Hồ Quốc Tuấn
Aug 15, 2026
Trong tuần qua một số báo đã đăng tin nhưng có vẻ không được quan tâm nhiều. Đó là Việt Nam bị Mỹ xếp vào Tier 2 của “Shadow Transshipment Network” (mà một người bạn của tôi gọi là “Mạng lưới đánh tráo xuất xứ toàn cầu”, còn chúng ta trên mặt truyền thông có lẽ nên gọi là “mạng lưới trung chuyển ngầm toàn cầu”).
Có một chi tiết khá thú vị trong báo cáo The Great Transshipment Scam của Nhà Trắng: không chỉ Việt Nam, Malaysia hay Thái Lan bị đưa vào danh sách những nền kinh tế có rủi ro trung chuyển hàng Trung Quốc. Singapore cũng có tên.
Vậy tóm lại thì điều này có tác động gì? Mình sẽ trình bày qua những hiểu biết của mình và tham khảo từ một số bạn bè trong nghề.
1. “Transshipment” không phải lúc nào cũng là gian lận
Trước hết cần làm rõ một sự nhập nhằng về ngôn ngữ do cách phóng đại của chính báo cáo ông Mỹ khi dùng từ “gian lận” (Scam) đi ngay kế bên từ “transshipment”.
Trong ngành logistics, transshipment hoàn toàn là hoạt động bình thường: container được chuyển từ tàu này sang tàu khác hoặc qua một cảng trung gian để tới điểm đến cuối cùng. Tờ Straits Times mô tả đây đơn giản là “một chiến lược logistics nhằm vận chuyển hàng hóa hiệu quả qua các trung tâm có vị trí thuận lợi”. Singapore xây dựng cả một hệ sinh thái quanh hoạt động đó.
Điều Nhà Trắng muốn chống là “illegal transshipment”: hàng xuất xứ từ một nước chịu thuế cao được đưa qua một nước chịu thuế thấp hơn, sau đó dán nhãn lại, đóng gói lại, tái lập hóa đơn, thực hiện một vài công đoạn nhỏ hoặc khai sai xuất xứ để hưởng mức thuế mà hàng hóa thực sự không đủ điều kiện.
Báo cáo The Great Transshipment Scam của Mỹ mô tả các hình thức từ “relabeling”, “repackaging” và “re-invoicing” tới “false country-of-origin claims”.
Đây là sự phân biệt cực kỳ quan trọng đối với Việt Nam: Sử dụng linh kiện Trung Quốc không biến một sản phẩm thành hàng trung chuyển bất hợp pháp.
Một chiếc điện thoại, máy tính, máy móc hay đôi giày có thể sử dụng nguyên liệu Trung Quốc nhưng trải qua quá trình sản xuất thực sự tại Việt Nam và hoàn toàn có thể mang xuất xứ Việt Nam.
Hải quan Mỹ quan tâm ở đây là một chuyện khác:
Quá trình sản xuất diễn ra tại Việt Nam có tạo ra “substantial transformation” - sự chuyển đổi đáng kể về kinh tế và bản chất sản phẩm - hay chỉ là một vài thao tác để thay đổi hộ chiếu của món hàng?
Chính hướng dẫn hiện hành dành cho doanh nghiệp Singapore minh họa rất rõ ranh giới này. Enterprise Singapore cho biết việc hàng hóa được xuất từ Singapore sang Mỹ không tự động biến nó thành hàng Singapore.
Các hoạt động như gắn nhãn, đóng gói đơn giản, chia lô hoặc một số khâu lắp ráp tối thiểu không đủ tạo ra xuất xứ mới, với hàng không hoàn toàn sản xuất tại một quốc gia, Mỹ xem xét tiêu chí substantial transformation.
Đây cũng chính là bài toán Việt Nam sẽ phải đối diện.
2. Mỹ chia các nước trung chuyển thành ba nhóm như thế nào?
Báo cáo của Mỹ xác định hơn 40 nền kinh tế có “elevated illegal transshipment risk” rồi chia thành ba Tier.
Tier 1 – Diversified Scale Leaders gồm Canada, EU, Ấn Độ, Israel, Nhật Bản, Mexico, Hàn Quốc và Đài Loan. Đây là những nền kinh tế có lượng hàng hóa “China-linked” lớn nhưng đồng thời có nền công nghiệp đa dạng và lượng “thương mại hợp pháp” rất lớn với Mỹ. Nói cách khác, rủi ro transshipment của nhóm này nằm ngay bên trong một “trade flows” lớn sẵn và kiểu là thương mại tự nhiên với Mỹ nhiều năm.
Tier 2 – Scale Leaders with Significant Economic Integration with China gồm Brazil, Indonesia, Malaysia, Thái Lan, Thổ Nhĩ Kỳ và Việt Nam.
Đây mới là nhóm đáng chú ý với Việt Nam.
Theo Mỹ, những nước này vừa có quy mô xuất khẩu đủ lớn, vừa gắn sâu với chuỗi cung ứng Trung Quốc thông qua nguyên liệu đầu vào, manufacturing platforms, logistics systems và các tuyến thương mại khu vực. Riêng Việt Nam, Thái Lan, Malaysia và Indonesia được nhắc tới như các trung tâm sản xuất điện tử, máy móc, nhựa, giày dép, may mặc và linh kiện sử dụng nhiều đầu vào từ Trung Quốc. Đây là nhóm chuỗi cung ứng gắn với Trung Quốc sâu và không thuộc nhóm có “diversified scale” ở trên
Tier 3 – Small, Opportunistic Chinese Targets bao gồm một danh sách dài hơn, trong đó có Cambodia, Laos, Philippines, Panama, UAE và cả Singapore. Các nền kinh tế này được xem là có những đặc điểm có thể tạo thuận lợi cho một số tuyến trung chuyển: free zones, cảng biển, bonded warehouses, lao động giá thấp hoặc năng lực tái xuất khẩu.
Singapore là trường hợp khiến cách phân loại này trở nên dễ hiểu hơn.
Chắc chắn Singapore có năng lực hải quan hơn Việt Nam rất nhiều để kiểm tra các vấn đề này. Nhưng vị trí của nước này trong mạng lưới thương mại toàn cầu khiến nó trở thành “một nút logistics tự nhiên”.
Chính chính phủ Singapore thừa nhận rằng khối lượng hàng hóa quá lớn khiến việc kiểm tra toàn bộ container là bất khả thi, thay vào đó, hải quan sử dụng risk scoring dựa trên thông tin hàng hóa trước khi cập cảng, phân tích chứng từ, tuyến vận chuyển và intelligence để chọn những lô hàng rủi ro cao.
Nói chung, phân loại trên cho thấy chúng ta nên xem nó như một kiểu risk architecture hay risk structure (kiểu như Basel của banking).
Nhưng Việt Nam có một vấn đề khác Singapore hay một số nước ở trên: Việt Nam không chỉ là logistics node mà còn là manufacturing node.
Vì thế Washington không chỉ hỏi container đi qua đâu. Họ còn hỏi nó đã được làm gì trong nhà máy Việt Nam.
3. Vấn đề nhạy cảm của Việt Nam
Cái gốc rễ của câu chuyện transshipment phải kể đến một thực tế thế này:
thuế Section 301 năm 2018, tỷ trọng Trung Quốc trong tổng nhập khẩu hàng hóa của Mỹ giảm mạnh, trong khi tỷ trọng của hơn 40 nền kinh tế được báo cáo xác định là có rủi ro transshipment lại tăng lên.
Mỹ thừa nhận xu hướng này không chứng minh được toàn bộ lượng hàng dịch chuyển là transshipment bất hợp pháp. Một phần hoàn toàn có thể đến từ “genuine investment, relocation of production” và thay đổi nguồn cung hợp pháp.
Việt Nam sau 2018 hưởng lợi ví dụ như nhà cung cấp của Apple đến Việt Nam, Samsung mở rộng hoạt động, và hàng loạt doanh nghiệp FDI đã thực sự mở rộng sản xuất tại Việt Nam. “China+1” là thật.
Hệ quả tất yếu là nhập khẩu đầu vào từ Trung Quốc tăng và xuất khẩu sang Mỹ cũng tăng rất mạnh. Đây cũng chính trở thành vấn đề.
Một nghiên cứu của Office of Trade and Economic Analysis thuộc Bộ Thương mại Mỹ sử dụng dữ liệu transaction-level, tìm những trường hợp cùng một sản phẩm HS8 được nhập từ Trung Quốc và xuất sang Mỹ từ cùng khu vực trong cùng quý. Phương pháp này ước tính khoảng 67 tỷ USD hàng hóa được transship qua ba hub lớn – Mexico, Ấn Độ và Việt Nam (số của phía Mỹ đưa ra trong báo cáo).
Cần nhấn mạnh hai điều.
Một, 67 tỷ USD là tổng của ba nước, không phải riêng Việt Nam.
Hai, matching dữ liệu thương mại vẫn chưa phải bằng chứng khoa học đáng tin cậy hay pháp lý cho các buộc gian lận. Một nhà máy hoàn toàn có thể nhập linh kiện Trung Quốc rồi sản xuất một sản phẩm mới hợp pháp để xuất khẩu.
Vấn đề là với ông Mỹ, các “pattern” như vậy đủ để quyết định tui sẽ kiểm ông nào trước.
Và đây có lẽ là vấn đề lớn nhất của các nước thuộc nhóm Tier 2. Đơn giản mà nói, họ trở thành tâm điểm bị soi cho cái chuyện sản xuất rời khỏi China nhưng lại nhập vào Mỹ dưới dạng illegal transshipment.
4. Có phải Việt Nam sắp bị đánh thêm 40%?
Có mấy bạn quan tâm thì cứ hỏi mình cho đơn giản là Việt Nam có bị đòi đánh thuế 40% lại hay không. Câu trả lời là không thể hiểu cách kiểu nhị phân “Có/Không” như thế vì cái framework của Mỹ nó không phải như vậy.
Nhưng có thể trả lời là “không, ít nhất không phải theo cơ chế 40% mà nhiều người vẫn đang nhắc lại từ năm 2025. Sau phán quyết của Tòa án Tối cao Mỹ ngày 20/2/2026 đối với các tariff dựa trên IEEPA, thì “sáng kiến” thuế đó đã bị phá bỏ rồi.
Enterprise Singapore khẳng định là CBP đã xác nhận với Singapore Customs rằng toàn bộ IEEPA tariffs, bao gồm mức 40% đối với transshipped goods, không còn áp dụng.
Do đó, cách diễn giải:
“Việt Nam vào Tier 2 nên có nguy cơ bị đánh thuế 40%”
là quá đơn giản và, ở thời điểm hiện tại, không chính xác hay hợp thời nữa.
Nhưng đây không hẳn tin mừng.
Bởi mất công cụ 40% không đồng nghĩa Mỹ mất công cụ chống transshipment.
CBP vẫn có thể kiểm tra xuất xứ, truy thu thuế, giữ hàng, điều tra circumvention, sử dụng các công cụ như antidumping và countervailing duties, hoặc áp dụng các luật thương mại khác.
Điều đáng theo dõi không phải vấn đề là thuế nữa. Anh em phân tích thương mại gọi cho rằng có thể có “policy stacking”: rules of origin, customs enforcement, Section 301, sectoral tariffs, forced-labour requirements và supply-chain security có thể cùng lúc tác động lên một sản phẩm.
Financial Times cho rằng USTR vẫn đang làm việc về các rules of origin nhằm ngăn lợi ích của các thỏa thuận thương mại chảy quá nhiều sang nước thứ ba.
Nghĩa là cái báo cáo này mở đường cho rất nhiều thứ từ thuế quan tới biện pháp phi thuế quan.
5. “Detective Border”: khi bài toán của Hải quan Mỹ trở thành một bài toán data mining
Đoạn thú vị nhất với mình trong báo cáo Great Transshipment Scam không phải ba Tier.
Đó là Detective Border.
Nhà Trắng muốn CBP kết hợp “shipment records, routing histories, product classification, ownership, supplier relationships, production capacity và AI để xác định những giao dịch bất thường”.
Hãy tưởng tượng một nhà máy ở Việt Nam khai rằng sản xuất 500 triệu USD thiết bị điện mỗi năm.
Trước đây CBP có thể chủ yếu dựa vào giấy tờ xuất xứ.
Trong mô hình mới, thuật toán có thể hỏi thêm:
Nhà máy có bao nhiêu lao động? Máy móc và điện năng tiêu thụ có phù hợp với 500 triệu USD output không? Công ty nhập bao nhiêu hàng cùng loại từ Trung Quốc?
Bao nhiêu ngày sau khi container Trung Quốc tới Việt Nam thì container “Made in Vietnam” rời cảng đi Los Angeles?
Giá trị hai lô hàng chênh bao nhiêu?
Chủ sở hữu công ty Việt Nam có liên quan tới nhà xuất khẩu Trung Quốc hay không?
Một công ty có 50 lao động nhưng xuất 1 tỷ USD machinery rõ ràng sẽ tạo ra tín hiệu khác một nhà máy 5.000 lao động với dây chuyền, capital equipment và supplier network thực sự.
Báo cáo cho biết Exiger thậm chí sử dụng dữ liệu về facility capabilities, thiết bị, components, shipment timing và cả satellite imagery để đánh giá liệu một sản phẩm có thực sự trải qua substantial transformation hay chỉ đi qua một nước trung gian.
Đây là một thay đổi rất lớn.
Rules of origin đang chuyển từ một bài toán giấy tờ sang một bài toán forensic accounting/economics và một bài toán data mining. Và anh em AI sẽ có thêm việc.
6. Việt Nam nên làm gì? Tham khảo từ Singapore
Singapore không tuyên bố rằng vì mình là nền kinh tế minh bạch nên không thể có hàng hóa bất hợp pháp đi qua cảng.
Họ thừa nhận một thực tế: với một global transshipment hub, không thể kiểm tra mọi container. Cái này cực kỳ quan trọng để hiểu và bàn về giải pháp ở Việt Nam.
Giải pháp là risk-based enforcement: sử dụng advance cargo information, document analytics, routing patterns và intelligence để xác định shipment đáng kiểm tra.
Việt Nam cần một hệ thống tương tự nhưng phải đi thêm một tầng: production analytics vì VN là manufacturing hub như mình nói ở trên.
Một: yêu cầu Mỹ chuyển từ “country allegation” sang dữ liệu cụ thể Việt Nam nên đề nghị CBP và Commerce chia sẻ các HS codes, tuyến thương mại, doanh nghiệp và pattern mà Mỹ cho rằng có rủi ro cao. Nếu Mỹ phát hiện hàng Trung Quốc đi vào một tỉnh rồi lượng hàng cùng mã HS từ tỉnh đó sang Mỹ tăng bất thường, phía Việt Nam phải có khả năng điều tra ngược tới doanh nghiệp.
Hai: xây dựng “Vietnamese Detective Border” Hải quan Việt Nam có thể tự xây hệ thống mirror-trade analytics: China - Vietnam imports, Vietnam - US exports như Sing làm. Matching theo HS6/HS8, thời gian, doanh nghiệp, địa điểm, giá trị và ownership. Ví dụ một shipment vào Việt Nam rồi xuất đi gần như nguyên trạng vài ngày sau phải có risk score khác với nguyên liệu được đưa vào một nhà máy, trải qua ba tháng sản xuất và biến thành một sản phẩm có mã HS khác. Hiểu nôm na là nếu CBP sẽ dùng AI để nhìn Việt Nam, Việt Nam cũng phải dùng AI để nhìn chính mình.
Ba: Certificate of Origin và Evidence of Production Doanh nghiệp xuất khẩu sang Mỹ cần chuẩn bị cho một tình huống trong đó C/O chỉ là điểm bắt đầu.
Hồ sơ phải có khả năng chứng minh: nguồn nguyên liệu, máy móc sử dụng, quy trình sản xuất, lao động, điện năng tiêu thụ, giá trị gia tăng, cấu trúc sở hữu và lịch sử vận chuyển.
Singapore đã hướng dẫn rất thẳng cho doanh nghiệp rằng đóng gói, dán nhãn hay simple assembly không đủ tạo ra Singapore origin.
Việt Nam cũng nên công bố hướng dẫn chi tiết theo từng ngành về mức độ processing nào có khả năng đáp ứng substantial transformation của Mỹ. Cái này chỉ cần qua Sing học.
Ngoài cái yếu tố ở trên học ở Sing thì chính Việt Nam phải thay đổi tiêu chí thu hút FDI
Cái này mình đang muốn làm rồi thể hiện qua các Nghị quyết. V
Điều thứ hai cần nhận ra là Việt Nam và cũng không thể tách mình khỏi chuỗi cung ứng Trung Quốc. Điều này chính các ông EU mới học được một bài học rất cay đắng khi nhận ra còn số thiệt hại ban đầu mà muốn thoát Trung cũng phải vài nghìn tỷ Euro. Việt Nam không trả nổi cái giá này.
Nhưng cần phân biệt giữa hai loại China+1.
Loại thứ nhất: tạo ra giá trị gia tăng và tăng năng lực công nghệ. Đó là FDI Việt Nam nên tiếp tục thu hút.
Loại thứ hai: FDI có thể mang lại một ít GDP và việc làm hôm nay nhưng tạo ra “externality” rất lớn cho toàn bộ khu vực xuất khẩu ngày mai. Như FT nói là một vài doanh nghiệp gian lận có thể làm tăng risk score của cả một ngành.
Vấn đề là ai cũng biết hút thuốc có hại cho sức khỏe nhưng dễ gì cai thuốc.
7. Từ “Made in Vietnam” đến “Verifiably Made in Vietnam”
Có một nghịch lý thú vị nếu bạn ngồi vừa đọc Great Transshipment Scam vừa nghe nhạc Game of Thrones là bạn nhận ra một trò chơi vương quyền rất thú vị.
Thuế Mỹ càng khác nhau giữa các quốc gia, động cơ tariff arbitrage càng lớn. Chính báo cáo Nhà Trắng cũng thừa nhận tariff differentials tạo thêm incentives cho illegal transshipment.
Nói cách khác, một phần vấn đề mà Washington đang cố giải quyết được tạo ra bởi chính cấu trúc thuế quan ngày càng phân mảnh của Washington, như FT bình luận.
Việt Nam không làm gì được điều đó. Điều Việt Nam kiểm soát được là độ tin cậy của xuất xứ Việt Nam.
Singapore là một trường hợp tham khảo hữu ích. Việc một trong những trung tâm logistics được quản trị tốt bậc nhất thế giới vẫn bị đưa vào shadow transshipment network cho thấy Mỹ đang nhìn theo hướng network exposure chứ không chỉ theo phân biệt đối xử chính trị hay reputation của từng quốc gia.
Tóm lại, với báo cáo này, phía Mỹ lần này đang muốn biết “chính xác anh sản xuất bao nhiêu ở Việt Nam?”
Rồi sau đó: “Chứng minh đi.”
Vì vậy, điều đáng lo nhất từ việc Việt Nam bị xếp Tier 2 không phải là một mức thuế quan 40% hay hơn nữa.
Rủi ro lớn hơn là transshipment risk trở thành biến đầu vào thường trực trong cách Mỹ đánh giá hàng Việt Nam.
Khi đó, từng đợt tăng xuất khẩu bất thường, từng nhà máy có công suất khó giải thích, từng ngành nhập quá nhiều đầu vào từ Trung Quốc, số lượng tiêu thụ năng lượng bất thường so với sản xuất đều có thể trở thành tín hiệu cho CBP.
Việt Nam phải xây dựng một hệ thống kiểm soát và data để có thể nói với Washington: đây là dữ liệu chứng minh sản phẩm thực sự được làm tại Việt Nam, dựa trên thông tin về nhà máy, nguyên liệu, lao động, máy móc, tiêu tốn điện năng. Và cho thấy được rõ giá trị gia tăng.
Đôi lúc đây cũng là câu chuyện về chính trị, vì chứng minh khó quá thì quay sang những thứ khác để đánh đổi.
Đọc báo cáo này để thấy một cách tiếp cận architecture của Mỹ nó ra sao rồi mình tính tiếp. Còn tính đường nào thì để các sếp lãnh đạo tính.
Hồ Quốc Tuấn
Không có nhận xét nào