Header Ads

  • Breaking News

    Lời kể mới về bóng tối

    byPhạm Thị Hoài and Phạm Hồng Sơn

    Tạp chí Luật Khoa

    30/8/2026

    Ông Nguyễn Thành Nam. Ảnh gốc: CafeLand. Đồ họa: V.K / Luật Khoa.

    Ông Nguyễn Thành Nam. Ảnh gốc: CafeLand. Đồ họa: V.K / Luật Khoa.

    Lời tòa soạn: Luật Khoa trân trọng giới thiệu cuộc thảo luận giữa nhà văn Phạm Thị Hoài (Berlin, Đức) và bác sĩ Phạm Hồng Sơn (Paris, Pháp) về vụ án chữ Nguyễn Thành Nam.

    Nhà văn Phạm Thị Hoài là tác giả của tiểu thuyết “Thiên sứ” (1988), tập truyện ngắn “Mê lộ” (1989), tiểu luận “Man Nương” (1995), và tiểu thuyết “Maria Sến” (1996). Bà cũng là một dịch giả và là người khởi xướng, điều hành talawas – một báo điện tử độc lập của giới trí thức trong thập niên 2000. Bà sang Đức định cư từ năm 1993.

    Bác sĩ Phạm Hồng Sơn là một nhà hoạt động dân chủ. Ông dịch các bài viết về dân chủ từ website của Đại sứ quán Hoa Kỳ từ năm 2002 và gửi cho các nhà lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Ông bị bắt cùng năm, tòa kết án ông 5 năm tù vì tội gián điệp. Ông được trả tự do trước thời hạn vào năm 2006 và sang Pháp sống từ năm 2018.

    Cuộc thảo luận dưới đây được tiến hành qua thư điện tử vào tháng 8/2026.

    ***

    Phạm Thị Hoài: Suy nghĩ đầu tiên của anh về vụ Nguyễn Thành Nam? [1]

    Phạm Hồng Sơn: Tôi có hơi bất ngờ nhưng nó đáp ứng đúng mong đợi của tôi lâu nay. Gần đây, trước những than vãn của bạn bè, đại ý: “Chính quyền ngày càng mạnh tay, bắt hết. Tình hình xấu quá!”, tôi im lặng vì không thể đồng ý với sự bi quan như thế và cũng không thể chắc chắn với những suy đoán của bản thân. Nhưng rồi “Chuyện với Thanh” đã xuất hiện. Trái với nhiều người, trước khi ông Nguyễn Thành Nam bị bắt, tôi cho ngay rằng đây là một tiến triển đúng như tôi suy đoán và mong muốn. Lực lượng tiến bộ, cũng như cái ác, có thể xuất hiện ở mọi nơi, mọi tầng lớp trong xã hội. Người như ông ấy khó có thể xa lạ với những trang tin độc lập bùng nổ vào đầu những năm 2000 như Thông luận, talawas, Đối thoại, Đàn chim Việt, Dân làm báo, Dân luận… Chẳng lẽ những thông tin hữu lý và hướng theo chiều cao thượng của con người lại không có tác dụng gì với người thích trí tuệ và kinh doanh trí tuệ?

    Phạm Thị Hoài: Những người biết ông Nam cho đây là một tai nạn “quân ta đánh quân mình”, vì ông ấy vốn nổi tiếng là tôn sùng Hồ Chí Minh, đầy tâm huyết xây dựng hình ảnh ông Hồ bằng ngôn ngữ mới, mong khơi lại tình yêu “Bác” có lẽ đã phai nhạt ở giới trẻ. Một tình yêu lãnh tụ lệch pha.

    Phạm Hồng Sơn: Tôi chưa được đọc cuốn sách đó, nhưng căn cứ vào một số trích dẫn khả tín trên mạng, theo tôi, cuốn sách đã chạm vào một “nọc cái” của chế độ. Đó là hình ảnh Hồ Chí Minh – được chính ông Hồ và toàn hệ thống chính trị liên tục dày công tạo tác, đắp điếm, không tiếc mọi tiền của sức lực, để biến thành một biểu tượng toàn hảo, thiêng liêng sánh ngang với thần thánh. Thế mà “Chuyện với Thanh” lại kể về Hồ Chí Minh bằng một lối văn dung tục, cười cợt. Không những thế, tác giả còn thổ lộ khát khao muốn giới trẻ phải biết tự mình tìm tòi sự thật trong các vấn đề lịch sử, kể cả sự thật về Hồ Chí Minh. Thật là chí lý. Nhưng cũng thật là nguy hiểm cho độc tài Hà Nội. Vì vậy, chúng ta nên thận trọng khi gọi đó là tình yêu lãnh tụ, dù lệch pha. 

    Phạm Thị Hoài: Ngay lập tức, ký ức chưa bị gột sạch về những vụ như Xét lại chống đảng hoặc Nhân văn – Giai phẩm trỗi dậy, nhất là sau khi một loạt nhân vật thuộc giới xuất bản và truyền thông, kể cả Chủ tịch Hội Nhà văn Nguyễn Quang Thiều, cũng lâm nạn. [2][3]

    Phạm Hồng Sơn: Trừ một điểm, vụ Nguyễn Thành Nam về cơ bản hoàn toàn khác Nhân văn – Giai phẩm và Xét lại chống Đảng. Bối cảnh đương nhiên khác, cả hai vụ ở thế kỷ trước đều xảy ra vào những thời điểm khi quyền lực độc tài có khả năng tuyệt đối đóng chặt mọi cửa thông với thế giới tự do, kể cả với Việt Nam Cộng hòa. Trong cả hai vụ án, các nhân vật bị trấn áp thuộc giới trí thức, văn nghệ sĩ và một nhóm đông đảo cán bộ cao cấp, thậm chí công thần của hệ thống, hoàn toàn không có ý định cũng như hành động nào vô tình gây tổn hại tới uy danh của quyền lực (đảng) hay biểu tượng thánh hóa của chế độ (Hồ Chí Minh). Về khả năng mưu sinh, tất cả các nhân vật bị bách hại trong hai vụ án đó đều phụ thuộc hoàn toàn vào chính quyền từ cân gạo tới hạt muối; còn ông Nguyễn Thành Nam – một CEO thành công và thành danh – có gia sản phải tính bằng nhiều triệu đô-la. Điểm chung duy nhất của vụ này và hai vụ trong quá khứ là khả năng gây suy yếu nền móng của quyền lực độc tài. Trong Nhân văn – Giai phẩm, đó là đòi hỏi tự do sáng tác, tự do ngôn luận – thuộc những công cụ cơ bản để giải thể độc tài. Trong Xét lại chống Đảng, là tinh thần hòa bình-xét lại theo Đại hội 20 của Liên Sô – đồng nghĩa với việc chống lại chủ trương “đốt cháy cả dãy Trường Sơn” để tiến chiếm Việt Nam Cộng hòa của Hà Nội.

    Phạm Thị Hoài: Còn một điểm chung nữa: cả ba vụ đều không là xung đột ý thức hệ. Các nhân vật ở vụ Xét lại chống Đảng là những cán bộ cộng sản trung kiên, khi bị đảng thanh trừng vẫn không rời bỏ xác tín. Họ đều là những Bucharin một lòng cống hiến cho lý tưởng, như trong bức thư tuyệt mệnh gửi các thế hệ lãnh đạo ĐCS Liên Sô tương lai, trước khi bị xử bắn: “Hỡi các đồng chí, hãy biết rằng cũng có một giọt máu của tôi nhuộm thắm lá cờ các đồng chí đang giương cao trên bước đường vinh quang tiến tới chủ nghĩa cộng sản”. [4] Và có thể họ cũng phần nào được an ủi rằng “đi tù cũng là tham gia chống Mỹ cứu nước“, tương truyền là một bon mot của đồng chí Lê Đức Thọ, hoặc một bon mot khác của ông Vũ Đình Huỳnh, rằng đó chẳng qua là những trận “ốm vỡ da” của cách mạng; ốm để lớn, để trưởng thành, để hoàn thiện. [5]

    Ở vụ Nhân văn – Giai phẩm, đó là những văn nghệ sĩ và trí thức say đắm lý tưởng cộng sản, chỉ thất vọng bởi hiện thực không mấy nồng nàn trong cuộc hôn nhân tự nguyện với đảng. Họ chia sẻ bi kịch ấy với những tên tuổi lừng lẫy khắp thế giới, song khác với những Albert Camus, Milan Kundera, Jorge Semprún, Arthur Koestler… họ không chính thức ly khai dù bị ly hôn, thậm chí còn thỏa nguyện khi được tái hôn. Cho đến cuối đời, ông Trần Đức Thảo vẫn kiên định một lập trường triết học mác-xít tương đối giáo điều. Một trong những đứa con cưng bị cách mạng ăn thịt tàn nhẫn nhất, ông Nguyễn Hữu Đang, vẫn nhất mực giữ lý lịch cách mạng lão thành của mình. 

    Ở vụ “Chuyện với Thanh” không có cuộc tình lãng mạn ấy. Liên kết đầy màu sắc sùng bái của ông Nguyễn Thành Nam với Hồ Chí Minh giống một phản ứng hạt nhân của các tham vọng, khiến ông Nam phát sáng một thời gian dài trước khi gặp sự cố. Quan hệ giữa giới doanh nhân đại gia và chính quyền ở Việt Nam là một cuộc hôn phối sắp đặt, hai bên đều cần nhau và cùng có lợi, ý thức hệ chỉ đóng vai trò phông bạt. Song cả ở đây, cán cân quyền lực vẫn không thay đổi. Ông Nam khiến tôi nhớ đến cựu Chủ tịch Alibaba Jack Ma, đảng viên ĐCS Trung Quốc, song tuyên bố với phóng viên nước ngoài rằng cứ việc yêu chính quyền, nhưng đừng kết hôn. Như ông Nam dạy “làm giàu kiểu Cụ Hồ”, Jack Ma dạy áp dụng chiến tranh nhân dân kiểu Mao vào kinh doanh. Như ông Nam với “văn hóa STCO” của FPT, Jack Ma từng là biểu tượng của “văn hóa Alibaba”, đề cao sự phá cách, thậm chí kỳ quái, lập dị, lộng ngôn, vượt ranh giới, trước khi bị Trung Nam Hải lẳng lặng phát vãng. [6] Jack Ma có phát ngôn nổi tiếng: “Hôm nay trời tối, ngày mai còn tối hơn, nhưng ngày kia sẽ sáng. Đa số chết vào tối mai”. Jack Ma đã lặng lẽ trở lại, ông Nam sẽ âm thầm sống qua tối mai.      

    Phạm Hồng Sơn: Chị đã làm khơi dậy nhiều vấn đề lớn, phức tạp không dễ lý giải của lịch sử. Về sự mâu thuẫn có tính kỳ cục của nhiều trí thức Việt Nam bị đảng trù dập, tôi xin “cống hiến” một ca vừa lịch sử vừa thời sự: nhà văn Vũ Thư Hiên. [7] Chúng ta giải thích ra sao việc một người đã bị đảng cho đi tù 9 năm không án, đã sống gần 30 năm ở nước ngoài với tư cách lưu vong chính trị – đối lập với đảng; không những thế, gia đình ông là gia đình duy nhất trong Xét lại chống đảng có cả hai cha con đều bị đảng bắt tù bất chấp người cha đã từng là thư ký riêng, là ân nhân của Hồ Chí Minh; thế mà lại về Việt Nam sinh sống và có nhiều biểu tỏ tán thành, khen ngợi chính quyền mà bản chất vẫn y nguyên như lúc gia đình bị trấn áp? 

    Phạm Thị Hoài: Đặng Tiểu Bình hai lần bị bắt giam. Cha Tập Cận Bình bị đày ải hơn chục năm, chị gái bị Hồng Vệ binh giết ngay tại nhà, song cả hai đều trở thành lãnh tụ tối cao của chính cái hệ thống quyền lực đó. Hơn nữa, Việt Nam không chỉ là Ba Đình. Ở tuổi 90 khi hồi hương, ông Vũ Thư Hiên dĩ nhiên không còn là một “phần tử” khiến chính quyền phải lo ngại; thậm chí ngược lại, ông có thể bị công cụ hóa thành một bông hoa cài ve áo chế độ, như ông Phạm Duy đã từng. Song lưu vong luôn là một lựa chọn bất đắc dĩ, đặc biệt với giới văn nghệ sĩ mà phần lớn đều chết lâm sàng ở nước ngoài. Tự do không phải là nguồn dưỡng khí duy nhất nuôi một kiếp người. Ở trường hợp nhà văn Vũ Thư Hiên, xuất thân cốt cán, án oan rõ ràng, hầu như không có phát ngôn nào bị coi là “chống phá thù địch” cực đoan, có lẽ trở về là một quyết định hợp lý với cá nhân ông sau ba mươi năm sống trong chân không ở nước ngoài. Huy Đức từng nhận định: “Những nhà văn trong sáng của Đảng như Vũ Thư Hiên, Bùi Ngọc Tấn bị đưa vào tù như là một ‘sự phân công’. Không có họ ở đó [Vũ Thư Hiên 9 năm; Bùi Ngọc Tấn 5 năm] lịch sử mà ta biết sẽ có rất nhiều khoảng trống. Không có họ ở đó, nhiều thế hệ có thể đi trong bóng đêm mà vẫn tưởng ban ngày“, trước khi chính anh, một nhà báo trong sáng của đảng, không lâu sau, cũng bị “phân công” như thế. [8]

    Phạm Hồng Sơn: Chị đúng khi nhắc hai cái tên độc tài đã từng bị trấn áp, trực tiếp hoặc gián tiếp, bởi chính hệ thống mà họ sẽ tiếp tục duy trì. Nhưng họ thuộc giới cầm cờ hoặc cầm súng. Giới cầm bút khác. Phạm Duy là trường hợp, theo tôi, không đáng ngạc nhiên nếu xem lại đoạn đời trước đó của ông: nỗ lực và thiên phú trong sáng tác âm nhạc thường ngược với nỗ lực và tư chất trong nhân cách. Chị cũng có thể đúng về nhận định “chân không” của giới văn nghệ sĩ lưu vong. Nhưng thế giới đã có Hugo, Nabokov, Solzhenitsyn, Kundera… Ở mức Việt Nam, chúng ta đã và đang có Mai Thảo, Võ Phiến, Phan Nhật Nam, Dương Thu Hương…

    Hơn nữa, tôi không tán thành cách đánh giá của Huy Đức. Dù hay về từ ngữ nhưng lối nhận định này đã làm mờ sự tàn nhẫn của kẻ độc tài. Thản nhiên giết chết 5 năm, 9 năm thanh xuân của một đời người không thể đồng nghĩa với một cử chỉ thuyên chuyển công tác không được báo trước. Tuy nhiên, tôi không muốn lạc đề. Hãy dành một dịp khác có thể cho hai nhân vật có tài viết và nhiều điểm mờ này. Trở lại “Chuyện với Thanh”, tôi không tin những biểu hiện “yêu”, “tôn sùng” Hồ Chí Minh của ông Nam là thật, nhất là khi ông ấy chấp bút cuốn sách. Thời “làm giàu kiểu cụ Hồ”, nhiều khả năng ông Nam vẫn giữ sự sùng tín Hồ Chí Minh như nhiều người Việt Nam sinh ra và trưởng thành hoàn toàn ở miền Bắc trước 75. Song, tôi vẫn không loại trừ phương châm đó xuất phát từ nhu cầu kinh doanh, marketing hơn là say mê, tôn kính một lãnh tụ độc tài. 

    Theo tôi, chúng ta nên nhìn Jack Ma hay Nguyễn Thành Nam là những dấu chỉ cho thấy những khiếm khuyết, mâu thuẫn, tiềm năng và cả bi kịch của tầng lớp doanh nhân thành đạt trong một nền kinh tế tự do không chấp nhận rule of law như Trung Quốc và Việt Nam. [9] Nếu đặt họ vào thời Victoria (cuối thế kỷ 19), thậm chí thời Magna Carta (cách đây hơn 800 năm), của Anh, tôi tin cả hai ông sẽ hành xử ít hổ thẹn hơn nhiều. Nhưng nếu đặt con người trước trách nhiệm xã hội và lịch sử, tôi đồng ý với bày tỏ mang tính thất vọng và phê phán của chị.

    Song, chị nghĩ sao về Trần Huỳnh Duy Thức, Lê Thăng Long, Lê Công Định, Nguyễn Bắc Truyển, Nguyễn Văn Đài, Lê Quốc Quân, những người khá giả hoặc có nhiều tiềm năng giàu có, cùng một môi trường, đã có những hành xử xác tín hơn ông Nam về chính trị?

    Phạm Thị Hoài: Đạo đức của mọi doanh nghiệp tư bản ở mọi thời đại và mọi thể chế đều nằm ở hai chữ “lợi nhuận”. Từ một quy mô lợi nhuận nhất định trở lên, mọi phát ngôn đạo đức đều là marketing. Qua nhiều thế kỷ, các nước dân chủ và pháp trị đã dựng nên vô số tầng định chế để trong khả năng cho phép ít nhiều tránh được kịch bản “mọi luật lệ của con người đều bị chà đạp” và “mọi tội ác đều sẵn sàng được thực hiện, bất chấp cả nguy cơ phải lên giá treo cổ” khi lợi nhuận hứa hẹn 100%, thậm chí 300%. Việt Nam không có khoảng thời gian xa xỉ nhiều thế kỷ đó cũng như các cấu trúc chính trị tương ứng. Lương tâm với nỗi hổ thẹn mà anh đề cập chưa bao giờ là một định chế đáng tin cậy. Nhìn chung, Việt Nam không thể có một định chế nào đáng tin cậy, khi ý thức hệ, rường cột của mọi định chế, rất cứng rắn ở bề mặt nhưng bên trong thiếu hẳn xương sống: Đảng Cộng sản đã từ bỏ phần lớn nguyên lý và giá trị cộng sản để trở thành một CEO độc quyền khai thác mọi hình thái và biến thái của chủ nghĩa tư bản dưới một danh xưng bánh đúc là “định hướng xã hội chủ nghĩa”. Trong môi trường đó, không chết vào tối mai là một thành tựu đáng kể. 

    Những người bất đồng chính kiến hoặc từng như vậy mà anh nhắc đến chưa bao giờ sở hữu một phần nhỏ nguồn lực như của ông Nguyễn Thành Nam, cả về vật chất, danh tiếng, vị thế xã hội và tầm ảnh hưởng, chưa bao giờ là một “phương diện quốc gia” như ông Nam. Song sự khác nhau lớn nhất là: họ ý thức rõ sự bất đồng chính kiến của mình; ông Nam có chăng chỉ sơ ý lệch pha chính thống. Các nhà độc tài có thể mua tất cả, trừ hai thứ: gu thẩm mỹ và óc hài hước. Ông Nam có lẽ đã tếu táo hơn khả năng cười của hệ thống.

    Phạm Hồng Sơn: Không, tôi không tin ông Nam “sơ ý”. Người ta có thể tếu táo trong một phát ngôn, thậm chí tếu táo là một thói quen khi chuyện trò vặt. Nhưng không ai có thể đùa cợt về một lãnh tụ chính trị trên một diễn đàn nghiêm túc trong một chế độ chưa bao giờ cho phép châm biếm chính trị tồn tại. Không những thế, sự “tếu táo”, như chị gọi, đã diễn ra qua nhiều năm tháng nghĩ ngợi, chấp bút và qua nhiều công đoạn mang tính soi xét, thẩm duyệt và kiểm duyệt. Tuy nhiên, chính quan điểm của tôi cũng có nhiều điểm chưa thể lý giải và, do đó, cũng không hoàn toàn thuyết phục. Tôi nghĩ, ngoại trừ ông Nam, không ai có thể khẳng định động cơ nào đã khiến ông ấy nghiền ngẫm và xuất bản thành công (trước khi bị trấn áp) “Chuyện với Thanh”. Song, bất kể thế nào, ông Nam đã hoàn tất một việc mà không một nhà dân chủ nào cho tới nay có thể làm được: đưa được một giải độc tố Hồ Chí Minh vào cơ thể chính thống, trong cả xuất bản lẫn giáo dục.

    Câu trích dẫn phê phán chủ nghĩa tư bản của chị rất có tiếng và không hoàn toàn sai. Nhưng, chúng ta không nên quên đã có nhiều nhà đại tư sản cũng là những nhà thiện nguyện vĩ đại. Dĩ nhiên, lợi nhuận và tư lợi luôn bám theo con người. Việt Nam cũng rõ ràng không trải qua lịch sử như các quốc gia Âu-Mỹ trong xây dựng chế độ pháp trị-tự do-dân chủ. Nhưng những điều này, theo tôi, không cho phép chúng ta thấy chế độ Hà Nội là bình thường hay khả-thể-chấp-nhận. Chỉ cần nhìn ngay chính nhân vật chúng ta đang đề cập: một người có đầy nguồn lực tài chính, danh tiếng xã hội và lại có vị thế “phương diện quốc gia” như chị đánh giá, nhưng đã bị trừng phạt như một đứa trẻ không chút hiểu biết, và đáng nói hơn, chính ông lại phản ứng như một đứa trẻ nhút nhát đã làm việc đúng nhưng trái ý cha mẹ hung bạo. Thật đáng thương và đáng lo biết bao nếu mọi người giàu có trong một xã hội đều chấp nhận một cuộc đời như thế!

    Tôi đồng ý, lương tâm, hổ thẹn và cả đạo đức nói chung không thể trở thành định chế kiểm soát hành vi con người như luật pháp. Nhưng loài người chắc chắn đã tận diệt hoặc không thể đạt được những thành tựu nhân văn như tại Liên minh Châu Âu (EU), Bắc Mỹ nếu không tồn tại những cái mà ta gọi là lương tâm, đạo đức, liêm sỉ. 

    Năm nay vừa tròn 250 năm nước Mỹ ra đời. Lịch sử lập quốc Mỹ, theo tôi, cũng là một bài học của lương tâm. Các nhà lập quốc hàng đầu của Mỹ đều là các doanh nhân-đại gia siêu thành đạt, tạm gọi theo ngôn từ thông dụng của Việt Nam hiện nay, nhưng họ đã không chịu khoanh tay trước hành xử bất công của chính quyền. Cuối cùng, họ không chỉ đòi được công lý, thăng tiến danh dự cá nhân, giữ gìn được gia sản mà còn đặt ra một nền móng vững bền cho quốc gia hùng mạnh nhất thế giới. Lịch sử của loài người, của các quốc gia, kể cả Mỹ, ở một góc độ, là lịch sử học hỏi lẫn nhau. Vậy, tại sao một quốc gia nổi tiếng hiếu học lại không thể học những điều hay của nhân loại trong một thế giới đã có nhiều công cụ rất thuận lợi cho học tập?

    Phạm Thị Hoài: Anh có nhầm không? Suốt lịch sử, người Việt đã học đủ thứ giáo trình đến từ bên ngoài. Khi ông thầy Hồ Chí Minh nhập chủ nghĩa cộng sản vào dạy ở Việt Nam, ít nhất một nửa thế giới ào ạt cuốn theo “ba dòng thác cách mạng”, được sự ủng hộ của những văn nghệ sĩ và trí thức lỗi lạc trên thế giới. Hiện tại, chúng ta không chỉ học mà còn là một bản sao nhỏ – tuy mờ nhạt và nhiều lỗi – của Trung Quốc, siêu cường quyết định kỷ nguyên châu Á đang diễn ra của lịch sử nhân loại, trong khi ở phương Tây mặt trời đang lặn và đã xuống khá thấp. Hoa Kỳ hiện nay vẫn là mơ ước của rất nhiều người – nhất là những người Việt thấy trăng nước Mỹ kiểu gì vẫn tròn hơn trăng Trung Quốc – song đã mất sức thuyết phục trong vai trò ngọn cờ của thế giới tự do. Vị tổng thống đương nhiệm không ao ước gì hơn là đăng quang hoàng đế, vứt 250 năm dân chủ của nước Mỹ vào thùng rác lịch sử, song phải tạm bằng lòng với ngôi một lãnh chúa kiêm luôn vai lộng thần. Các nhà khai quốc và lập hiến Hoa Kỳ đã sáng suốt phòng trước kịch bản đó, song lại không tính đến khả năng một kẻ từng bị kết án cả hình sự lẫn dân sự, có thể thao túng dân chúng để nắm một quyền lực lớn và thoải mái hành xử vô liêm sỉ như thế. Nếu ngày mai Đức bầu cử, đảng cực hữu AfD cũng sẽ giành nhiều phiếu nhất, với lời chào từ quá khứ Quốc xã. Nước Pháp, nơi anh đang sống, đầu năm sau rất có thể có tổng thống cực hữu đầu tiên trong lịch sử. Ở tầng vĩ mô, liberalism, tinh thần tự do cởi mở cốt tủy của phương Tây hiện đại có lẽ sẽ khó hồi phục, nếu cuộc cách mạng trí tuệ nhân tạo (A.I) dẫn đến cơn ác mộng Big State tay trong tay với Big Tech, ngoài các khủng hoảng dân túy, chiến tranh, di dân và khí hậu còn chưa có lời giải. [10] Đó không phải là hoàn cảnh lý tưởng để cung cấp giáo trình cho học trò Việt Nam.

    Phạm Hồng Sơn: Quả là chua xót khi chị nhắc lại những gì Hồ Chí Minh đã học thế giới và du nhập vào Việt Nam và nhắc đến những hành vi quá lố của Donald Trump với tư cách tổng thống của một chính thể dân chủ thuộc hàng đáng kính nhất. Nhưng chỉ nhìn vào hai nhân vật này, trong cương vị người nắm quyền lực, chúng ta có thể thấy ngay sự tương phản như đen và trắng giữa những nhà kiến quốc của hai quốc gia. Bản thân Hồ Chí Minh đã tự tạo ra cơ chế miễn trừ mọi trách nhiệm pháp lý, dân sự lẫn hình sự, cho bản thân; “nhiệm kỳ” cầm quyền suốt đời của ông chưa bao giờ chịu bất cứ sự chỉ trích, phê bình nào dù chính phủ và bản thân ông ta đã có những hành động, hành vi đáng liệt vào tội sát dân, phản quốc. Chúng ta chưa bao giờ thấy chính quyền, do Hồ Chí Minh lập ra, phải lo về duyệt ngân sách chẳng hạn. Trong khi đó, chính quyền Donald Trump đang rất vất vả để Quốc hội cho thêm chi phí chiến cuộc với Iran; và, bất quá, chỉ hơn hai năm nữa, Donald Trump phải rời vĩnh viễn chức tổng thống với hiện trạng hàng chồng hồ sơ pháp lý chống lại chính quyền, chưa kể những rủi ro ngoài vòng luật có thể lại nhắm vào bản thân ông. Theo nghiên cứu của tôi, trong giới lập quốc Hoa Kỳ cũng có người dự đoán tới việc thể chế dân chủ, kể cả ở Đức và Pháp, có thể tự sát; những gì họ đề xuất một cách tin tưởng trong khi thiết lập hiến pháp cũng chỉ là giải pháp chỉ có tương lai mới đủ thẩm quyền để phán xét một cách đầy đủ.

    Về sự nổi lên, phải thừa nhận, đầy ấn tượng của Trung Quốc, theo tôi, một lần nữa, chúng ta phải cảnh giác để không lặp lại ảo tưởng cộng sản chủ nghĩa của thời kỳ cuối thế kỷ XIX, khi mô hình tư bản lâm vào khủng hoảng và phải tìm đường tự sửa đổi. Trung Quốc hiện nay, đúng ra, chỉ là một phiên bản tồi của phương Tây khi thành công trong việc học hỏi (và đánh cắp) các công nghệ, tri thức khoa học của phương Tây nhưng gạt bỏ các giá trị nhân văn Khai sáng và Phục hưng. Nhân loại sẽ rất hối hận nếu không ngăn được mô hình Trung Quốc. 

    Theo tôi, nếu nhìn Hồ Chí Minh là một kinh nghiệm của dân tộc trong việc học hỏi thế giới, chúng ta lại có hy vọng vì một bộ phận người Việt, cả trong và ngoài nước, đã nhận ra sự du nhập chính trị đó là một sai lầm lớn cho dân tộc. Dân tộc, cũng như con người, có thể sai lầm và cũng có khả năng sửa chữa sai lầm. Song, vấn đề nguy hiểm là chế độ Hồ Chí Minh luôn ngăn chặn mọi ý muốn sửa chữa đó.

    Phạm Thị Hoài: Gọi mô hình Việt Nam hiện tại là “chế độ Hồ Chí Minh”, theo tôi là sai về bản chất và thậm chí mắc bẫy tuyên truyền. Đó đơn giản là một nhà nước chuyên chế (authoritarian). Tạm thời không còn là nhà nước toàn trị (totalitarian) như thời cộng sản chiến tranh, dù các thiết chế toàn trị vẫn tồn tại, có thể kích hoạt bất kỳ lúc nào. Dĩ nhiên, cũng không còn là nhà nước chuyên chính vô sản (Diktatur des Proletariats) theo tinh thần của Marx và Engels. Mọi nhà nước chuyên chế đều cần một số tự sự mấu chốt để biện minh một quyền lực vĩnh viễn. Đại tự sự dễ sử dụng và kiểm soát nhất của Ba Đình tập trung vào hai chữ DÂN TỘC viết hoa. Ông Hồ gắn với hai chữ ấy. Tập hợp mang tên “Tư tưởng Hồ Chí Minh” với những khái niệm chủ đạo là dân tộc, cách mạng giải phóng dân tộc, đại đoàn kết dân tộc, trở thành cái phao tư tưởng của đảng, một đảng lê-nin-nít thực dụng đã đánh mất học thuyết mác-xít, hiện không có một điểm tựa lý thuyết nào khả dĩ để bám víu trong cái nghịch lý thú vị của thời đại, là các nước cộng sản thì mơ một chế độ tư bản phi dân chủ, trong khi các nước tư bản mơ một chế độ dân chủ phi tư bản. [11] Dán nhãn Hồ Chí Minh ngay ngắn thì túi Louis Vuitton khắc đúng lập trường. Ông Nguyễn Thành Nam đã dán theo cảm hứng riêng, có lẽ hơi lung tung, sai quy định dán nhãn.

    Phạm Hồng Sơn: Chị đúng, nếu nói về định danh hàn lâm, tuy tính chất “toàn trị”, theo tôi, vẫn nổi bật. Chị cũng đúng khi gợi ý để tôi xem lại “chế độ Hồ Chí Minh” là định danh tôi muốn đánh đúng vào một trụ cột – một đại tự sự của chế độ độc tài Hà Nội. Tôi gọi lại là “chế độ Hồ”. Song, chị đã không đúng khi nhận định về cái nghịch lý của thời đại. Đúng ra, tại các nước gọi là “cộng sản” (giả hiệu) như Trung Quốc và Việt Nam, giới cầm quyền chỉ muốn tiếp tục mô hình tư bản hoang dã để tự do trục lợi tối đa trong sự an ninh tuyệt đối cho bản thân và bè phái; trong khi tại nhiều nước dân chủ hàng đầu hiện nay lại xuất hiện xu hướng quá tả kêu gọi “diệt trừ tư bản”, như tôi chứng kiến ngay tại Pháp. 

    Nói thêm về lập trường, triết lý chính trị hay “tư tưởng” của Hồ Chí Minh, theo tôi chính xác ra phải nói đó là đầu óc cơ hội nhằm mục đích tối hậu là mộng đế vương độc đoán. “Đơn xin học trường thuộc địa”, “Đảng Xã hội Pháp”,“Quốc tế III”, “OSS”, “Bức ảnh của Tướng Chennault”, “Thư gửi Tổng thống Mỹ”, “Cố vấn Vĩnh Thụy”, “Hiệp ước sơ bộ 6/3”, “Chữ ký của Moutet lúc nửa đêm”, v.v. chỉ là những công cụ cho cuộc chinh phục quyền lực của ông ta. Nhưng tất cả các lãnh tụ cộng sản cầm quyền, kể cả Lenin, đều như thế, họ chỉ là những kẻ ôm mộng độc tài nhìn thấy một công cụ tốt do các triết gia nhiệt thành, trung thực nhưng khiếm khuyết (hay ngây thơ) đề xuất.  

    Phạm Thị Hoài: So với những Richelieu, Machiavelli, Talleyrand, Churchill hay Nixon, chẳng dính líu gì đến cộng sản, vốn liếng cơ hội chủ nghĩa và thủ đoạn chính trị của ông Hồ rất khiêm tốn. Song bỏ qua chuyện đó, chính trị và đạo đức không bao giờ chung giường, việc tôi quan tâm hơn là: ông Hồ bị các đồng chí của mình biến thành một món độn tinh thần, nhồi nhét vào mọi thứ, lấp vào mọi khoảng trống tư tưởng. Hoạt động nào cũng “theo gương Bác”, từ viết văn đọc sách đến ăn uống ở mặc, thậm chí không chừa cả môn thái cực quyền, trong khi những hình ảnh trong một clip duy nhất chỉ cho thấy ông Hồ đi mấy đường thoăn thoắt vui mắt, đáng khen cho một người cao tuổi, nhưng đó là múa may, không phải múa quyền. Ngành nghề, lĩnh vực nào cũng “làm theo lời Bác”, trong khi “lời Bác” thường chung chung, khá vô thưởng vô phạt và càng về cuối đời càng nhiều mùi khẩu hiệu sáo mòn. Tôi không hiểu “Năm điều Bác Hồ dạy thiếu niên nhi đồng” có gì đặc sắc mà thế hệ chúng tôi phải thuộc lòng, chưa kể với một đứa trẻ thì những khái niệm “Tổ quốc”, “đồng bào”, “lao động”, “đoàn kết”, “kỷ luật” trong đó hoàn toàn không phù hợp với lứa tuổi. 

    Giới trẻ Việt Nam, mệnh danh là “thế hệ Hồ Chí Minh”, nhai món blah-blah-blah “Bác đã dạy” đó, như cha ông họ từng tụng niệm “Thi vân Tử viết”, khó rút tỉa được điều gì thực sự có ích trong một thời đại đã hoàn toàn đổi khác: dân tộc đã được giải phóng từ lâu; cách mạng đã nghỉ hưu; chiến tranh đã thuộc hẳn về quá khứ; chủ nghĩa cộng sản đã hết hạn sử dụng ngay trong giai đoạn tiếp thị; và trừ ẩm thực, đất nước vẫn quanh quẩn ở các hạng mục từ trung bình kém đến trung bình. Đây chính là sân chơi cho tham vọng của một người như ông Nguyễn Thành Nam: cung cấp cho giới trẻ những món khoái khẩu thay vì món độn nhàm chán, những bài học khác mà ông tiếp thu từ một nguồn phi chính thống và cho rằng bổ ích từ cuộc đời đầy chìm nổi của Hồ Chí Minh. Ông Nam tự coi mình như một nhà “truyền đạo”, rao giảng không mệt mỏi chủ trương khai thác phương pháp, mưu lược, tư duy, phong cách Hồ Chí Minh vào những thách thức mới của thời đại, trước hết ứng dụng trong kinh doanh. “Bác đang cùng chúng cháu hành quân” đi bán phần mềm. Nhà tiên tri rất được trọng vọng tại bản quán FPT và những môi trường tương tự có lẽ đã không tính đến một đặc tính của hệ thống: nó rất cảnh giác trước các nhà tiên tri tự phát. Vậy là ông Nam không còn cơ hội truyền giáo cho một dự án đang ấp ủ khác, cũng đụng vào một trong những totem văn hóa thiêng liêng nhất của người Việt: dự án “Kiều hóa”, hóa giải bí kíp Truyện Kiều, biến sản phẩm “nhái” Tàu thành hồn cốt Việt, giúp khởi nghiệp Việt Nam cất cánh.

    Phạm Hồng Sơn: Không, ông Hồ hoàn toàn không thể so được với các nhân vật chị vừa nêu. Họ, dù thủ đoạn, thậm chí láu cá (Talleyrand, Nixon), và nhiều người trong số họ không có vị thế đứng đầu một chính quyền, đều ít nhiều để lại những di sản vật chất, tinh thần, thiết chế cải cách có tầm vóc lớn cho thăng tiến của nhân quần, nhỏ là quốc gia, lớn là châu lục hay thế giới. Chưa kể, bốn trong số sáu nhân vật đó đều thuộc về thời đại vua chúa, quyền lực quân vương – coi con người chỉ là những thần dân, nhưng họ không cố khoác cái lốt ‘cha già’ trùm lên một tâm địa chỉ lo lắng cho bản thân và bè phái của mình như ông Hồ. Chỉ cần so bộ dạng lễ phép, khúm núm của ông Hồ trước Stalin, Mao hay Chennault với thái độ cao ngạo, hậm hực, khinh khỉnh của ông với Tạ Thu Thâu, Trần Đức Thảo, Nguyễn Mạnh Tường; chỉ cần nhớ lại thảm trạng đen tối, đói rách, chơ vơ của đất nước Việt Nam (sau 75 trước 90), chúng ta có thể thấy ngay “tầm vóc” chính trị của ông Hồ ở mức nào. Đương nhiên, không chỉ giới trẻ (của nhiều thế hệ), trong đó có chị và tôi, mà toàn dân tộc Việt Nam đã và sẽ vẫn còn phải chịu đựng nhiều hệ lụy của một lãnh tụ chính trị như thế nếu chế độ do ông ta dựng nên vẫn tồn tại.

    Về ông Nguyễn Thành Nam, thú thật, tôi hoàn toàn không biết những chi tiết như chị vừa thuật. Tuy nhiên, vào lúc này, theo tôi, còn rất sớm để bàn thêm về động cơ của ông trong “Chuyện với Thanh”. Song, chị nghĩ sao về vai trò của lực lượng dư luận viên trong vụ này?

    Phạm Thị Hoài: Tôi không chắc chắn. Trong vụ này, nếu vài ba nhân vật ít tiếng tăm, đều đã lớn tuổi, đều là cựu cán bộ, cựu quân nhân, đều “bảo hoàng hơn vua”, đều tự nguyện gác cổng tư tưởng không cônglại có thể định hướng dư luận, khiến bộ máy thẩm định và kiểm duyệt của chính quyền phải theo đuôi thì có lẽ bộ máy đó quá yếu kém, thiếu hiệu quả, lười nhác, chểnh mảng, chỉ hoạt động lấy lệ. Cũng dễ hiểu, “bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ, bảo vệ thành quả cách mạng của dân tộc” chắc chắn không thuộc nhóm “việc nhẹ lương cao” mà người Việt thường mơ ước. Phần việc mỏi tay nhất đã được hệ thống outsource, hoặc cho những doanh nghiệp sân sau như “Lực lượng 47” thuộc quân đội, hay cho đội ngũ “dư luận viên 3 củ”, như mô hình các mạ thủ, chuyên gia bút chiến, Đảng 50 xu bên Tàu. Cũng có thể họ là những con rối được giật bởi những bàn tay vô hình điêu luyện. Song chừng nào truyền thông mới chỉ bị nhấn chìm trong rác rưởi tuyên truyền bởi những con người thật, với những thao tác thật, dù nặc danh, thì đó là còn may mắn. Khi một chính quyền độc tài đủ phương tiện và nguồn lực công nghệ, không còn cần đến con người để kiểm soát và uốn nắn con người nữa, như rất có thể trong tương lai gần, thì kịch bản “1984” + “Brave New World” thậm chí còn là lạc quan. Trung Quốc đang trở thành một đế chế độc tài công nghệ thông minh gần như vô đối, Việt Nam biết mình phải theo chân ai.

    Phạm Hồng Sơn: Không thể phủ nhận những giả định, dù không chắc, của chị về sức nặng của những nhân vật “bảo hoàng hơn vua”. Tôi xin bổ sung một ý nghĩ khác. Họ là một thành phần tất yếu của chế độ toàn trị Á Đông, là hậu duệ của những đấu tố viên thời Cải cách Ruộng đất với những cái tên luôn thay đổi, như “quần chúng tự phát”, “tổ dân phố”, “dư luận viên”, “bộ đội cụ Hồ”, cho phù hợp với từng bối cảnh. Kẻ độc tài theo maoism luôn cần những thành phần này để uy hiếp đối lập, xách động dư luận và che bớt bản chất tàn ác của chế độ. Chúng ta đừng quên, chính Hồ Chí Minh cũng từng phải hóa thân, có tính làm mẫu, thành một “dư luận viên” trong vụ hành hình bà Nguyễn Thị Năm-Cát Hanh Long. Đọc lại “Địa chủ ác ghê, đang có trên lưu trữ của Nhân dân, chúng ta sẽ thấy tất cả những lời lẽ vu vạ ác ý nhất của dư luận viên nhằm vào “Chuyện với Thanh” đều ở tầm học trò, nhưng là học trò yếu, của C.B. Vì vậy, những người kêu gọi chính quyền “xử lý” các nhân vật này là những người vừa chưa hiểu bản chất chế độ Hồ vừa xâm phạm quyền tự do ngôn luận. 

    Về biến chuyển của hệ thống Ba Đình, tôi cũng thấy một hướng khác. Bề ngoài, hệ thống đang ngày càng mạnh mẽ và tự do hơn trong trấn áp mọi yếu tố gây khó cho sự sống còn của nó. Nhưng hệ thống này không thể tránh được một quy luật trong vật lý: entropy. Hệ thống càng kín, sự bất ổn tất yếu của nó càng tăng, càng khó lường. Đúng là hiện nay, chưa bao giờ độc tài lại có những phương tiện tinh vi, rẻ tiền và hữu hiệu trong việc kiểm soát dân chúng. Nhưng, cả hai kịch bản chị nêu, có tính cảnh báo hay tiên tri, cũng cho thấy sức nghĩ, sức sáng tạo của con người hướng về đời sống tự do, cao cả, cũng ngoạn mục và vô giới hạn. Thế giới loài người chưa bao giờ thấy ngừng tiến hóa, dù có những bước thụt lùi. Cuộc đấu tranh của người Việt chống độc tài từ thế kỷ XX cũng thế.

    Phạm Thị Hoài: Trừ vũ trụ này, không có hệ cô lập nào hoàn toàn khép chặt, kể cả xã hội cộng sản thời đồ đá kín mít của Bắc Hàn, nên trái với mọi mong đợi từ quy luật entropy, Bắc Triều Tiên tuy mông muội nghèo đói vẫn nguyên vẹn. Các quốc gia độc tài hết sức thành công về kinh tế như Trung Quốc, hay tương đối thành công như Việt Nam, lại càng không có lý do gì để thay đổi thể chế. Hơn nữa, chính phương Tây đã kiếm lời lớn từ việc bắt tay với Trung Quốc. Sự sung túc của nước Đức mà tôi cũng đang được hưởng có một phần không nhỏ bắt nguồn từ đó. Chừng nào “thằng độc tài” còn sinh lợi và không nguy hiểm cho ta thì nó là độc tài nhưng tốt. Việt Nam không sinh lợi lớn, song hoàn toàn vô hại, vì thế tuy vẫn là chú nhóc độc tài nhưng dễ gần, thậm chí dễ thương, từ góc nhìn có phần kẻ cả và tiêu chuẩn kép của phương Tây. 

    Tôi ngày càng hoang mang trước ngày càng nhiều câu hỏi. Con người chỉ còn một thời gian rất ngắn, cùng lắm là 10, 20 năm, để chuyển hệ nhân loại. Câu chuyện độc tài hay tự do trong “Nhân loại 1.0” sẽ còn ý nghĩa gì trong “Nhân loại 2.0”, khi ông Hồ hay ông Nam, lời kể mới về ánh sáng hay bóng tối, đều chỉ còn là một hay vài token cho các mô hình trí tuệ nhân tạo trong một thế giới do A.I vận hành?

    Phạm Hồng Sơn: Tôi không thể không chia sẻ sự bi quan hữu lý của chị về thế giới do A.I thống trị và tình trạng tẩy não, ru ngủ dân chúng tại ba quốc gia cộng sản châu Á. Nhưng chính sự bi quan này cũng cho tôi niềm hy vọng, bởi còn ít nhất một người Việt không chia sẻ cái thỏa mãn sung sướng của đa số người Việt tại quê nhà. Đúng là thế giới lại đang rơi vào một thời kỳ “nhập nhoạng” (ý của Antonio Gramsci), hay “chuyển hệ” như chị nói, do đang diễn ra những thay đổi căn bản. Song, thế giới, đặc biệt tại các quốc gia dân chủ, vẫn tồn tại các lực lượng đối lập, phản biện, thậm chí chống lại chính quyền và các xu hướng, lực lượng có thể khuynh loát xã hội, trong đó có các mặt tiêu cực của A.I và công nghệ. Liên Âu, đứng trước sự vượt trội về công nghệ không tự do của Trung Quốc và hống hách-trumpist của Mỹ, đã nhận ra tầm quan trọng của chủ quyền công nghệ. Họ cũng xác định đây không chỉ là thách thức kỹ thuật, mà, quan trọng hơn, là cuộc đấu về văn hóa và văn minh. Triết lý Đông và Tây cũng thống nhất rằng mọi sự vật đều vô thường – không ngừng biến đổi. 

    Đó chính là các yếu tố khiến tôi vẫn giữ nhiều niềm hy vọng vào tương lai trước một thực tại nhiều đe dọa. Cách đây vài năm, không mấy ai tin Ukraine có thể trụ vững, nước Hung loại được Orban, FPT có một lãnh đạo bị khởi tố “chống nhà nước”. Vì vậy, trong “Chuyện với Thanh” tôi vẫn bị ánh sáng thu hút hơn là bóng tối.


    Không có nhận xét nào