Ks Nguyễn Ngọc Bảo
19/8/2026
“…Cần đặt lại toàn bộ vấn đề bằng câu hỏi. Không phải: “Làm thế nào để 6,5 triệu người Việt ở nước ngoài đóng góp cho Việt Nam?”, mà là:
“Tại sao Việt Nam chưa tạo được một thể chế đủ tốt để người có năng lực, kỹ năng, tài chánh — dù ở trong hay ngoài nước — tự nhiên muốn đóng góp vào sự phát triển của đất nước”;
Như vậy, 6,5 triệu người Việt ở nước ngoài không phải “nguồn lực phải vận động”; họ là một phần của một hệ sinh thái mà Việt Nam phải tạo điều kiện để tự vận hành.
Nếu có được lời giải được câu hỏi này thì Nghị quyết 23 hay 36 chỉ là công cụ phụ trợ. Nếu không có lời giải, Nghị quyết 23 chỉ trở thành một phiên bản mới của cơ chế vận động kiều bào, nối tiếp Nghị Quyết 36, thay vì mở một cuộc cải cách thực sự, và cũng sẽ thất bại”.
Ngày 2/08/2026, Tô Lâm, Tổng Bí Thư Đảng CSVN và Chủ Tịch nước đã ký ban hành Nghị quyết số 23-NQ/TW về công tác người Việt Nam ở nước ngoài.
Nghị quyết 23 tiếp nối Nghị Quyết 36 (2004) không đặt vấn đề đúng chỗ. Vấn đề không phải là “làm thế nào để vận động 6,5 triệu người Việt ở nước ngoài đóng góp cho Việt Nam?”, mà phải là : “Tại sao Việt Nam chưa tạo được một thể chế đủ tốt để người có năng lực, kỹ năng, tài chánh — dù ở trong hay ngoài nước — tự nhiên muốn đóng góp vào sự phát triển của đất nước”
1. Vận động 6,5 triệu kiều bào không phải là lời giải
Nếu Việt Nam có được :
• một nền tư pháp thực sự độc lập, một khuôn khổ pháp luật ổn định
• quyền sở hữu được bảo vệ;
• cạnh tranh bình đẳng trong một nền kinh tế thị trường đúng nghĩa
• doanh nghiệp tư nhân không bị phân biệt đối xử, so với hệ thống quốc doanh
• quốc nạn tham nhũng được ngăn chặn triệt để,
• tiền thuế được sử dụng minh bạch;
• quyền tiếp cận thông tin rộng rãi;
• giáo dục và tuyển dụng dựa trên năng lực;
• người trẻ có thể phát triển dù không thuộc hệ thống chính trị;
thì không cần một nghị quyết đặc biệt để thuyết phục người chuyên viên Việt Nam trong mọi ngành nghề có năng lực, kỹ năng, tài chánh đóng góp.
Động lực sẽ xuất hiện gần như tự nhiên.
Một kỹ sư Việt Nam ở Silicon Valley, Đức, Pháp, Anh, Nhật, Úc, .. có thể không cần về Việt Nam. Họ có thể đóng góp cụ thể và hiệu quả vào công cuộc phát triển đất nước: đầu tư vào các công ty khởi nghiệp trong nước về công nghệ cao, tham gia vào việc đào tạo kỹ sư Việt Nam tại chỗ hay trực tuyến, hỗ trợ cho các chuyển giao công nghệ, nhờ các kinh nghiệm đã thu thập được, hướng dẫn và tài trợ cho các công trình nghiên cứu căn bản về khoa học, kỹ thuật (nano, lượng tử, chip bán dẫn, sinh học, năng lượng tái tạo, …), thực hiện các tư vấn về quản trị, hướng phát triển, khuyến thị cho các doanh nghiệp trong lãnh vực tư, sẵn sàng làm gạch nối giữ các công ty tại Việt Nam với các công ty ngoại quốc về cộng tác nghiên cứu, mở thị trường mới, tư vấn trong các dự án quốc tế có đối tác Việt Nam.
Đó chính là mạng lưới tri thức xuyên quốc gia. Và chỉ hiệu quả trong môi trường tự do, pháp trị.
2. Nghịch lý lớn hơn nằm ngay trong nước
Việt Nam đang có hàng triệu người trẻ:
• được đào tạo đại học;
• sử dụng Internet và AI
• tiếp cận tri thức quốc tế;
• biết ngoại ngữ;
• làm việc trong IT;
• kỹ thuật;
• tài chính;
• logistics;
• sản xuất;
• thương mại quốc tế;
• khoa học và công nghệ cao.
Nhưng nếu hệ thống tuyển dụng, thăng tiến và phân bổ nguồn lực đặt nặng trên: quan hệ – lý lịch – vị trí chính trị – sự trung thành với đảng CSVN
hơn là : năng lực – sáng tạo – thành tích – chuyên môn
thì nền kinh tế Việt Nam sẽ tạo ra một dạng lãng phí vốn nhân lực không thể bù đắp . Đây là vấn đề nghiêm trọng hơn rất nhiều so với việc chưa thu hút đủ tài năng hải ngoại.
3. Mô hình thích hợp cần có
Mô hình cũ của Nghị Quyết 36 và 23:
Nhà nước → vận động kiều bào → đưa nguồn lực về Việt Nam → phát triển
Mô hình cần có:
Cải cách thể chế → tạo môi trường cạnh tranh → giải phóng năng lực trong nước + kết nối khối người hải ngoại → phát triển
Hai mô hình hoàn toàn khác nhau.
Trong mô hình thứ hai, 6,5 triệu người ở nước ngoài không phải mục tiêu chính. Hải ngoại và hơn 1 triệu chuyên viên, chất xám là một phần của mạng lưới nhân lực toàn cầu của Việt Nam.
4. Và đây là lý do tại sao Nghị quyết 23 và 36 đã đặt sai trọng tâm
Nếu Nghị quyết 23 chỉ làm tốt những việc như: tổ chức hội nghị, thành lập mạng lưới kiều bào, lập danh sách chuyên gia, mời chuyên gia về nước, tổ chức diễn đàn, vận động đầu tư, ...thì sẽ gặp lại giới hạn và thất bại của Nghị quyết 36.
Nhưng nếu trở thành một đòn bẩy để cải cách thật sự môi trường thể chế, thì ý nghĩa sẽ hoàn toàn khác. Một thí dụ: “muốn chuyên gia Việt Nam ở Mỹ tham gia đào tạo AI.”
Cách tiếp cận cũ → mời chuyên gia về Việt Nam.
Cách tiếp cận mới: → xây dựng một cơ chế để chuyên gia đó có thể đào tạo cho giới trẻ trong nước từ bên ngoài, được trả thù lao minh bạch, quyền sở hữu trí tuệ được bảo vệ, tài liệu được tự do sử dụng, dữ liệu được bảo vệ, và không bị can thiệp vào nội dung chuyên môn.
Cần mở ra những chương trình mở, minh bạch, cho phép chuyên gia Việt Nam trên toàn thế giới: đóng góp bài giảng, mentoring, tổ chức webinar, đào tạo giảng viên, xây dựng phòng thực tập, chia sẻ các trường hợp nghiên cứu (case study), huấn luyện ưu tiên cho doanh nghiệp tư, đào tạo sinh viên, đóng góp tài liệu mã nguồn mở.
Nếu có hàng chục ngàn chuyên gia Việt Nam trên toàn thế giới tham gia theo cách đó, giá trị có thể lớn hơn rất nhiều so với vài trăm người trở về Việt Nam làm việc.
5. Tuy nhiên cần một thay đổi căn bản: “mở” phải là mở thật
Nếu lãnh đạo Việt Nam muốn các chuyên gia hải ngoại đóng góp, nhưng đồng thời, chỉ được đóng góp trong khuôn khổ những gì mà đảng CSVN cho phép, thì nguồn lực sẽ vô cùng giới hạn.
Người có trình độ cao thường không chỉ mang theo kiến thức.
Họ còn mang theo: tư duy phản biện, văn hóa tranh luận, tiêu chuẩn nghề nghiệp, cách quản trị hiện đại, yêu cầu minh bạch, chuẩn mực pháp lý, văn hóa chịu trách nhiệm.
Vì vậy, thu hút người tài thực chất đồng nghĩa với việc phải chấp nhận đa nguyên về tư duy. Đây là điểm khó nhất đối với đảng CSVN.
Kết luận
Cần đặt lại toàn bộ vấn đề bằng câu hỏi. Không phải: “Làm thế nào để 6,5 triệu người Việt ở nước ngoài đóng góp cho Việt Nam?”, mà là:
“Tại sao Việt Nam chưa tạo được một thể chế đủ tốt để người có năng lực, kỹ năng, tài chánh — dù ở trong hay ngoài nước — tự nhiên muốn đóng góp vào sự phát triển của đất nước”;
Như vậy, 6,5 triệu người Việt ở nước ngoài không phải “nguồn lực phải vận động”; họ là một phần của một hệ sinh thái mà Việt Nam phải tạo điều kiện để tự vận hành.
Nếu có được lời giải được câu hỏi này thì Nghị quyết 23 hay 36 chỉ là công cụ phụ trợ. Nếu không có lời giải, Nghị quyết 23 chỉ trở thành một phiên bản mới của cơ chế vận động kiều bào, nối tiếp Nghị Quyết 36, thay vì mở một cuộc cải cách thực sự, và cũng sẽ thất bại.
Nguyễn Ngọc Bảo
Không có nhận xét nào