Kỳ 1
Tác giả: Nguyễn Đông A
July 30, 2026
Trái: Đường phố Sài Gòn năm 1915. Author: David Shapinsky from Washington, D.C., United States. Phải: Sài Gòn thời Pháp thuộc với xe ngựa và những cột Morris đặc trưng Pháp
GỐC RỄ CỦA MỘT SÀI GÒN
Nói tới Sài Gòn mà không nhắc Quận 1 thì cũng giống như nói về một cái cây mà quên mất bộ rễ đã cắm sâu trong lòng đất. Hồi còn sống ở đất này, tôi rành từng con hẻm nhỏ, từng góc phố, từng đoạn đường của cái quận chỉ rộng vỏn vẹn 7,72 km², vậy mà lại ôm trong mình trái tim của cả thành phố.
Trên từng khoảng đất không lớn ấy, trụ sở chính quyền, lãnh sự quán, những công trình kiến trúc lịch sử và các biểu tượng của Sài Gòn cứ đứng cạnh nhau, chen vai sát cánh qua bao thế hệ. Chính từ sự chật chội đó mà Quận 1 tạo nên một sức sống rất riêng, lúc nào cũng đông đúc, náo nhiệt mà khó nơi nào sánh được.
Sau đợt sáp nhập hành chính năm 2025, Quận 1 chính thức khép lại vai trò của mình để chia thành bốn phường mới gồm Sài Gòn, Tân Định, Bến Thành và Cầu Ông Lãnh. Tên gọi thay đổi, ranh giới cũng được vẽ lại, nhưng cái hồn của vùng đất này thì dường như chẳng hề xê dịch. Những dãy nhà Pháp cổ vẫn đứng bên các tòa cao ốc hiện đại, như một con người vừa thay chiếc áo mới mà dáng đi, giọng nói và ánh mắt vẫn là của ngày xưa.
Tôi vẫn luôn nghĩ, điều đáng nhớ nhất của một vùng đất chưa bao giờ nằm ở cái tên hành chính. Điều còn lại sau mọi lần đổi thay chính là ký ức con người gửi vào từng góc phố, từng mái nhà và từng bước chân đã đi qua nơi đó.
TỪ MỘT KHÚC SÔNG ĐẾN TRÁI TIM ĐÔ THỊ
Lịch sử của vùng đất này dài lắm, dài như dòng Bến Nghé lặng lẽ uốn mình qua biết bao lớp người và bao cuộc đổi thay.
Năm 1859, người Pháp chiếm Sài Gòn. Đến năm 1861, họ mới chính thức xác lập ranh giới của “Ville de Saigon”, rộng khoảng 25 km², nằm giữa rạch Bến Nghé, rạch Thị Nghè và sông Sài Gòn. Sau đó, diện tích đô thị liên tục thay đổi. Có lúc thu hẹp chỉ còn khoảng 3 km² vào năm 1865, rồi từng bước mở rộng qua nhiều nghị định và những lần sáp nhập các làng xã lân cận, từ 4,06 km² lên 7,91 km², rồi 13,17 km² và đạt 16,38 km² vào năm 1912.
Bản đồ thành phố Sài Gòn năm 1882. Source/Photographer: Bibliothèque nationale de France.
Dân số cũng lớn lên cùng nhịp phát triển ấy. Từ hơn mười nghìn người vào năm 1866, đến năm 1930 đã gần một trăm năm mươi nghìn người sinh sống. Nhìn lại cả chặng đường ấy, tôi có cảm giác như đang xem một thước phim quay rất nhanh, thấy một vùng đất ven sông từng bước trở thành phố thị, thấy những con đường đông dần lên theo từng lớp người tìm đến dựng nghiệp và mưu sinh.
Tháng 9 năm 1889, Sài Gòn được chia thành hai quận là Quận 1 và Quận 2. Qua nhiều biến động lịch sử, vùng đất này lần lượt mang những tên gọi như Sài Gòn – Chợ Lớn, Đô thành Sài Gòn – Chợ Lớn rồi Đô thành Sài Gòn. Hai cái tên Quận Nhứt và Quận Nhì cũng theo đó mà tồn tại, nhiều lần điều chỉnh ranh giới, tách rồi nhập theo từng giai đoạn phát triển.
Đến năm 1959, đường Công Lý, nay là Nam Kỳ Khởi Nghĩa, trở thành ranh giới phân định Quận Nhứt và Quận Nhì. Tháng 5 năm 1976, hai quận hợp nhất thành Quận 1 và cái tên ấy được giữ nguyên suốt gần nửa thế kỷ, cho đến cuộc sắp xếp hành chính năm 2025.
Nhìn lại cả hành trình ấy, tôi càng thấy tên gọi của một đơn vị hành chính chỉ giống như lớp áo khoác bên ngoài. Hôm nay mặc chiếc áo này, ngày mai thay chiếc áo khác, nhưng ký ức của đất, nếp sống của người và linh hồn của một đô thị thì không dễ gì đổi thay.
NƠI SÔNG NƯỚC GẶP PHỐ PHƯỜNG
Quận 1 có một cái duyên rất riêng khi ba mặt đều được ôm lấy bởi sông và kênh. Phía đông là sông Sài Gòn, phía bắc là kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè, phía nam là kênh Bến Nghé. Vì vậy mà nơi đây có rất nhiều cây cầu nối những bờ vui với nhau. Cầu Kiệu, cầu Bông, cầu Điện Biên Phủ bắc qua dòng Nhiêu Lộc để sang Bình Thạnh, Phú Nhuận, cầu Ba Son cùng đường hầm vượt sông mở lối sang Thủ Thiêm. Còn cầu Khánh Hội, cầu Mống, cầu Ông Lãnh thì nối Quận 1 với Quận 4 qua kênh Bến Nghé.
Tôi vẫn hay nghĩ, một quận nhỏ mà có nhiều cây cầu đến vậy cũng là điều dễ hiểu. Bởi đây từ lâu đã là điểm giao nhau của những dòng người, nơi người ta từng đi ngang qua. Thế nhưng lạ ở chỗ, khi ghé qua người ta lại muốn nán lại, mảnh đất này luôn biết cách giữ chân người.
Nơi đây hội tụ nhiều công trình, để rồi làm nên diện mạo của Sài Gòn. Nhà hát Thành phố, Nhà thờ Đức Bà, Bưu điện Trung tâm, Dinh Độc Lập, rồi tòa Bitexco vươn cao giữa bầu trời, thuộc nhóm những công trình nổi bật của thành phố. Xen giữa những dãy phố đông đúc là Công viên Tao Đàn, Thảo Cầm Viên với những tán cây xanh mát, đem đến khoảng thở hiếm hoi giữa cái nắng đặc trưng của Sài Gòn. Đêm xuống, Bùi Viện, Đồng Khởi và những quán cà phê, quán bar lại bừng lên một nhịp sống khác, sôi động, trẻ trung, còn náo nhiệt hơn cả ban ngày.
Tôi nhận ra, chính sông nước đã mở đường cho phố thị lớn lên, còn những cây cầu thì nối không chỉ hai bờ, mà còn nối quá khứ với hiện tại, nối người đến với người. Quận 1 chưa bao giờ chỉ là trung tâm của thành phố, mà còn là nơi mọi dòng chảy đều tìm về.
MỖI GÓC PHỐ LÀ MỘT LÁT CẮT CỦA SÀI GÒN
Nhắc đến Quận 1, nhiều người sẽ nghĩ ngay tới phố đi bộ Nguyễn Huệ, quảng trường rộng mở với những tòa nhà cao tầng bao quanh, cứ mỗi khi chiều xuống lại đông nghịt người qua lại, tạo nên một bầu không khí lúc nào cũng rộn ràng. Cách đó không xa là Café Apartment ở số 42 Nguyễn Huệ, khu chung cư cũ được cải tạo thành những quán cà phê, studio và cửa hàng nhỏ mang đậm vẻ hoài cổ. Ngồi trên ban công, nhấp một ngụm cà phê rồi lặng lẽ nhìn dòng người xuôi ngược dưới phố, đôi khi cũng đủ để cảm nhận một Sài Gòn rất khác.
Muốn ngắm toàn cảnh trung tâm từ trên cao thì có Bitexco Skydeck. Đứng sau lớp kính trong suốt, tôi nhìn thấy sông Sài Gòn lượn mình qua thành phố, thấy Thủ Thiêm phía bên kia mỗi ngày một đổi khác. Ngay trên trục Lê Lợi, Saigon Garden và Takashimaya vẫn là điểm hẹn quen thuộc của nhiều người, từ những đôi tình nhân đến nhóm bạn cuối tuần tìm nơi gặp gỡ giữa lòng đô thị.
Trái ngược với sự nhộn nhịp ấy, Quận 1 vẫn giữ cho mình nhiều khoảng xanh đủ để người ta tìm lại nhịp thở chậm rãi. Bến Bạch Đằng và công viên ven sông luôn mát gió, nhất là vào buổi sớm hoặc khi chiều buông. Chỉ cần đứng nhìn mặt nước lững lờ trôi cũng thấy lòng nhẹ đi ít nhiều. Tao Đàn và Lê Văn Tám rợp bóng cây cổ thụ, sáng nào cũng đông người tập thể dục, đi bộ. Hồ Con Rùa vẫn lặng lẽ như một chứng nhân của bao biến đổi, Công viên Chi Lăng nép mình giữa phố xá, còn Công viên 23 Tháng 9 lúc nào cũng đầy sức sống với những hoạt động cộng đồng.
Tôi để ý, giữa một thành phố luôn tất bật, chỉ cần có một khoảng cây xanh là sẽ có người ngồi xuống thật lâu. Người đọc sách, người ngắm trời, cũng có người chẳng làm gì cả. Họ chỉ đi tìm cho mình một chút bình yên giữa những âm thanh không bao giờ chịu ngủ.
Trái: Khu trung tâm Sài Gòn vào tháng 1 năm 1968 với những chiếc xe hơi điển hình của thời điểm đó. Author: Pierre Nordique. Phải: Tòa Đô Chánh Sài Gòn – Nay là Ủy Ban Nhân Dân Tp. HCM. Ảnh tư liệu.
NHỮNG LỚP KÝ ỨC NẰM LẠI GIỮA LÒNG ĐÔ THỊ
Nếu muốn tìm về lịch sử, Quận 1 có rất nhiều nơi để bắt đầu. Dinh Độc Lập vẫn còn nguyên hầm chỉ huy và nhiều căn phòng mang dấu tích của một giai đoạn nhiều biến động. Chợ Bến Thành với tháp đồng hồ đã trở thành biểu tượng quen thuộc của thành phố, trong khi Chợ Tân Định lại mang vẻ gần gũi, phản chiếu nhịp sống buôn bán bình dị của người Sài Gòn qua nhiều thế hệ. Bưu điện Thành phố và Tòa Đô chính cũ cũng lặng lẽ đứng đó, như những mảnh kiến trúc châu Âu được gìn giữ giữa lòng đô thị phương Nam.
Không chỉ có lịch sử, Quận 1 còn là nơi nhiều nền văn hóa và tín ngưỡng cùng hiện diện. Nhà thờ Đức Bà mang phong cách Roman – Gothic, chùa Ngọc Hoàng đậm dấu ấn người Hoa, đền Mariamman rực rỡ sắc màu của cộng đồng Ấn Độ, rồi nhà thờ Huyện Sỹ, nhà thờ Tân Định với gam hồng nổi bật, chùa An Lạc và chùa Linh Sơn thanh tịnh giữa phố đông.
Điều khiến tôi quý mảnh đất này không chỉ là những công trình đẹp, mà còn là cách chúng cùng tồn tại rất tự nhiên. Bao nhiêu tôn giáo, bao nhiêu sắc dân cùng sống trên một vùng đất nhỏ mà vẫn hài hòa với nhau. Sài Gòn dường như có một tấm lòng rộng rãi, ai đến cũng thấy mình có chỗ đứng, ai ở lâu cũng dễ xem nơi đây như quê hương.
MỘT QUẬN 1 KHÔNG THỂ ĐO BẰNG BẢN ĐỒ
Người yêu nghệ thuật có thể ghé Bảo tàng Mỹ thuật, Bảo tàng Thành phố hoặc The Factory để khám phá những không gian sáng tạo đương đại. Gia đình có trẻ nhỏ thì có Thảo Cầm Viên, Snow Town Saigon, Jump Arena hay TiniWorld với nhiều hoạt động vui chơi, trải nghiệm. Muốn tìm một buổi chiều nhẹ nhàng, chỉ cần dạo Đường sách Nguyễn Văn Bình, ngồi dưới bóng cây đọc vài trang sách hoặc thong thả bước qua quảng trường cũng đủ thấy lòng thư thái.
Còn nếu thích khám phá những mảng màu khác của thành phố, Quận 1 vẫn có rất nhiều điều để níu chân. Phố Tây Bùi Viện rực sáng khi đêm xuống, hẻm Lost in Hong Kong mang vẻ hoài cổ dưới ánh đèn neon, Little Japan Town gợi không khí Nhật Bản giữa lòng Sài Gòn, còn Chợ Nga lại thấp thoáng hơi thở Đông Âu. Mỗi nơi một sắc thái, một câu chuyện, nhưng khi ghép lại lại tạo thành một Sài Gòn quen mà lạ, rất riêng và khó lẫn với bất kỳ đô thị nào khác.
Tôi tin rằng nơi này chưa bao giờ chỉ là một đơn vị hành chính. Đó là lớp trầm tích của thời gian, nơi ký ức của bao thế hệ âm thầm chồng lên nhau như từng lớp phù sa bồi đắp đôi bờ sông Sài Gòn. Tên gọi có thể đổi, địa giới rồi cũng sẽ khác, nhưng hồn đất và tình người thì vẫn lặng lẽ ở lại. Nhiều điều không còn hiện hữu trên bản đồ, nhưng lại sống rất lâu trong ký ức. Và đôi khi, chính ký ức mới là thứ định nghĩa một vùng đất bền vững hơn bất kỳ đường ranh giới nào.
*****
29 Tết – Sài Gòn phù hoa
Tôi rời Sài Gòn vào một buổi chiều không nắng cũng không mưa, cái thứ trời lưng lửng, ươn ướt, như còn muốn níu người ta lại thêm chút nữa. Một người bạn, PN Thường Đoan viết vài câu ngắn mà như trách:
— “Bạn không ăn tết quê nhà. Bạn bay về Mỹ. Còn đúng 29 ngày nữa thì tết rồi…”
Hai mươi chín ngày, nghe tưởng dài lắm. Vậy mà đời nhiều khi không phải trôi, nó vụt. Một cái chớp mắt thôi. Thoắt cái, đã đến ngày thứ 29.
Maryland lạnh đến lặng người. Buổi sáng mở cửa, tuyết vẫn còn đóng lớp dày trắng đục. Cái lạnh ở đây không giống Đà Lạt, cũng không giống mấy đợt gió bấc miền Tây. Nó không thổi ào ào mà thấm, thấm vô khớp vô xương, khiến người ta lười cả suy nghĩ. Những ngày giáp Tết tôi cũng làm biếng, không muốn viết, không muốn đọc, sáng chỉ muốn ngồi nhấm nháp cốc cà phê nóng bốc khói …
Nhưng đến buổi tối nọ, mở ti vi lên, thấy video ghi cảnh Sài Gòn cuối năm, tự nhiên trong ngực có cái gì nhói nhẹ. Tôi đổi ý. Viết một chút, coi như ghi lại gì đó ngày 29 Tết, khép lại một năm.
Chỉ mới 29 ngày thôi, mà Sài Gòn như thay da đổi thịt. Đường phố mặt tiền đã khác. Màu sắc vàng đỏ tràn lan. Mai giả, đào giả, lộc treo giả … Tất cả đều sáng, đều rực, đều hối hả như muốn chạy đua với thời gian. Ban ngày đã đủ màu, ban đêm lại thêm hoa điện giăng giăng, từng màn ánh sáng đổ xuống mặt đường như nước. Các cô gái áo dài đứng tạo dáng, nghiêng đầu, giơ điện thoại, cười rất tươi. Nụ cười dành cho máy chụp nhiều hơn cho người đứng cạnh.
Đường hoa Nguyễn Huệ Tết Nguyên đán 2026, Báo Lao Động
Tôi nhìn qua màn hình mà nghe như có tiếng xe máy, tiếng rao bánh mì nóng, bánh tráng nướng, mùi bắp nướng thoảng qua. Cái thứ mùi không thể truyền qua sóng truyền hình, mà ký ức thì lại truyền được.
Một người bạn sống ở Mỹ, còn đang ở Việt Nam gọi video cho tôi, đứng ngay Nguyễn Huệ, phía sau là biển người:
— “Thấy hông? Đường hoa mở rồi. Đông nghẹt luôn!”
Tôi hỏi: — “Còn bán bông thiệt không?”
Bạn cười: — “Ít rồi. Chủ yếu chụp hình.”
Tôi tắt máy, ngồi im một hồi.
Những nơi 29 ngày trước được rào chắn, che kín cẩn thận nay lộ ra rồi. Trước và sau chợ Bến Thành sáng rực. Con đường hoa Nguyễn Huệ khai mạc, người chen người, nối đuôi nhau. Chợ Bến Thành, Hồ Con Rùa được sơn sửa lại, màu mới, nét mới. Nhà Văn hóa Thanh niên dựng tiểu cảnh “Đại mã – Khai xuân”. Ngựa đứng khắp nơi, lớn nhỏ đủ kiểu, từ nhựa, mốp xốp tới composite bóng lưỡng.
Tôi nhận ra: thành phố đang vui, hoặc đang cố vui.
Tôi nhớ Sài Gòn cũ không phải không có màu. Nhưng cái màu đó khác: màu bảng hiệu bạc nắng, màu tường loang nước mưa, màu mái tôn sét, màu quán cóc khói nghi ngút. Còn bây giờ, màu được thiết kế. Đẹp đó, sáng đó, công phu đó, nhưng hơi… phẳng. Nó không có tuổi.
Chợ Bến Thành được chỉnh trang, sơn phết, nhìn qua màn hình thấy mới tinh. Nhưng chính cái mới đó làm người ta bối rối. Mấy người quen trong nước tranh luận dữ lắm. Người khen sáng sủa, người tiếc cổ kính. Tôi coi hình mà cứ ngờ ngợ, giống một bà cụ bảy mươi tuổi đi căng da mặt. Tươi, nhưng không còn quen.
Sài Gòn giống cô gái một thời tôi biết, nay lớn rồi, giàu rồi, biết trang điểm. Phấn son đủ lớp, ánh sáng đủ màu, hình ảnh qua app mịn màng. Đẹp, không phải không. Nhưng cái đẹp đó có phần mệt. Như phải luôn luôn vui, luôn luôn rực rỡ, luôn luôn chứng minh mình đang hạnh phúc.
Tôi chợt nhớ mấy cái Tết cũ. Đêm 30, tôi ngồi quán cà phê vỉa hè, ly đen đá đậm đặc, gió thổi lồng lộng, nghe xa xa tiếng nhạc Xuân rè rè từ chiếc loa treo trước tiệm băng đĩa. Người bán dưa hấu ngủ gục trên xe, tay còn ôm nón lá. Không lung linh, không ánh sáng hoành tráng, mà lòng lại yên.
Ở Maryland, đêm im ắng quá. Không pháo, không xe, không khói nhang tết. Tôi pha ly trà nóng, ngồi một mình, bỗng hiểu:
Sài Gòn bây giờ đẹp hơn xưa, nhưng Sài Gòn trong lòng tôi thì không bao giờ chịu… “thay đồ”.
Nó vẫn là cô gái hơi lem nhem, hay cười, nóng nảy, hào sảng, thương người quá tay rồi quên thương mình. Còn cái Sài Gòn trên màn hình, giống cô bạn vừa đi thẩm mỹ về, ai cũng khen, nhưng người quen thì cứ đứng nhìn, không biết nên ôm hay nên chúc mừng.
…
Hai mươi chín ngày trước, tôi còn ở nơi này. Thật ra ở không dài. Vài bữa ở quận 1, đôi ba đêm ở quận 5, có lúc dạt xuống quận 8, mướn phòng khách sạn sáng choang, thang máy êm ru, cửa kính dày, máy lạnh chạy rì rì, tiện nghi đầy đủ mà lòng cứ trống. Ở chừng hai đêm là tôi thấy mình như khách lạ.
Rồi tôi quay về cái khách sạn nhỏ quận 3. Cũ, hẹp, hành lang vừa đủ, buổi sáng có mùi nước lau sàn pha xà bông rẻ tiền. Nhưng tôi thích vậy. Ở đó tôi nghe được tiếng đời.
Sáng nào cũng vậy, tôi đi bộ ra quán cóc. Khi thì góc Lê Văn Sĩ, khi thì Lý Chính Thắng. Ly cà phê đen đặc, đắng, nóng. Bà bán cà phê quen mặt hỏi:
— “Anh mới về hả?”
— “Ừ, về chút rồi đi.”
— “Ai cũng vậy… về rồi đi.”
Bà nói tỉnh queo, mà tôi nghe như một câu tổng kết cho cả thành phố.
Tôi ngồi nhìn xe chạy buổi sáng. Dòng người lao đi, áo khoác bay lật phật, mấy đứa học sinh ngồi sau xe ngủ gục, tay ôm cặp. Có hôm tôi ra bờ Nhiêu Lộc, đứng tựa lan can. Nước kênh vẫn màu ngầu đục, không hẳn hôi, cũng không hẳn sạch. Người già đi bộ, người trẻ chạy bộ, tai đeo tai nghe, mồ hôi rịn lấm tấm. Thành phố thức dậy không bằng tiếng chuông mà bằng nhịp chân.
Tôi không gặp nhiều người.
Lạ, về Sài Gòn mà càng lớn tuổi lại càng ít hẹn. Chỉ đôi ba lần gặp vài người thân tình. Khi thì cà phê phía sau Dinh Độc Lập, khi thì phía trước Nhà thờ Đức Bà, ngồi dưới mấy hàng cây xanh nhìn khách du lịch giơ máy ảnh. Có người tôi chưa kịp gặp. Thôi hẹn dịp khác vậy. Câu nói quen đến mức ai cũng hiểu: có khi không còn dịp.
Nhưng nhờ vậy tôi có một ít thời gian đi lông nhông một mình, tôi thích vậy. Tôi đi lại những con đường cũ, đi mà không cần đến đâu. Đi chỉ để đi.
Không phải hoài cổ. Tôi biết thời gian không bao giờ quay lại. Đường cũ còn đó nhưng người cũ thì không, quán cũ đổi tên, nhà cũ thành tiệm thuốc tây, hoặc thành shop quần áo sáng choang. Tôi không vui, cũng không buồn. Chỉ nhận ra đời người cũng như con đường: cứ nối tiếp nhau mà đi, không ai quay đầu lại được, mà cũng không cần.
Đi một mình ở nơi từng gắn bó, lạ lùng là không cô đơn.
Một buổi trưa, tôi nghe chị thuê mặt tiền kế bên khách sạn nói chuyện điện thoại với chủ nhà:
— “Em chịu hết nổi rồi chị ơi, tiền mặt bằng cao quá… buôn bán giờ không ra.”
Chiều khác, ở tiệm hớt tóc trong hẻm. Anh thợ vừa cắt vừa gọi một người nào đó:
— “Anh hỏi giùm em với, giờ tách nhập phường phải đăng ký lại sao? Không có giấy phép là phạt đó…”
Ngoài đầu hẻm, mấy anh chạy Grab ngồi uống trà đá. Một anh nói:
— “Bạn tui bị phạt, nhiều tiền quá, bán luôn xe, giờ đi phụ hồ.”
Không ai tỏ vẻ bi kịch. Họ kể như kể chuyện trời mưa nắng. Nhưng tôi nghe ra phía sau là cả một quãng đời gập ghềnh.
Đêm nọ, tôi nghe cô bán nước khuya bên lề đường thở dài:
— “Trật tự đi dẹp bất ngờ, chạy không kịp, mất hết đồ.”
Tôi nghe quá nhiều chuyện. Những mảnh đời rời rạc, không biết ghép sao thành một câu trả lời. Tôi cũng không rõ lỗi thuộc về ai: quản lý, xã hội hay số phận. Có khi chẳng thuộc về ai cả. Chỉ là đời sống, vốn dĩ không bằng phẳng.
Nhưng thôi, tôi chỉ muốn ghi lại chút gì về Sài Gòn ngày giáp Tết.
Thấy người ta hối hả đi mua sắm tết, tôi không thể không nói đến chợ hoa, thứ “món ăn tinh thần” mà thiếu nó, mứt bánh cũng nhạt.
Tôi từng vài lần ghé qua chợ hoa Hồ Thị Kỷ quận 10. Mới bước vào đã nghe mùi hoa trộn lẫn mùi lá, mùi đất ẩm, mùi nước xịt. Hoa chất cao thành vách: hồng, cúc, ly, hướng dương, baby trắng như sương. Phần lớn từ Đà Lạt xuống trong đêm. Người mua chen, người bán gọi, tới một hai giờ sáng vẫn sáng trưng. Qua màn hình ti vi tôi thấy hoa bán ở đây mấy ngày nay thì cũng như vậy. Nhưng hình như nhiều loại hoa mới và rực hơn.
Một cô gái ôm bó hoa lớn hỏi giá, chần chừ. Bà bán nói:
— “Tết mà con, mua đi, năm mới cho tươi.”
Nghe đơn giản, mà đúng. Người ta mua hoa không phải chỉ để chưng, mà để tin rằng năm tới sẽ khá hơn.
Nhiều công viên cũng chia lô, thành chợ hoa tạm: 23/9, Lê Văn Tám, Gia Định, Lê Thị Riêng, khu Tên Lửa Bình Tân… Hoa ngập lối đi. Những cây mai, cây đào vài triệu, vài chục triệu đứng chễm chệ. Người có tiền mua sớm. Đến cận Tết, người bán bắt đầu hạ giá, giọng mềm lại, nụ cười cũng thật hơn.
Nhưng tôi thích nhất là chợ hoa ở Bến Bình Đông, quận 8, “trên bến dưới thuyền”.
Qua video clip, tôi thấy đến đêm 27, ghe bầu từ Chợ Lách (Bến Tre) vẫn còn cập bến lên hoa. Mai, tắc, cúc, vạn thọ phủ kín mặt nước. Đèn treo vàng vọt, bóng cây rung theo sóng. Ở đó Sài Gòn bỗng… hiền lại. Không còn cao ốc, không còn kính, chỉ còn con nước lên xuống và tiếng người miền Tây nói chuyện rổn rảng.
Tôi nghĩ, chợ này giống lát cắt của Sài Gòn xưa, khi mùa Xuân còn đi bằng ghe.
Sáng 29, nhiều chỗ xả hàng: cúc, vạn thọ chỉ còn hai, ba chục ngàn, mai chậu nhỏ, chậu vừa chừng năm chục hoặc một, hai trăm. Người mua không còn lựa kỹ nữa. Mua để có Tết.
Rồi tôi lại xem video clip Hội hoa xuân Tao Đàn. Hoa bày lớp lớp, lan Cattleya, Dendro, lan rừng thủy tiên, long tu, kim điệp… bonsai, non bộ, đá cảnh. Qua bàn tay nghệ nhân, đẹp thiệt, kiểu đẹp công phu, trau chuốt.
Cổng Trương Định dựng đại cảnh “Sắc Ngọ nghinh Xuân”, ngựa phi trên sóng tre cách điệu. Người đứng chụp hình đông nghịt. Những con ngựa hướng về Đền tưởng niệm Vua Hùng, như một cách nhắc người ta nhớ gốc gác giữa thành phố quá nhanh này.
Trưa 29, nhiều nhà vườn đập chậu, bỏ đi những cây hoa không bán kịp. Tiếng chậu vỡ khô khốc. Tôi đứng nhìn mà thấy lạ: cái đẹp khi hết mùa bỗng trở thành vật thừa.
Chiều xuống, vài đoàn lân quận 5 nhảy nhót, múa võ ngoài đường. Trống dồn dập, trẻ con chạy theo reo hò. Thành phố chuẩn bị giao thừa.
…
Tôi ngồi trước ti vi. Bên đây tuyết trắng. Bên kia mai vàng.
Khoảng cách nửa vòng trái đất, ký ức không đo được.
Tôi chợt hiểu:
Sài Gòn không chỉ là nơi người ta sống.
Nó là nơi người ta rời đi mà vẫn còn ở lại.
29 Tết.
Năm hết.
Mà nỗi nhớ lại không chịu qua năm.
Nguyễn Đông A
Không có nhận xét nào