư cuối cùng của một trong mười cảnh đẹp Gia Định năm xưa. Một chi tiết dễ gây lầm lẫn, người đời sau, nghe chữ “mai” trong tên chùa, tên gò, tên thi xã, hay nghĩ ngay đến mai vàng ngày Tết, nhưng kỳ thực đó là giống mai mù u thuộc họ măng cụt, một loài hoa hoàn toàn khác. Sự trùng tên ấy, qua bao đời, đã khiến không ít người ngộ nhận.
Đi hết một vòng bốn chốn cũ, tôi chợt nhận ra, thành quách, đồn lũy, chùa chiền dù được dựng lên bằng đá ong hay bằng đất sét, bằng mưu lược quân sự hay bằng lòng thành kính của kẻ tu hành, rốt cuộc đều không địch nổi thời gian và súng đạn. Nhưng lạ một điều, chính vì chúng biến mất khỏi mặt đất, cái tên của chúng lại càng bám riết lấy con đường, lấy góc phố, lấy trí nhớ người đời. Nhà thờ Đức Bà đứng trên nền tro của thành Quy, một doanh trại đứng trên nền hoa của gò Mai, một con đường mang tên Cách Mạng Tháng Tám chạy ngang qua nơi từng là chiến lũy Chí Hòa đẫm máu.
Sài Gòn hôm nay cứ vậy mà sống chồng lên những lớp Sài Gòn đã mất, lớp nọ đè lên lớp kia, như phù sa bồi năm này qua năm khác. Người đi ngang qua, mấy ai dừng chân, mấy ai biết dưới gót giày mình là cả một tầng lịch sử đang lặng thinh nằm đó. Sau một buổi rong ruổi, tôi thấy lòng mình như nặng đi vì hiểu ra rằng, đất này đâu có im lặng, nó chỉ đang kể chuyện bằng một thứ ngôn ngữ mà người ta phải cúi xuống thật gần mới nghe thấy được.
*****
Dấu xưa giữa lòng phố thị
Sài Gòn, khoanh lại trong địa giới Quận 1 thôi, mà đã ngợp mắt biết bao nhiêu là chốn đáng ghé. Đứng giữa ngã tư nào cũng thấy có một câu chuyện nằm khuất phía sau, cứ như thành phố này giấu lịch sử trong từng viên gạch, từng tán cây. Thôi thì cứ bắt đầu từ những gì quen thuộc nhất, từ ly cà phê buổi sáng, rồi lần theo đó mà đi ngược thời gian.
LY CÀ PHÊ SAU LƯNG MỘT BIỂU TƯỢNG
Năm 2025, tôi về lại Sài Gòn, tôi vẫn có thói quen uống cà phê sáng ở phía sau Dinh Độc Lập. Hai quán cà phê kéo dài hai bên, mang số 1, số 2, vào bằng cổng đường Huyền Trân Công Chúa. Không gian ở đó thoáng, nhiều cây, ngồi cả buổi với bạn bè cũng chẳng thấy chán. Lưng quán dựa vào bức tường của một dinh thự từng chứng kiến bao cuộc bể dâu, mà nghe tách cà phê rơi từng giọt xuống ly, cũng lạ, cứ như thời gian đang chảy chậm lại.
Dinh Độc Lập bây giờ đã thành di tích quốc gia đặc biệt. Lần ngược lại thời gian, tôi thấy cái hình hài ấy, không phải sinh ra một lần rồi ở yên đó. Nó đổi chủ, đổi tên, đổi cả số phận theo từng khúc quanh của lịch sử, y như một con người phải sống qua nhiều kiếp.
Chuyện bắt đầu từ năm 1863, khi người Pháp cho xây một dinh thự mang tên Dinh Norodom, kiến trúc sư Hermit thiết kế, vật liệu chở từ tận bên Pháp sang, dựng nên giữa vùng đất Nam Kỳ còn hoang sơ một tòa nhà nguy nga đến lạ. Qua tay Toàn quyền Đông Dương, rồi đến tay quân Nhật hồi tháng 3 năm 1945, sau 1954 mới đổi tên thành Dinh Độc Lập, trở thành nơi làm việc của Chính phủ Việt Nam Cộng hòa. Coi vậy mà cái dinh cũ ấy cũng bạc mệnh, năm 1962, một trận bom của hai phi công đảo chính đã làm nó hư hại nặng, buộc lòng chính quyền Sài Gòn phải đập bỏ, xây mới hoàn toàn.
Trái: Dinh Thống đốc tại Sài Gòn, năm 1873. Phải: Dinh thự vào năm 1896. Author: Salles, André (1860-1929)
Người được giao trọng trách ấy là kiến trúc sư Ngô Viết Thụ, người mà càng về sau bài viết càng phải nhắc tới nhiều hơn. Công trình khởi công năm 1962, dưới thời Tổng thống Ngô Đình Diệm. Nhưng đời không chiều lòng người, dinh còn dở dang thì ông Diệm đã bị phe đảo chính ám sát vào ngày 2 tháng 11 năm 1963. Rốt cuộc, người đứng chủ tọa lễ khánh thành năm 1966 lại là Nguyễn Văn Thiệu, lúc bấy giờ là Chủ tịch Ủy ban Lãnh đạo Quốc gia. Từ đó Dinh Độc Lập mới trở thành nơi ở và làm việc chính thức của tổng thống Việt Nam Cộng hòa, và ông Thiệu ở đó từ 1967 cho đến 1975.
Đứng nhìn tòa nhà đồ sộ ấy hôm nay, khoảng 20.000m² diện tích sử dụng, cao 26 mét, ba tầng chính, hai tầng lửng, hai tầng hầm, một sân thượng có cả sân bay trực thăng, hơn trăm phòng ốc mỗi phòng một công năng riêng, phòng Đại Yến chứa nổi năm trăm người với cửa kính chống đạn dày hai phân. Tôi mới thấm cái độ công phu của người xưa khi làm một công trình mang tầm vóc quốc gia. Riêng hệ thống tầng hầm bê tông cốt thép chịu được bom đạn cỡ lớn, chi phí xây dựng thời đó đã ngốn đến 150.000 lượng vàng, mới hay ý chí dựng xây của một chính thể, trong hoàn cảnh chiến tranh, lớn lao đến mức nào.
Trái: Bia kỷ niệm ngày khánh thành Dinh Độc Lập. Author: Vinhtantran. Phải: Hình ảnh Dinh Độc Lập trước năm 1975. Ảnh tư liệu.
Nhưng cái làm tôi mê nhất không phải là con số, mà là triết lý giấu trong từng đường nét kiến trúc. Nhìn từ trên cao, dinh mang hình chữ CÁT (吉), tốt lành. Phòng Trình Quốc Thư ở giữa, lầu thượng vẽ nên chữ KHẨU (口), biểu tượng của tự do ngôn luận. Cột cờ chính giữa dựng thành chữ TRUNG (中), mái hiên hình chữ TAM (三) hòa cùng các chi tiết khác kết thành chữ VƯƠNG (王). Một công trình tưởng là bê tông cốt thép khô khan, lại là một áng văn viết bằng ngôn ngữ kiến trúc, đọc kỹ mới thấy cả một tầng triết lý phương Đông nằm gọn trong đó.
Khuôn viên rộng 12 hecta bao quanh dinh có gần 2.000 cây xanh thuộc 99 loài, những gốc trắc, gõ đỏ, giáng hương, cẩm lai, sao đen cổ thụ hàng trăm năm tuổi, cùng bộ sưu tập cây kiểng quý với những thế uốn mang tên đầy chất Nho học: Tam Cương Ngũ Thường, Ngũ Phúc, Trực Liên Chi, Quần Thụ, Thất Hiền, Phụ Tử Giao Chi… Ngồi cà phê phía sau bức tường rào ấy, tôi vẫn hay nghĩ, người xưa xây dinh thự không chỉ để ở, để làm việc, mà còn gửi gắm cả một quan niệm sống, một cách nhìn đời vào từng gốc cây, từng nét chạm. Bởi thế mà người đi thăm thành phố vẫn hay nói với nhau, đến Sài Gòn mà chưa ghé Dinh Độc Lập thì coi như chưa thật sự đặt chân tới Sài Gòn.
ĐƯỜNG HẦM BÍ MẬT VÀ MỘT ĐỜI DINH THỰ KHÁC
Ở Quận 1 còn lắm dinh thự cổ, tôi lần bước sang Dinh Gia Long ở trên đường Lý Tự Trọng, xưa vốn là Dinh Phó Toàn quyền Đông Dương. Đây cũng là dinh thự duy nhất mà một vị tổng thống, ông Ngô Đình Diệm từng ở cả hai nơi, trước là Gia Long, sau mới sang Độc Lập.
Câu chuyện của tòa nhà này còn xưa hơn cả Dinh Độc Lập. Khởi công năm 1885, hoàn thành năm 1890, do kiến trúc sư người Pháp Alfred Foulhoux vẽ kiểu theo phong cách tân cổ điển, ban đầu định làm Bảo tàng Thương mại Nam Kỳ để trưng sản vật trong xứ. Vậy mà đời không theo dự tính, vừa xây xong, tòa nhà đã bị Phó Toàn quyền Đông Dương Henri Éloi Danel trưng dụng làm tư dinh. Từ đó nó cứ đổi chủ xoành xoạch, từ Dinh Phó soái, đến Dinh Thống đốc Nam Kỳ (khi Pháp bỏ chức Phó Toàn quyền năm 1912). Rồi năm 1945 loạn lạc, một năm mà đổi chủ đến bốn năm lần, Nhật đảo chính Pháp, rồi giao cho chính phủ Trần Trọng Kim làm Dinh Khâm sai Nam Kỳ, rồi quân Anh chiếm làm trụ sở Phái bộ Đồng minh, rồi tướng Leclerc của Pháp lại dùng làm Phủ Cao ủy tạm thời. Một tòa nhà mà chứng kiến ngần ấy cuộc đổi ngôi trong vòng chưa đầy một năm, kể cũng hiếm có.
Sau Hiệp định Genève, ông Ngô Đình Diệm về Sài Gòn nhận chức thủ tướng, tạm dùng nơi này làm dinh thủ tướng, được Quốc trưởng Bảo Đại đặt tên mới là Dinh Gia Long, theo tên con đường La Grandière trước mặt cũng đổi thành đường Gia Long. Sau cuộc trưng cầu dân ý phế truất Bảo Đại năm 1955, ông Diệm dùng nơi này làm dinh Quốc khách. Rồi đến năm 1962, khi Dinh Độc Lập bị bom đánh sập một góc, cả gia đình họ Ngô mới dọn hẳn về đây mà ở, mà làm việc, cho đến ngày bị đảo chính vào năm 1963.
Chính trong giai đoạn ấy, vì lo sợ đảo chính, lo sợ bom đạn, gia đình ông Diệm mới nghĩ đến chuyện đào một đường hầm trú ẩn. Kiến trúc sư Ngô Viết Thụ lại được giao vẽ kiểu, khởi công tháng 5 năm 1962, hoàn thành tháng 10 năm 1963, đúng một tháng trước khi ông Diệm bị lật đổ. Vì yêu cầu bí mật, giấy tờ liên quan chỉ dám ghi vỏn vẹn là “công tác xây cất ở Dinh”.
Tôi có dịp ghé đây vài lần, cốt để coi tận mắt cái đường hầm mà dư luận đồn thổi bấy lâu, nói rằng nó có thể dẫn tuốt ra ngoài, thông cả về Chợ Lớn như một địa đạo. Nhưng nhìn kỹ mới hay, đó chỉ là một hầm trú ẩn kiên cố, không hơn không kém, giống như loại hầm cũng từng được xây trong Dinh Độc Lập để tránh bom đạn nhắm vào tổng thống. Tuy nhiên đúng là hầm có hai lối thoát thật, một ra phía đường Công Lý, một ra đường Pasteur, cả hai đều nằm khuất trong sân trước, xây thành những hộp bê tông thấp lè tè ngang đầu người, cửa sắt đóng kín, ai đi ngang cũng khó mà đoán ra đó là cửa thoát hiểm.
Và đêm trước ngày đảo chính, chính hai lối ấy đã được dùng thật. Ông Diệm cùng ông Nhu lặng lẽ ra khỏi dinh bằng cửa hầm phía đường Pasteur, đi xe đến Tòa Đô Chánh gặp ông Cao Xuân Vỹ để bàn chuyện lánh vào Chợ Lớn, tạm trú nhà ông Mã Tuyên, Bang trưởng người Hoa chờ cơ hội thương thuyết với phe đảo chính. Tướng Trần Văn Đôn trong hồi ký còn kể lại, hai ông “đã ra ngã sau đường Lê Thánh Tôn bằng một xe thường… hẹn sẽ gặp tại Ðại Thế Giới, Chợ Lớn”. Tôi bỗng hình dung ra cảnh hai người đàn ông quyền lực bậc nhất một chế độ, giữa đêm khuya, phải lặng lẽ chui qua cái cửa hầm thấp tè, ngồi trên chiếc xe hàng bít bùng như dân thường trốn chạy. Quyền lực, thì ra có lúc mong manh tới vậy.
Đường hầm ấy đào sâu 4 mét dưới đất, đúc bê tông cốt thép với 170 kg sắt trên mỗi mét khối, tường dày cả mét, tổng diện tích gần 1.400 mét vuông, chia làm sáu phòng nối nhau qua hành lang, đủ sức chịu bom 500kg và trọng pháo. Vậy mà đến ngày ông Diệm bị lật đổ, công trình vẫn còn dở dang, hệ thống quạt điều hòa chưa kịp lắp, máy móc còn nằm trong kho. Người ta tính làm trong 18 tháng, mà thời cuộc chẳng cho phép hoàn thiện trăm phần trăm.
Sau đảo chính, dinh được tu sửa dùng làm nơi ở của Quốc trưởng, rồi trở thành trụ sở Tối cao Pháp viện Việt Nam Cộng hòa cho đến tận 30 tháng 4 năm 1975. Sau đó, thành phố dùng làm nơi sinh hoạt văn hóa, rồi từ năm 1978 chính thức thành Bảo tàng Thành phố, được công nhận di tích kiến trúc nghệ thuật quốc gia năm 2012.
Bảo tàng bây giờ nằm ở số 65 Lý Tự Trọng, rộng gần 2 hecta, mặt tiền còn giữ được nét pha trộn Âu – Á đặc trưng: đường nét tầng lầu mang dáng Tây phương, còn phần mái lại cong cong kiểu Á Đông. Ngày trước, hai bên cửa chính từng có hai pho tượng nữ thần Thương mại và Công nghiệp, đến năm 1943 Thống đốc Nam Kỳ Ernest Thimothée Hoeffel cho phá bỏ để xây mái hiên. Một điểm nhỏ thôi, đủ nói lên cái cách người ta tùy tiện xóa đi những dấu tích của người đi trước, để lại cho hậu thế chỉ còn những mảnh vụn phải chắp nối lại bằng trí tưởng tượng.
Trái: Tòa nhà vào khoảng năm 1930. Author: Indochine française. Aéronautique militaire. Phải: Dinh Phó soái trong những năm đầu thế kỷ 20. Hai cột trụ ở cửa chính được cách điệu với hai tượng nữ thần Thương nghiệp và Công nghiệp, trước khi xây mái che vào năm 1943.
Mặt tiền Bảo tàng Thành phố Hồ Chí Minh. Author: Thomas1313
Ghé vào trong, tôi la cà mấy phòng trưng bày. Phòng Thiên nhiên và Khảo cổ kể chuyện đời sống cư dân cổ ba ngàn năm trước qua rìu đá, cuốc đá, đồ trang sức tìm được ở Giồng Cá Vồ, Giồng Phệt; phòng Địa lý và Hành chính vẽ lại quá trình Sài Gòn từ một đô thị năm chục ngàn dân lớn lên thành phố sáu triệu người; phòng Thương cảng kể chuyện cảng Sài Gòn, chợ Bến Thành, chợ xưa; phòng Văn hóa tái hiện đám cưới truyền thống của bốn dân tộc Việt, Chăm, Hoa, Khmer, tục ăn trầu, tín ngưỡng thờ Mẫu, thờ Thành hoàng, thờ Thổ Địa – Thần Tài. Đứng giữa những hiện vật ấy, tôi chợt nghĩ, một thành phố mà lưu giữ được cả xác lẫn hồn của quá khứ như vầy, kể cũng là một cái phước hiếm có giữa thời buổi người ta xây rồi đập, đập rồi xây không thương tiếc.
NGƯỜI VẼ NÊN NHỮNG GIẤC MƠ BẰNG GẠCH ĐÁ
KTS Ngô Viết Thụ (1927 – 2000).
Nhắc đến Dinh Độc Lập, đến đường hầm Dinh Gia Long, mà không nói về ông Ngô Viết Thụ thì cũng thiếu sót lắm. Ông sinh ngày 17 tháng 9 năm 1926 tại làng Lang Xá, Thừa Thiên Huế, mất đột ngột vì đột quỵ ngày 9 tháng 3 năm 2000 tại nhà riêng ở Quận 3. Cuộc đời ông, tính ra, cũng là một tấm gương phản chiếu những biến động của đất nước.
Ông lấy vợ là bà Võ Thị Cơ từ năm 1948, khi còn học dự bị kiến trúc ở Đà Lạt, sinh được tám người con, trong đó có tiến sĩ Ngô Viết Nam Sơn, sau này cũng nối nghiệp cha làm kiến trúc sư và đô thị gia. Giai đoạn 1950-1955, ông theo học tại Viện Kiến trúc Hoa Kỳ, rồi năm 1955 đoạt Giải thưởng lớn ở Rôma, giải Khôi nguyên La Mã, một vinh dự không phải ai cũng chạm tới. Ba năm sau đó, ông lưu trú tại Biệt thự Medicis của Viện Hàn lâm Pháp ở Roma, các cuộc triển lãm của ông cùng nhóm khôi nguyên La Mã năm nào cũng được tổng thống Pháp và Ý đích thân đến cắt băng.
Năm 1960, theo lời mời của Tổng thống Ngô Đình Diệm, ông về nước, mở văn phòng tư vấn kiến trúc tại 104 Nguyễn Du và số 8 Nguyễn Huệ. Ông từng ấp ủ một dự án nối Sài Gòn với Chợ Lớn bằng một trung tâm hành chính quốc gia mới, tiếc là vì ngân sách và thời cuộc mà dự án ấy chẳng bao giờ thành hình, một trong không ít giấc mơ kiến trúc dang dở của đời ông. Năm 1962, ông trở thành người châu Á đầu tiên được bầu làm Viện sĩ Danh dự của Viện Kiến trúc Hoa Kỳ, đứng chung hàng với những tên tuổi lớn như Arne Jacobsen, Steen Eiler Rasmussen.
Danh mục công trình ông để lại dày đặc: Dinh Độc Lập, Viện Đại học Huế, Viện Nguyên tử Đà Lạt, Nhà thờ chính tòa Phủ Cam, Chợ Đà Lạt, Trường Đại học Nông nghiệp Sài Gòn, Trường Đại học Sư phạm Huế, Trường Đại học Y khoa Sài Gòn, cùng hàng chục đồ án quy hoạch đô thị, tỉnh lỵ mới ở miền Nam. Sau năm 1975, ông ở lại Việt Nam, đi học tập cải tạo, rồi vẫn tiếp tục làm nghề: thiết kế Ty Thủy lợi Đắc Lắc, Bệnh viện Sông Bé, Khách sạn Century Huế, phác thảo chùa Trúc Lâm Đà Lạt, tham gia quy hoạch Hà Nội và Hải Phòng, làm giám khảo quốc tế cho cuộc thi quy hoạch Nam Sài Gòn năm 1993. Một người từng vẽ nên biểu tượng của một chính thể, rồi vẫn lặng lẽ cầm bút vẽ tiếp cho một đất nước đã đổi màu cờ. Tôi nghĩ, đó mới thật là cái bản lĩnh của một người nghệ sĩ chân chính, không để chính trị làm gãy đi cây bút của mình.
Mà ông đâu chỉ giỏi kiến trúc. Ông còn vẽ tranh. Bộ Sơn hà cẩm tú bảy bức treo trong Dinh Độc Lập, mỗi bức dài hai mét rộng một mét. Ông còn là nhà điêu khắc, biết chơi đàn nguyệt, đàn tranh, đàn kìm, thổi sáo, lại còn làm thơ để lại hàng trăm bài. Một con người tài hoa đến vậy, cả đời gắn liền với việc dựng xây những công trình mang tầm quốc gia, mà cuối đời lại ra đi lặng lẽ trong căn nhà riêng nhỏ bé của mình. Tôi vẫn hay nghĩ, có lẽ những người tài hoa nhất thường sống một đời rất giản dị, để dành hết cái phi thường cho tác phẩm.
VÒNG XOAY CỦA NHỮNG GIAI THOẠI
Đi ngang những con đường lớn khu trung tâm, thế nào cũng có lúc thấy Hồ Con Rùa hiện ra từ xa. Nó là một nút giao thông hình bùng binh, nhưng lại mang trong mình cả một pho truyền thuyết dày cộp.
Hồ Con Rùa trước năm 1975. Photo: Nhacxua.vn
Tên chính thức của nơi này là Công trường Quốc tế, nằm giữa ngã ba đường Võ Văn Tần, Phạm Ngọc Thạch và Trần Cao Vân. Ban ngày nó là vòng xoay, ban đêm nó hóa thành một khu ẩm thực sầm uất, quán cà phê mọc dày đặc chung quanh, đèn giăng lung linh, đài phun nước cuối tuần rực rỡ sắc màu. Tôi vẫn hay ghé đây ngồi cà phê cà pháo với bạn bè, nhìn dòng xe cộ lượn quanh cái vòng xoay mà nghĩ, không biết bao nhiêu thế hệ người Sài Gòn đã từng ngồi y như vậy, ở đúng chỗ này, qua bao nhiêu tên gọi khác nhau của con đường.
Vị trí này, tính ra cũng trải qua không biết bao lần đổi thay. Năm 1790 đây là cổng thành Khảm Khuyết của thành Bát Quái, sau vua Minh Mạng đổi tên là cửa Vọng Khuyết. Đến năm 1837, sau khi dẹp xong cuộc nổi loạn của Lê Văn Khôi, triều đình phá thành cũ xây thành Phụng nhỏ hơn, vị trí cửa thành trở thành điểm ngoài vòng thành. Người Pháp chiếm được, san bằng năm 1859, rồi quy hoạch lại thành phố năm 1862, biến nơi đây thành cuối một con đường mang số 16, sau này chính là đường Catinat lừng danh.
Năm 1878, một tháp nước được dựng lên đúng chỗ này để cấp nước cho dân trong vùng, tồn tại đến năm 1921 thì bị phá bỏ vì không còn đủ sức đáp ứng nhu cầu. Từ đó nơi này thành giao lộ, mang tên Công trường Maréchal Joffre, rồi người Pháp dựng một tượng đài ba binh sĩ bằng đồng cùng hồ nước nhỏ để đánh dấu công cuộc xâm chiếm Đông Dương, người dân thường gọi là Công trường Ba Hình. Tượng đài ấy tồn tại đến năm 1956 thì bị chính quyền Việt Nam Cộng hòa phá bỏ, chỉ còn lại cái hồ nước nhỏ, giao lộ đổi tên thành Công trường Chiến Sĩ.
Hồ Con Rùa như ta biết hôm nay, theo một số tài liệu được xây năm 1965, tài liệu khác lại nói 1967, do kiến trúc sư Nguyễn Kỳ thiết kế, được chọn ra từ một cuộc thi. Đến giai đoạn 1970-1974 được trùng tu, chỉnh trang thêm năm cột bê tông cao dạng bàn tay xòe ra như cánh hoa đón đỡ nhụy, tháp chính cao 34 mét, vòng xoay đường kính gần trăm mét, hồ phun nước hình bát giác với bốn lối đi bộ xoắn ốc dẫn vào đài tưởng niệm trung tâm. Nơi có hình tượng con rùa hợp kim đội bia đá ghi tên các nước từng công nhận Việt Nam Cộng hòa. Người dân gọi là Hồ Con Rùa cũng do từ đó mà ra, dù tên chính thức lúc bấy giờ là Công trường Chiến Sĩ Tự Do, sau đổi thành Công trường Quốc tế năm 1972.
Nhưng cái làm người ta nhớ Hồ Con Rùa lâu bền nhất, có lẽ không phải kiến trúc, mà là giai thoại phong thủy gắn liền với nó. Chuyện kể rằng năm 1967, khi tướng Nguyễn Văn Thiệu lên làm tổng thống, có mời một thầy phong thủy người Hoa đến xem thế đất Dinh Độc Lập. Thầy phán dinh nằm trên long mạch. Đầu rồng chính là Dinh Độc Lập, còn đuôi rồng nằm tại Công trường Chiến Sĩ, đuôi rồng hay vùng vẫy nên sự nghiệp khó bền, cần đúc một con rùa lớn để trấn lại. Vì thế người ta đồn cái tháp cao dựng giữa hồ chẳng khác nào một thanh gươm, một cây đinh khổng lồ đóng xuống để ghim chặt long mạch, còn khuôn viên hồ hình bát quái, giữ âm dương giao hòa.
Giai thoại thì hay, nhưng số phận con rùa ấy cũng chẳng yên ổn gì. Đêm 1 tháng 4 năm 1976, một vụ nổ đã phá hủy cả tấm bia lẫn con rùa hợp kim. Theo lời chính quyền lúc đó là do một nhóm người phản đối muốn “giải thoát cho đuôi rồng”. Vụ án ấy sau này còn được dựng thành một bộ phim cùng tên vào năm 1985, thời trào lưu “phim mì ăn liền”. Con rùa không còn, nhưng cái tên vẫn ở lại, bám riết lấy vùng đất này như một lời nhắc rằng, có những thứ người ta có thể phá hủy được bằng thuốc nổ, nhưng không cách nào xóa được trong ký ức tập thể của một thành phố.
Ngồi giữa Hồ Con Rùa một buổi tối, nhìn dòng người qua lại tấp nập, tôi cứ vẩn vơ nghĩ, cái vòng xoay be bé này đã đi qua tên gọi của không biết bao nhiêu chế độ, chứng kiến bao lớp người đến rồi đi, mà rốt cuộc, cái tên nó mang bây giờ lại là cái tên dân gian đặt cho một con rùa đã không còn tồn tại. Thứ sống lâu nhất với một vùng đất không phải là những công trình đồ sộ, mà chính là câu chuyện người ta kể cho nhau nghe, đời này qua đời khác, bên ly cà phê, dưới bóng cây, giữa tiếng xe cộ rộn ràng của một Sài Gòn chẳng bao giờ chịu ngủ yên.
Mới rảo qua có mấy chỗ ở Quận 1 mà tùy bút đã dài đến vậy. Thôi, tạm dừng chân nơi đây, để dành những nơi khác cho những lần sau.
(còn nữa)
Nguyễn Đông A
Không có nhận xét nào