Header Ads

  • Breaking News

    Văn học hải ngoại: Các giai đoạn sinh hoạt & phát triển

    Kỳ 3

    Tác giả: Nguyễn Vy Khanh 

    August 10, 2026

    GIAI ĐOẠN HOÀI NIỆM (1992-2000)

    [Văn Học Việt Nam 50 Năm Hải Ngoại. Quyển Thượng Tổng quan (Toronto: Nguyễn, 2025; lulu.com phát hành), trang 77-134]

    * [Ghi chú: Về biên-khảo, tiếu luận và phê-bình sẽ được tập trung ghi nhận trong Chương III: Nội-dung, thể-loại và hiện-tượng]

    Năm 1992 kinh tế toàn cầu bị suy thoái, ảnh-hưởng đến tình hình xuất-bản xuống thấp ở hải-ngoại. Rồi đến vụ Võ Đình ở Montreal rồi lằn ranh quốc-cộng xuất hiện khiến văn-nghệ sĩ thêm chia rẽ, đối đầu, cả xem nhau như kẻ thù, “tay sai” của trong nước,… và sinh hoạt văn-học bắt đầu yếu dần. Trong khi đó ở trong nước, Đổi Mới dậm chân và trở về như cũ khiến sáng-tác xuống dốc thê thảm. Nguyễn Huệ Chi trong nước tham gia “Khởi đầu thảo luận về văn học hải ngoại” của tạp-chí Văn Học CA (số 99, 7-1994) với bài “Vài cảm nhận Văn học Việt-Nam hải ngoại”, đề nghị hợp lưu văn-nghệ trong nước với trong nước và ngoài nước với trong nước (và ông cũng là người trong nước đầu tiên sử-dụng từ “văn-học hải-ngoại” thay cho “văn-học người Việt ở ngoài nước” và “ở nước ngoài”). Cởi rồi Trói, vậy mà Nguyễn Huệ Chi còn nghĩ rằng vì trong nước “thức tỉnh“ mà văn học người Việt ở ngoài nước cũng đang “thức tỉnh”, không những vậy còn tác động dẫn đến xu hướng “thức tỉnh, hoà nhập“ của văn-học người Việt ở nước ngoài.

    Các tác-phẩm xuất-bản vào giai đoạn này tiếp tục nhớ-về thời xưa quê cũ và làm rõ tâm thức hoài niệm như là đề tài và nội dung của nhiều tác phẩm thời này song hành với ý hướng nhìn về trong nước.

    Hoàng Mai Đạt (1960-) một cây viết mới, với tập truyện ngắn Cánh Đồng Cho Em (Stocton CA: Thư Hương, 1992) và Giữa Hai Miền Mưa Nắng (Văn Nghệ, 2000), đưa người đọc đến với đời-sống hôm nay nơi xứ người, hội nhập với tâm tư tiếc nuối và nỗi buồn không dứt!

    Nguyễn Đăng Hoài với Vẫn Còn Niềm Tin chuyện cuộc đời buồn thảm của những ngày tàn cuộc chiến.

    Cùng thể loại truyện dài còn có Mạnh Bích với truyện Giòng Sông Trầm Lặng (1997).

    Đinh Phụng Tiến có Trên Đôi Cánh Hạc (1997) gồm 11 truyện viết từ 1993 khi qua Mỹ định cư: những trang quá khứ, những tâm trạng buồn trong khung cảnh buồn của dĩ vãng, cái dĩ vãng tác giả tin là đã qua mất nhưng không thể không ghi lại. Những nghịch cảnh u uất nhưng không tuyệt vọng, đen tối. Trước 1975, ông cộng tác với tạp chí Trình Bầy và nhóm đã xuất bản hai tập truyện ngắn Hòn Bi (1967) và Cơn Lốc (1969).

    Vũ Nam từ nước Đức, có tập truyện Bên Này Bức Tường Bá Linh (Miệt Vườn, 1993) và truyện dài Nơi Cuối Dòng Sông (1994).

    Hồ Đình Nghiêm Nguyệt Thực (Westminster, CA: Văn Nghệ, 1988); Tờ Mộng Rách Rồi (Tân Thư; Thời Văn, 1991); Vầng Trăng Nội Thành (Văn Mới, 1997);

    Tạ Tỵ có tập Xóm Nhà Tôi “tập truyện viết trong thời gian lưu vong nơi đất khách” (Xuân Thu, 1992), sau này thêm Một Chuyến Ngao Du (Xuân Thu, 2000).

    Duy Lam sau khi định cư ở Hoa-Kỳ, đã sáng-tác trở lại, thơ và văn và đã xuất-bản tuyển Truyện Mới Chọn Lọc (1995) và Em Phải Sống (9 truyện ngắn, Văn Hoá  Ngày Nay, 1996). Một số truyện ngắn của ông gợi lại khung cảnh Hà-Nội thời tiền chiến, thời chiến-tranh sau đó cũng như Sài-Gòn ngày cũ và về đời-sống hội nhập văn-hóa nơi xứ người. Truyện Con Gián Thân Tình mang không khí phân tâm vốn là bút pháp thân quen của nhà văn thời trước năm 1975. Truyện mở đầu: “Huân hơi thắc mắc với mình là tại sao chàng đã giơ một tay lên định hạ xuống quyết liệt không có gì cản nổi để giết con gián nhỏ xíu đang ngo ngoe cái râu ló ra nửa cái thân nâu sậm ở khe cửa bếp mở ra sân ngoài, tuyết đêm nay vừa phủ một lớp trắng mỏng, mà chàng lại ngừng lại trong cử chỉ dở dang không giết nó. Ngón tay chỉ ra phía ngoài kia về một đối tượng mơ hồ hẫng hụt.

    Chàng hơi cười, khóe môi hình như vướng một cái gì. Có lẽ cái râu ngọ ngoe của một con vật to mập hơn, bóng nhãy một màu cánh gián phản chiếu ánh mặt trời rạng rỡ của mùa Hè miền Nam, đang từ một dĩ vãng đâu đây gờn gợn làm ngứa các đầu ngón tay của chàng …” (tr. 47). Sau đó là chuỗi quá-khứ lần lượt hiện về, cũng với con gián, nhưng ở trại tù “học tập”, và những xung đột tâm lý, biến chuyển trong cuộc-sống “chàng” từ Việt-Nam sang đến Hoa-Kỳ. Tập truyện Em Phải Sống cùng hơn 10 truyện khác đã xuất bản,được nhà văn/nhà giáo Nguyễn Sỹ Tế phân tích văn chương và bút pháp cặn kẽ, như một tri kỷ đọc được văn của tri âm: “… Bàn về chất lượng hàm dưỡng hai chục truyện ngắn của DL, ta phải công nhận rằng chất liệu đó khá dồi dào và thay đổi. Do thân thế của tác giả và thời thế của đất nước: một nhà văn kiêm một nhà chính trị theo nếp nhà, một nhà binh, và một người hoạt động theo đòi hỏi của thời cuộc, và nhất là một cựu tù cộng sản trong 12 năm trời. (…) Nói về kỹ thuật xây dựng và trình bày câu truyện, DL có một cây bút hăng say, xúc tích, tỉ mỉ khá vững vàng. Tác giả thường khi coi nhẹ những ước lệ cũ của ngành thuật sự. Tác giả phóng bút viết một mạch, không cần xếp đặt trước các tình tiết. Người viết nhập trọn vào nhân vật của mình và để cho các sự việc tự đến và tự nói. (…) Và, bằng lối này hay lối khác tác giả ít khi thất bại trong việc nói lên cái chủ đích sâu xa của câu truyện kể của mình. Lối phân tích tâm lý nhân vật của DL phải nói là mới mẻ và bạo dạn, cũng sâu sắc như mong muốn của khoa tâm lý chiều sâu hiện đại. (…)

    Trước hay sau, DL vẫn giữ cái cốt cách thành thật với người đời và với chính mình, nói lên rõ ràng mọi ẩn ức sâu xa của anh, bóc trần cái chân bản ngã chiều sâu của mình bất kể là tốt hay xấu. Ở chỗ đó, DL đã cống hiến cho ta một thứ văn chương đích thực  (littérature authentiquegiữa một xã hội không thiếu kẻ giả trá” (EPS, tr. 7, 8, 26).

    Thanh Thương Hoàng, nhà văn nhà báo, tị nạn sang Hoa-Kỳ năm 1999 – được các Hội Văn Bút và chính phủ Hoa-Kỷ can thiệp, đã xuất-bản các tập tiểu-thuyết Người Mỹ Cô Đơn (1999) và Tiến Sĩ Lê Mai (1999, tb 2004, 2024) và nhiều tập truyện ngắn khác.

    Nhà giáo nhà văn Nguyễn Sỹ Tế đã bị Việt-Cộng cầm tù gần 11 năm tại các trại tập trung cải tạo Gia Trung (Pleiku) và Hàm Tân (Long Khánh). Ông sang Mỹ năm 1992 theo diện H.O., đã tiếp tục đóng góp cho văn-hóa, giáo dục Việt-Nam ở hải ngoại, và đã xuất bản Chants d’Ya (thơ Pháp ngữ, 1997), Khúc Hát Gia Trung (thơ hồi niệm của một tội đồ. Edition Imn, 1994), Tiểu Luận Văn Hoá và Giáo Dục (Trúc Lâm, Quận Cam CA, 2000 ), tiểu-thuyết tự truyện Bốn Phương Mây Trắng (Tập 1, 2005). Khúc Hát Gia Trung theo tác-giả cho biết Chants d’Ya là những vần thơ phục hồi từ ký ức của một tên tội đồ. Như vậy, ký ức ở đây không phải là khơi dậy, nhắc nhở thù hận, mà là những tia sáng soi chiếu lương tri con người. Chants d’Ya là những giòng thơ khắc lên trí não, đã là hộc tủ kín, là nơi trú ẩn an toàn nhất cho những kẻ bị bách hại. Người còn mang tâm thức sẽ rất cô đon trong cõi thù ấy:

    “…Thời gian lả tả vàng son

    Dậu thưa hiện-thực lối mòn suy tư

    …. Ven đồi mấy nấm vùi nông

    Nỗi hờn siêu thực một dòng vây quanh.

    Sá gì một tấm áo xanh,

    Nước non cát bụi Kinh Thành biển dâu” (Áo Xanh)

    Hà Thúc Sinh còn xuất-bản thêm các tập truyện ngắn cũng như truyện-thật-ngắn: Ông H.O. (Thế Giới, 1993), Cố Hương (Tú Quỳnh, 1994), Dưa Cà Mắm Muối (Văn Mới, 1996), Về (Văn Mới, 1996), Đêm Hè (Văn Mới, 1997, viết về đời sống ở xứ người và đời sống nội tâm phúc tạp của nhân vật: một phân tích tinh tế buồn) và tuyển tập Tống Biệt Hai Mươi (50 truyện ngắn, 1 kịch và 10 thơ; Xuân Thu, 1999) – tuyển tập đóng thể kỷ trước lại và mở cửa đón thế kỷ XXI, với nhiều hoài niệm và kỳ vọng đã có, đã thành. Tập Dưa Cà Mắm Muối của Hà Thúc Sinh gồm 12 truyện rõ ngắn trong gần 110 trang nhỏ, trong đó truyện Cư Sỹ đặc sắc hơn cả, gói ghém trong hơn ba trang – tác giả đã viết về diễn tiến lão hoá, cảm giác cũng như tư duy, của cụ Đạo, một quản thủ thư viện bất đắc dĩ ở xứ người. Thời sau đó ông sáng-tác và xuất-bản chậm lại gần như ngưng hẳn sinh hoạt văn-chương sau những phá hoại của chủ một tạp-chí cũng cùng đoàn ca cộng đồng/đấu tranh!

    Khánh Trường với Chung Cuộc (Tân Thư, 1997) gồm 8 truyện ngắn phần lớn viết về đời sống mới của những người đến từ một quá khứ, những thương phế binh, những con người cần trao đổi xác thịt như cần hơi thở, những dịch vụ share phòng, những chai rượu, những chia ly, tái ngộ, một cuộc tình éo le tuổi tác so le. Với người đồng chủng và dị chủng. Tiếp là Có Yêu Em Không? (Tân Thư, 1990) – trong lời tựa tái bản 1997, ông quan niệm “nhà văn không thể và cũng không có khả năng cải tạo xã hội, hắn chỉ có thể làm được công việc hết sức khiêm nhường là phản ánh trung thực môi trường hắn đang sống“. Cuốn này cũng đã được Phan Huy Đường dịch ra tiếng Pháp (Est-ce que tu m’aimes?, 1997). Trước khi làm báo và viết truyện, Khánh Trường đã xuất hiện như nhà thơ với tập Đoản Thi (Sống Mới, 1988).

    Phạm Ngũ Yên có tập Thư Viết Từ Đường Heatherglen gồm những lá thư viết trên báo US-Viet Times và hai tập truyện ngắn Hoa Bluebonnet Cho Hai Người (Houston TX: Bình Minh, 1994) và Chăn Gối Ngày Về (2004), cả hai tập đa phần viết về tình-yêu, tình người, với văn phong cẩn trọng mà vẫn gợi cảm, tinh tế.

    Nguyễn Hữu Trí có 2 tập truyện Thằng Ngọ (Fairfax VA: TGXB, 1992) và Ăn Trưa Nghe Kể Chuyện Tình (Văn, 1999), dù xa quê-hương đã lâu, dù cuộc sống xứ người tốt đẹp, nhưng tâm tình vẫn hướng về, hiện tại chồng lên quá-khứ,…

    Ngô Du Trung có tập Tha Hương (1994) gồm những truyện ngắn đã đăng trên báo Làng Văn, viết về một thế hệ tha hương và phải làm lại cuộc đời nơi xứ người, một thế hệ nhiều đau thương và sóng gió.

    Việt Dzũng nhà báo và nhạc sĩ đấu tranh, có tập truyện Gió Sông Hồng (Thế Giới, 1992) viết về cuộc sống mới với những giấc mơ và quê-hương đất nước.

    Bùi Thanh Liêm và Vũ Phương Nam xuất-bản chung tập Mùa Thu Trên Phím Đàn (Xuân Thu, 1994) viết về thế hệ trẻ chủ yếu ở Hoa-Kỳ, hội nhập thành công vào cuộc sống mới, cùng với tình-yêu và những mảnh hạnh-phúc đây đó.

    Đặc biệt, Nguyễn Tường Phong qua Chợ Chồm Hổm (Westminster CA: Hồng Lĩnh, 1993) mà tác-giả gọi là “phóng sự tiểu-thuyết đen” cho thấy đủ bộ mặt của một xã-hội người Việt ở miền Nam Hoa-Kỳ nơi tác-giả sinh sống thường ngày. Sự châm biếm – trào lộng đen, ở đây như một liều thuốc để nhận chân vấn-đề của người Việt ở xứ người!

    Nguyễn Đức An, hành nghề y khoa tại Florida HK, tác giả tập truyện ngắn Gió Hoang (Hồn Việt, 1989), truyện dài Sau Cơn Mưa (Xuân Thu, 1995) – truyện buồn vui của một gia đình vùng Hà thành cuối thời Pháp đô hộ.

    Ngự Thuyết định cư tại Hoa Kỳ cuối năm 1990, cộng tác với nhiều tạp chí và đã bắt đầu xuất bản 2 tập truyện ngắn Sóng Trôi (đầu tay, Thanh Văn, 1996) và Đào Thoát (Đồng Văn, 1998). Ngự Thuyết là một nhà văn khởi viết từ khi ra hải-ngoại nhưng đã tỏ ra bút pháp già dặn, kinh nghiệm văn-hóa và sống cùng tâm hồn nhạy cảm, tỉnh thức đã giúp tác-giả có cái nhìn sắc bén, tận gốc, như nói thay cho một tập thể đã trải kinh qua biết bao thử thách, đối đầu và tìm cho mình một đường đi, nếp nghĩ.

    Không khí chiến tranh vẫn hiện diện trong các tác-phẩm của giai đoạn này như hai tập truyện ngắn Lối Vào (1990) và Vầng Trăng Trong Mưa (1993) của Đỗ Tiến Đức – chủ báo Thời Luận ở Los Angeles CA, Tan Rã (1992) của Cao Xuân LýCâu Chuyện Của Một Dân-Tộc (1992) của Nguyễn Hồng Hoà.

    Nguyễn Dũng Tiến (1950-) có Lính Đánh Thuê (1993).

    Nguyễn Mạnh An Dân (Nguyễn Mạnh Dạn; 1948, Bình Định – 11-9-2019), 7 năm tù “cải tạo”, vượt biên năm 1989 và định cư tại Hoa-Kỳ từ 1993. Đã xuất bản: Người Lính Không Có Vũ Khí (8 truyện ngắn; Làng Văn, 1995); Lan Man Ngày Tháng Cũ (Làng Văn), – Tiếng Thét (Thơ, NXB Anh Em, Na Uy) và Lá Quốc Kỳ & Người Lính Cũ (Thắp Đường HK)

    Người Lính Không Có Vũ Khívì “đã là chiến sĩ chống Cộng, thì dù không có súng đạn, vẫn chiến đấu được”. Ghi lại đoạn cuối truyện Giờ Cuối Ở Một Đơn Vị Nhỏ – là một Tiểu đoàn do Tùng chỉ huy “Đơn vị anh được điều động đến đây để giải tỏa áp lực địch đang đè nặng chung quanh tỉnh lỵ Hậu Nghĩa. Địch quân đã  tiến sát vành đai thành phố và ngày đêm pháo kích vào các điểm trọng yếu”. Nhưng “Tin tức về tình hình thất lợi đã lan khắp đoàn quân, mọi người đều bật dậy, im lặng đến gần vây quanh lấy Tùng, tất cả đều mang súng ống sẵn sàng.

    Tùng lặng lẽ nhìn khắp một lượt anh em, ánh mắt của mọi người làm Tùng bối rối và đau xót. Tất cả mọi người đều chăm chú nhìn Tùng như chờ đợi, như dò hỏi, như hy vọng, như trao gởi và tin cậy. Tùng cuối gầm mặt xuống, mắt mờ đi: “Đừng nhìn tôi, đừng hy vọng gì ở tôi nữa anh em ơi! Chúng ta đã lạc mất đơn vị từ sáng nay, tôi cũng nhỏ nhoi yếu đuối lắm, tôi cũng hy vọng và chờ đợi một lời khuyên, một mệnh lệnh nhưng không có gì cả, không còn ai cả. Anh em chúng ta đều lạc lõng, tội nghiệp và vô vọng như nhau. Tôi biết nói gì với anh em? Tôi quyết định được gì cho anh em? Tôi chỉ là một sĩ quan quá nhỏ bé trong quân đội, mọi quyết định ở một chỗ khác, mọi trách nhiệm cũng ở một chỗ khác, nhưng hoàn cảnh đã biến tôi thành cái gạch nối gần nhất của cả một hệ thống chỉ huy không hoàn thành trách nhiệm trước anh em, tôi phải làm tròn vai trò đó và cá nhân tôi, tôi nhận lỗi và xin thông cảm cho tôi. Tôi xấu hổ vì sự bất lực của mình nhưng tôi cũng hãnh diện được có mặt bên cạnh anh em, chia xẻ với anh em những giờ phút hào hùng và bi thảm cuối cùng. Tôi không thể phiêu lưu dẫn anh em lùi lại trong cánh đồng bưng; tôi cũng không thể điên cuồng ra lệnh cho anh em tấn công vào xóm nhà, tấn công giữa một khu vực không còn quân bạn, chúng ta không còn một nơi nào để nhắm tới, tôi không còn một cách nào khác, xin hiểu cho tôi…”

    Tùng chấm dứt dòng suy nghĩ và chậm rãi đứng lên. Mọi người im phắt và tất cả nóng lòng hồi hộp chờ nghe một điều gì đó từ người chỉ huy của mình. “… Tội nghiệp anh em quá, tội nghiệp tôi quá, chúng ta không có phép lạ nào hết, không có ơn phước nào đến với chúng ta lúc này hết, phải can đảm chấp nhận thực tế chua cay của số phận mình anh em ơi…”

    Tùng thấy mắt mình cay cay, anh nói nghẹn ngào:

    – Hoàn cảnh của chúng ta anh em đã biết hết rồi; sáng nay tôi rất hy vọng và có hứa đưa anh em về nơi an toàn, anh em đã cố gắng hết sức và tỏ ra rất xứng đáng, rất can trường, tôi ghi nhận và xin cảm ơn, tiếc là chúng ta đã đến quá muộn, tôi đau đớn lắm và tôi biết anh em cũng như thế nhưng không biết làm sao hơn…

    Có nhiều tiếng xì xào trong hàng quân, nhiều người gục đầu chảy nước mắt. Tùng ngừng lại lấy khăn lau mặt rồi ngước lên nói nhanh, mắt đỏ hoe không nhìn ai:

    – Thôi, chúng ta không có thì giờ. Kể từ giờ phút này tôi không còn là chỉ huy của anh em nữa, xin anh em tự lo liệu, chúc anh em may mắn.

    Hàng quân trở nên hỗn loạn, mọi người đứng lên bu kín lấy Tùng, mỗi người tranh nhau nói một câu, tất cả đều muốn ở lại, muốn theo Tùng. Tùng lắc đầu, anh nói từ tốn:

    – Cảm ơn anh em nhưng không được, tôi không còn làm gì cho anh em được nữa hết, đừng mất thì giờ, không biết chúng ta có  còn được gần nhau lâu nữa không, xin chia tay và hy vọng có ngày gặp lại anh em. Thôi, anh em cho tôi yên một chút…” (tr. 90-91).

    Trần Thy Vân (1944, Phan Rang – ) có truyện dài Anh Hùng Bạt Mạng (1996) về trận chiến ở Sa Huỳnh của một Đại đội Biệt động quân; tiếp theo là truyện dài Tiếng Hờn Chân Mây (2006) về cuộc chiến vào đầu năm 1975.

    Phạm Kim Khôi sau 10 năm tù Cộng Sản, ông vượt biên và định cư tại Mỹ năm 1986, đã in truyện và thơ Khói Súng (1997), Thợ ĐụngBên Bạn Bên Thù (TGXB, 1991), tái-bản năm 2005 chung với tập Chính Khách, Bên Những Yêu Thương, Vàng Sắc Cờ Bay, Quán Mây Chiều, Ai Mang Tâm Sự Kể Bên Trời, Thuyền Trôi Xứ Người, Áo Thời Gian (TGXB, 2021),  Cai Tù Việt Cộng (2018).

    Dương Tiến Đình tiếp tục với Sau Cuộc Đổi Đời (1997) gồm 12 truyện ngắn viết về những tình đời, con người quay cuồng trong khung cảnh chiến tranh, các trại học tập. Tập truyện ngắn này đã gây tranh luận cá nhân với một số cựu tù cải tạo phản đối tác giả đã xuyên tạc đời tư của một vài nhân vật. Biên giới giữa hồi ký và tác phẩm tưởng tượng lấy chất liệu từ đời thường và thật, và thói chụp mũ đã quen.

    Trần Đình Ngọc (20-4-1932, Nam Định) thời này xuất bản “truyện dài tị nạn tình cảm tâm lý xã hội” Bọt Sóng (2 tập; Westminster CA: Đông A, 1997), thi tập Như Áng Mây Trôi 2 (1999) và tập truyện ngắn Những Con Dốc Đứng (1999). 

    Nguyễn Viết Hưng xuất bản Dòng Đời (1997), tập truyện về cuộc đời như một vấn nạn, ở trong hay ra ngoài nước.

    Xuân Bích (Lê Xuân Trường, 1947-) có các tập truyện Khi Mùa Dứt Chiến Chinh (TGXB, 1995) và hồi-ký Đối Diện Với Vi Trùng.

    Trần Quán Niệm với tập truyện Nụ Non Trên Nhành Khô (1995).

    Hoàng Liên với Giữa Hai Chân Trời (1996), v.v.

    Một cây bút mới thời này, Trường Sơn Lê Xuân Nhị xuất hiện với các tập truyện Đất Khách Trời Quê (Đông Phương, 1990), Trôi Theo Vận Nước (Đông Phương, 1992) về đời lính – thường là phi công, thời trước ở quê nhà và đời-sống mới nơi xứ người, và bộ truyện Xếp Al Capone (5 tập, Xuân Lê: 1992-94) và truyện dài Phát Súng Ân Tình (7 tập, Xuân Lê: 1995-1999) viết về xã-hội đen.

    Mới, còn có Chu Tất Tiến với Chuyện Tình Lá Me (1992) một tình-yêu trong sáng và thánh thiện kéo dài nhiều thập niên.

    Giai đoạn này, Hoàng Chính sau tập thơ Nửa Đêm Nghe Mẹ Thở Dài (1991) là tập truyện Mùa Thu Cuối Cùng (1994).

    Nguyễn Chí Kham từng có truyện đăng tạp chí văn học trước 1975 nhưng ra hải ngoại mới xuất bản tập truyện đầu tay Trăng Ơi, Thơ Ấu Mãi (1997).

    Trần Doãn Nho viết Vết Xước Đầu Đời (1995) rồi tập Căn Phòng Thao Thức gồm 3 tùy bút và 10 truyện ngắn, có bài đã viết từ trong nước. Những nhẹ nhàng kỷ niệm và cuộc sống dù khung cảnh là chiến tranh, tao loạn và hận thù. Quá khứ Hà Nội, Huế và những nơi chốn khác, những nơi chốn thân thương đầy kỷ niệm văn học và cuộc đời cũ mới. Tuệ Sỹ, Phùng Quán, những con người trong bóng tối hay sống đời vô vọng cho một tương lai.

    Phạm Xuân Đài (Phạm Phú Minh) cũng bút ký về Hà Nội Trong Mắt Tôi (1994) đưa ra cái nhìn phê phán của một người trong Nam trong những lần ra Hà-Nội.

    Trần Sĩ Lâm (4-12-1935 -) có các tập truyện Hoài Niệm (TGXB, 1989), Nỗi Buồn Sau Lưng (Xuân Thu, 1992), Chỉ Là Hư Không (Đồng Văn, 1997), Ảo Ảnh Cuộc Đời (Đồng Văn, 2000), … Truyện kỷ niệm và những con người, cảnh đời ở Việt-Nam và hải-ngoại, dĩ nhiên đề tài tình-yêu không thể thiếu. Truyện dài Cùng Một Màu Áo (Xuân Thu 1995) hoài niệm một thời chinh chiến của một nha sĩ chiến trường.

    Du Tử Lê có truyện Tôi Với Người Chung Một Trái Tim (1992) văn như thơ và cuộc sống trước sau là những cuộc tình.

    Song Thao xuất bản Còn Đó Bóng Hình gồm 7 truyện ngắn về cuộc sống nơi đất người hôm nay nhưng là một cái hôm nay chất chồng quá khứ. Những bà ngoại, người dì, người cháu, cô bồ bản xứ và đồng nghiệp Do thái. Một tự truyện ngắn về cải tạo đóng lại cánh cửa buồn thiu của Việt-Nam. 

    Võ Đình với Lầu Xép (1997) gồm 7 chuyện “tiếp nối các chuyện trong Sao Có Tiếng Sóng” và 8 truyện ngắn tác giả coi như “hậu” Xứ Xấm Sét: những truyện thâm trầm về con người và những nhận định về hội họa và văn chương.

    Sơn Tùng (Nguyễn Minh Ngọc) có Bầy Thú Nhỏ (1994) viết lại cuộc đấu tranh quốc cộng nơi một trại cao su giữa những người phu thợ và tay anh chị, viết và đăng nhật báo Tiền Tuyến trước 1975 (trước sau đó còn xuất-bản các tập truyện Trừng Phạt 1990 và Vết Thương 1992, Lửa Hoà Bình).

    Ngành Mai (1943-) sĩ quan QL/VNCH, tù “học tập”, định cư tại Hoa-Kỳ cuối năm 1990, sau “chuyện phim tình cảm xã hội” Cá Bóng Kèo Kho Tộ (TGXB, 1995) là truyện dài tình cảm xã-hội Cô Gái Việt Và Người Chiến Binh Mỹ (Santa Ana CA: TGXB, 1996; Người Việt, tb 2017) kể lại mối tình giữa một cô nữ sinh với anh lính GI trong thời chiến tranh Việt-Nam. Truyện đã được dịch ra tiếng Anh.

    Nguyễn Thị Vinh (15-7-1924, Hà Nội – 8-1-2020, Na Uy). Từ Na Uy, bà xuất-bản Na Uy Và Tôi (1994, xuất-bản cùng với bản dịch Norge Og Jeg do Dương Khoa chuyển dịch) tâm tình về quê-hương thứ hai nơi ổn định cuộc sống mới nhưng quê-hương thứ nhất, Việt-Nam, vẫn ám ảnh và hiện diện, cạnh En Drom Om Fred I Verden (tiếng Na-Uy, 1995) và tái bản tập thơ Cõi Tạm (Phượng Giang 1957, tb, 1989). Thơ văn bà là những tâm tình của người xa quê muốn thuyết phục người đọc về điều đó.

    Lệ Hằng nhà văn nữ của những truyện dài tình cảm trước 1975, đến Úc năm 1989 và đã xuất bản tiểu thuyết lịch sử đời nhà Trần Nghề Làm Vua (Thanh Văn, 1992); tập truyện ngắn Satan Dịu Dàng (Glendale, CA: Thời Báo, 1992) và Bên Kia Là Núi (San Francisco CA: Mõ Làng, 1998).

    Bích Huyền tuyển những bài nói chuyện về Việt Nam dưới chế độ Cộng sản, trên các phương tiện truyền thông và trường học in thành Lối Cũ Chẳng Sao Quên (CA: Le’s Media, 1993), được Trần Thị Quỳnh Diễm dịch sang Anh ngữ, The Trail I Will Never Forget ấn bản song ngữ năm 2000.

    Ý Chi (Hồ Thị Phương Anh, 1967 – ), một cây viết nữ trẻ, xuất bản Chân Trần (Văn Nghệ, 1998) thu gộp những truyện đời của những con người bình thường với chủ ý đem con người lại gần con người hơn – những nhân sinh quan, những ý thức về cuộc đời.

    Hoàng Thị Bích Ti (1-5-1959 – ) bút hiệu Tương Nghi, Lạc Phố, có Người Đàn Bà Sau Tấm Quảng Cáo (Văn Mới, 1996) gồm 11 truyện ngắn về cuộc đời mới ở trại tị nạn và ở đất tạm dung, nhưng quá khứ vẫn lấp ló nếu không trĩu nặng ở mỗi cuộc đời và tình huống. “Những ngày xưa ấy như vết dao mổ thành đường sẹo trên thân thể tôi, không bao giờ phai nhạt” (tr. 122). Những hạnh phúc có được và nhiều hạnh phúc không bao giờ có. Những chia ly, hận thù, tự hủy, bệnh tật, những con người đa truân vì “đất nước vẫn bầm dập như người con gái bán trinh, đi từ tay này sang tay khác. Và người dân vẫn thấp bé như một loài sâu không có tiếng nói” (tr. 97). Tựu trung, như tác giả ghi Tựa, “Tập truyện ngắn NĐBSTQC gồm những mẩu chuyện rời rạc trong cuộc sống, những truân chuyên, những va chạm giữa vật chất và tinh thần mà mỗi con người phải trải qua, trong bất cứ xã hội nào, mới hay cũ, Đông hay Tây. Tập truyện, dĩ nhiên, mang nhiều hư cấu, nhưng vẫn phản ảnh, đúng và thật, những bầm dập thê thảm… Tập truyện NĐBSTQC tuy được viết nên từ nhiều cảnh ngộ bi đát, nhưng bên cạnh nỗi thương tâm mà những câu chuyện trình bày, chúng vẫn khiến chúng ta biết ơn những hạnh phúc tầm thường nhỏ nhoi của một ngày được sống” (tr. 9, 10).

    Đến Yello Mama (Viết, 2000) là chuyện ở đời-sống mới, Kim Vân Kiều Tân Truyện (2003), dùng nhân vật biểu tượng để diễn bày chuyện con người hôm nay,và Những Bài Thơ Riêng (in chung với Trần Nghi Hoàng; Viết, 2000)

    Tác giả tự đặt câu hỏi?: “Những ngôi mộ xiêu đổ nằm chơ vơ bên phố xá. Người chết cả trăm năm. Hồn tan. Xác mục. Hồn đã thật sự bỏ xác rồi sao? Bỏ cuộc đời. Bỏ nợ nần. Bỏ đi đâu? Những con người nằm trong mộ tối kia đã có lần mở mắt nhìn cuộc đời. Trăm năm về trước, đời có đẹp hơn bây giờ không? sao bây giờ đời vô vị thế? Nói cho tôi biết đi!

    Khi bạn nhắm mắt thì đời màu gì? đen hay trắng?… Không trắng không đen gì cả! nhắm mắt là không nhìn thấy cuộc đời! không thấy gì hết. Dứt khoát không nhìn thấy. Mở mắt thì cuộc đời cũng chẳng đẹp gì hơn đâu. Mở mắt hay nhắm mắt gì cũng thế, cũng vậy mà thôi”.

    Truyện dài này nói lên sự yếm thế, mang một triết lý thật sâu sắc về cuộc đời. Một cuộc đời khó hiểu: Cần có lúc nhắm mắt và cần có lúc cũng phải mở mắt…” (Ch. 4).

    Lê Thị Hàn, một tác-giả mới khác nhưng đã du học ở Nhật rồi Hoa-Kỳ trước thời điểm 1975, có tập truyện và tùy bút Ở Điểm Khởi Hành (1994), văn như tâm tình của người xa xứ luôn nhớ quê nhà và trong mọi tình huống vẫn thấy có liên hệ nào đó với quê-hương. Bà còn là tác-giả của tạp bút Lá Thư Nữu Ước, các tập thơ Mơ Giữa Ban Ngày, Quê Hương Trong Niềm Nhớ và Thong Dong Tuổi Vàng chung với Lê Tạ Bích Đào (Vida, 2012).

    Phan Thị Trọng Tuyến có tập truyện pha tự truyện Một Trang Đời (Los Angeles CA: An Tiêm, 1991) viết về quãng đời học trò, Mùa Xuân Và Những Con Dã Tràng (Paris: An Tiêm, 1995);…

    Nguyễn Thị Hoàng Bắc tiếp tục với Bên Lở Bên Bồi (An Tiêm 1997), Kéo Neo Mà Chạy (Văn Mới 1997) – tập truyện thứ ba, một thử nghiệm tiểu thuyết tự do về cuộc đời cố định, ràng buộc, về những chuyện hư thực, thời thơ ấu, thời thiếu nữ, ở Việt Nam.

    Nguyễn Thị Thanh Bình với các tập truyện Cuối Đêm Dài (An Tiêm 1993), truyện dài Giọt Lệ Xé Hai (Văn Khoa 1991).

    Trần Diệu Hằng thời này xuất bản Chôm Chôm Yêu Dấu (Làng Văn, 1989) và Niềm Im Lặng của Mây (An Tiêm, 2001).

    Đặng Thị Quế Phượng (1957, Sài Gòn – ). Học trung học Ban Mê Thuột 1968-1975. Năm 1983 định cư ở Bỉ và đã xuất bản Thơ Đặng Thị Quế Phượng (Đức: VIDE, 1991). Trích thơ tiêu biểu:

    Ngồi thêu cả một thiên-đường,

    Chập-chùng non-nước khói sương dịu-dàng.

    Vào khung, trời đất man-man,

    Ở nơi thiếu-nữ mơ-màng tán hoa.

    Rồi mây với núi chan hòa,

    Vọng âm của buổi tiên sa giữa trần.

    Ô! Toàn ảo-ảnh phù-vân,

    Tỉnh ra đời vẫn rần rần ngược xuôi”

    (Nghiệp. Làng Văn, 60, 8-1989, tr. 50)

    tôi muốn hỏi một người đang ở núi

    có bao giờ nghe gió nhắn gì không?

    tôi muốn biết đất trong vườn hoa dại

    vừa nở được thêm mấy bụi hồng?

              tôi muốn biết những hoa thục quỳ hoa cánh bướm

    có tươi vàng rực rỡ ở trong sương?

    và rất nhiều hoa cỏ dại ở bên đường

    vẫn âm thầm đua nở khắp đồi nương?

              tôi muốn hỏi những dãy đồi thinh lặng

    mộng mơ gì sau những lớp mù giăng?

    tôi muốn biết những hoa cà phê màu trắng

    có thoát hồn trong vằng vặc những đêm trăng?

    những người xưa cũ đi đâu đó

    có bao giờ thoáng nhớ đến ai không?

    những hôm bão rớt mưa to nhỏ

    mưa có làm xanh những má hồng?

    tôi vẫn nhớ chỗ người yêu tôi ngủ

    trên đồi cao cỏ mọc rất thong dong

    tôi muốn hỏi những con đường đất đỏ

    ngõ lên trời chẳng biết có gần không?”

    (Thư Gửi Ban Mê Thuột)

    Trần Mộng Tú có Câu Chuyện Của Lá Phong (Thế Kỷ, 1994) rồi Cô Rơm và Những Truyện Ngắn Khác (Văn Nghệ, 1999).

    Kiều Mỹ Duyên (Nguyễn Thị Ẩn), ký giả chiến trường trước 1975, có Chinh Chiến Điêu Linh (1994), được Nguyên Sa giới thiệu: “… Chinh Chiến Điêu Linh của Kiều Mỹ Duyên là cuộc chiến nhìn từ lỗ châu mai của những đồn Địa phương quân ở Sơn Tịnh, ở Minh Lang, ở Sa Huỳnh, ở Đức Phổ, ở Ba Tợ Cuộc chiến của đoàn quân mà Kiều Mỹ Duyên yêu mến bị vây hãm bởi Sư Đoàn 3 Sao Vàng, trước, Sư Đoàn 304 và 308, sau, bị pháo kích như mưa bởi những họng đại bác của Trung Đoàn Pháo 38, bởi những dàn phóng của Trung Đoàn Tên Lửa 84… (…) Người ký giả chiến trường và nhà văn viết tiểu thuyết chiến tranh khác biệt: người thứ nhất có trong tay sức mạnh của thực tại, người thứ nhì sử dụng quyền lực của hư cấu. Tiểu – 4 – thuyết chiến tranh là sự sâu thẳm đào xuống sâu hơn nữa, có khi xuống tới kiếp người, khởi đi từ hố sâu của chiến hào, phóng sự chiến trường là chiều rộng, là cái rộng lớn mênh mông ghê gớm của những thân người đã đổ la liệt trên chiến địa, là chiều rộng chi chít những sự kiện có thật, thật đến nỗi phần đất nhỏ còn dành lại cho tác phẩm như chữ, như dụng văn, như hoàn chỉnh bố cục dù sáng chói đôi lúc vẫn hiện ra bị lấn áp. Chiến trường của Kiều Mỹ Duyên trong Chinh Chiến Điêu Linh cũng mênh mông. Khi thì người nữ ký giả chiến trường này mang lại cho chúng ta cái nhìn đêm cổ thành kéo cờ oanh liệt, cặp mắt ngơ ngác của những em nhỏ bỏ trường học Hương Trà lại phía sau lưng, khi thì Kiều Mỹ Duyên mang lại cho chúng ta cuộc chiến nhìn từ bờ sông Mỹ Chánh. Kiều Mỹ Duyên nhìn cuộc chiến từ phi cơ L19, cái nhìn hướng dẫn hành quân, quan sát mục tiêu, phối hợp hoả lực…”

    Hoàng Dược Thảo có tập truyện Tiểu Thư Con Gái Nhà Ai? (Sàigòn Nhỏ, 1995).

    Vũ Quỳnh Hương (Nguyễn Vũ Quỳnh Hương; 1957, Huế – ) xuất hiện lần đầu trên tạp chí Văn (Xuân Giáp Tý 1985) truyện ngắn Vận Tốc Trung Bình và gây chú ý với truyện vừa Miền Vĩnh Phúc trên tạp chí Văn Học (số 8-9, tháng 10-1986). Chưa có tác phẩm xuất bản, chỉ in chung tập truyện Trăng Đất Khách (Làng Văn, 1987) và thi tập Canh Thức Cùng Thơ Mộng (Lũy Tre Xanh, 1996).

    Tôn Nữ Quỳnh Giao một thời gây sôi nổi với truyện dài Tình Yêu Linh Mục (1987).

    Linh Linh Ngọc có tuyển tập Gió Sông Hồng (San Jose CA: Thế Giới, 1992), …

    Hoàng Nga (28-3-1959 -), tác giả mới, đặc sắc với tập truyện đầu tay Tháng Giêng Tháng Bảy Buồn Như Nhau (Làng Văn, 1997) gồm 14 truyện ngắn, sau đó là các tập truyện ngắn Như Một Vết Chim Bay (Làng Văn, 1999), Bay Đi Cánh Chim Biển (Văn Mới, 2000).

    Ngọc Anh (Nguyễn Ngọc Kim Anh, 1950 – ) có truyện dài Mưa Xuống Cuộc Đời (Phương Đông, 1996), các tập truyện Chân Dung (Tình Thương News, 1994) và Thương Tiếc (Làng Văn, 2002).

    Hoa phượng, biểu tượng của tuổi học trò đồng nghĩa với một thời đáng nhớ, Nguyễn Thị Ngọc Dung có loạt tiểu-thuyết tự truyện Phượng Vẫn Nở Bên Trời Hà-Nội (THXBMĐ, 1995) và Sài-Gòn Nắng Nhớ Mười Thương (THXBMĐ, 1996) về thời trẻ, nữ sinh rồi lập gia-đình với một nhà văn quân đội nhiều sóng gió ở Sài-Gòn và cuối cùng ly hương và làm lại cuộc-đời ở Hoa-Kỳ.

    *

    Có nhiều tác phẩm châm biếm, hài hước khi viết về xã hội Việt-Nam sau 1975 hoặc ở hải-ngoại, đặc biệt có Tôn Kàn với Quan Hai Lang Tây Lính Thủy Đánh Bộ (1994) và Chết Em Rồi, Bác Sĩ Ơi! (Montréal: Tập san Y sĩ, 1995), hoặc tuyển tập Thợ Đấu, Thằng Ca, Tư Què của Cười Chanh Ớt (Paris: Sudasie, 1980),…

    Thơ phúng thích (biếm thi) có thể kể Thơ Đen (1991; Đồng Tâm, 1993) và Thơ Kẽm Gai  (1994) của Mậu Bình (Hà Huyền Chi), Thơ Đắng (1993) của Thập Thành LongThơ Cù Nèo (Việt Luận, 1988) của Nam Man Lâm Nam Triều,  …

    *

    Một khuynh hướng khác là quá khứ nhìn lại và với cái nhìn suy tư của kẻ chín mùi đời, trong số có Đỗ Thúc Vịnh với Hoàng Hôn Tùy Bút (Costa Mesa CA: Đỗ Đỗ, 1991), Nỗi Ám Ảnh Của Quê Hương (Đỗ Đỗ, 1996, tuyển tập đoản văn bút ký) và tái-bản nguyên bản các truyện dài Dì Mơ (Tự Do, 1959; Người Dân, 1989), Những Người Đang Tới (TGXB 1964; Đỗ Đỗ, 1990), Mùa Ảo Ảnh (Tự Do 1962; Đỗ Đỗ, 1991). Nhà Vietbooks / Tủ sách Người Dân (Costa Mesa CA), có mục đích “để giới trẻ ngày nay ôn lại quá khứ, từ đó, may ra, có thể hoạch định được tương lai” khi cho xuất bản ba truyện ký Lũy Tre Xưa của Hoàng Thị, Mùa Thu Cuối Lối của Hoàng Hôn và Dĩ Vãng của Sĩ Quốc (2000).

    Vũ Khắc Khoan qua đoản bút Đọc Kinh (An Tiêm, 1990) tự phân tâm nhìn lại mình trong một tập thể dân tộc. Trước 1975, ông từng nói “Không có cuộc sống nào đáng sống cả, lỡ sống thì phải chấp nhận cuộc sống” – nói như một nhân vật kịch nói của ông.

    Đời sống ở Việt-Nam sau ngày 30-4-1975 cũng được viết lại cho lịch-sử và các thế hệ sau. Đoàn Thêm (1915, Hà Nội – 2005) trong Những Ngày Muốn Quên 1975-1983 (viết xong từ trước, xuất-bản năm 1992 sau khi ông định cư ở Montréal, Canada) nhận chân ra những sự thật phủ phàng đằng sau những phách lối của những kẻ ra mặt “chiến thắng”. Nhà Quê Ra Tỉnh (CSXB Phạm Quang Khai; THXBMĐHK, 1996) là cuốn bút ký tiếp sau – “tìm hiểu và xét lại con người và nếp sống Việt Nam xưa và nay”.

    Vũ Ký có Truyện Và Ký (San Jose CA: Mekong-Tỵ Nạn, 1994), Về Nguồn (Đức: Trung Tâm Văn-hóa Xã-hội Phật Giáo VN).

    Doãn Quốc Sỹ viết Dấu Chân Cát Xóa (1995) về những hành hương trí thức của hai thanh niên trên đất Mỹ, Mình Lại Soi Mình (1995) chuyện va chạm sống chung sau 1975 và cuộc vượt thoát của nhân vật Phượng. Cò Đùm (1996) gồm những chiêm nghiệm về chiến tranh vừa qua, về những biến cố lịch sử khác, v.v. 

    *

    Khuynh hướng trở lùi thời gian qua phương tiện truyện và tiểu-thuyết lịch-sử thời này nổi bật nhất có Nguyễn Mộng Giác với trường thiên Sông Côn Mùa Lũ (1991), Hoàng Khởi Phong Người Trăm Năm Cũ (1993-), Nam Dao với Gió Lửa (1999) và Trần Vũ với Ngôi Nhà Sau Lưng Văn Miếu (1990) và Cải Chết Sau Quả Khứ (1992) – theo hai lối ngõ có khác nhau đi vào lịch sử hoặc lôi kéo quá khứ trở lại.

    Sông Côn Mùa Lũ của Nguyễn Mộng Giác là một tiểu thuyết lịch sử có tính cách điều nghiên văn hoá, về “hiện tượng” Nguyễn Huệ của đất Qui Nhơn. Cái đặc biệt của bộ trường thiên non 2000 trang này là chân dung con người Nguyễn Huệ đa dạng và nhiều tương phản.

    Hoàng Khởi Phong viết trường thiên lịch sử Người Trăm Năm Cũ (Tập 1 Trên Núi Đồi Yên Thế, 1993) với ý ôn kinh nghìệm cả trăm năm chiến tranh gần như không ngừng trên quê hương nước Việt. Trong Cây Tùng Trước Bão (1994), ông viết về một thời chiến tranh sôi nỗi, những nhân vật là anh hùng phần lớn vô danh nhưng đã làm nên lịch sử.

    Song hành thời đại với hai tác giả trên, có Trần Vũ, Nam Dao trong cùng vệ tinh, chiều kích của Nguyễn Huy Thiệp trong nước – dựng người chết sống lại, trong một bút pháp nét riêng.

    *

    Bên cạnh những cái Chết trong salon chữ nghĩa là những cái Chết của goulag, của hồi ký; những cái Chết hiện thực của phi nhân, của chính-trị tà đạo hy sinh con người cho mục đích ngoài con người. Người viết là những người bị khổ nhục và trực diện với cái Chết nhưng vẫn tự tin và bất khuất. Khối hồi ký và bút ký về những cái Chết này bắt đầu với Trần Huỳnh Châu (Những Năm Cải Tạo Ở Bắc Việt 1981), v.v. cho đến nay 2008 vẫn còn tiếp tục.

    Trong thể loại lịch sử còn có tiểu thuyết Trên Sông Hồng Cuồn Cuộn (1995) của Nguyễn Tường Bách viết về giai đoạn Tự Lực Văn Đoàn và những con người cách mạng dân-tộc sau đó.

    Hoài niệm thời chiến-tranh và vượt biên còn có Vũ Uyên Giang với Trên Đường Biên Giới (Văn Tuyển, 1999) là những mảnh rời ký ức về các trại cải tạo, trại tị nạn ở Thái Lan, cùng các nhân-vật, và Phi Vụ Bí Mật Trên Đất Thái Lan (Văn Học Mới, 2021).

    Trúc Chi (Nguyễn Phúc Tôn Thất Kỳ, 1934-) có tập tùy bút Đó Đây (Văn Học, 1999) viết về một số tác giả, món ăn, cảnh tượng Huế, Hà Nội, và “mấy lá cỏ bồng” của Huế. Theo nhà văn Nguyễn Mộng Giác, Nguyễn Bá Trạc và Trúc Chi là “hai người viết tùy bút thành công” ở hải ngoại (ĐĐ, Lời vào tập, tr. 4). Tập Gỗ và Đá (Văn Mới) tiếp theo, đặc biệt với bài “’Tôi’ và Lỗ Tấn”.

    Nhà báo kiêm họa sĩ Phạm Thăng có những tập tuyển truyện Xuôi Dòng Cửu Long (Làng Văn, 1990), Xóm Cũ (Làng Văn, 1992) ghi lại chuyện nhiều nơi chốn ở Việt-Nam trước 1975, Vui Buồn Nghề Nghiệp (Làng Văn, 1992) kể chuyện giới làm báo và sân khấu, thể thao.

    *

    Phía hồi kýTrần Sĩ Huân có Bóng Ngày Qua (San Francisco CA: Mõ Làng, 1992) tiểu tựa ghi “Bút ký Công chánh” là quãng đời học và làm công chức ngành Công chánh trãi qua nhiều chế độ và ra cả hải-ngoại sau 1975 – Kiều lộ Cali; trong đó ông ghi lại tâm trạng lưu vong hay hội nhập của người Việt giai đoạn đầu: “Đến năm 1980, vấn-đề nhập quốc tịch Mỹ bắt đầu đặt ra sau 5 năm tạm dung (parolee). Người thì cho rằng mình chỉ là dân di tản, bất đắc dĩ qua Mỹ đây để tránh bom đạn, để cho con cái có cơ hội học hành chứ thế nào mình cũng trở về với quê cha đất tổ, vậy thì vô dân Mỹ làm chi. Họ tổ chức đời-sống theo lối tạm bợ, ở nhà thuê, tiêu tiền mặt, đi xe buýt, không xin thẻ tín dụng. Họ hân hoan khi nghe có tổ chức kháng chiến, phục quốc và ủng hộ hết mình. Họ an phận với lối sống tạm dung…” (tr. 111).

    Nguyễn Chí Thiệp (1944, Quảng Nam – ) xuất bản Trại Kiên Giam (Sông Thu, 1992) có cái nhìn sắc bén và nhạy cảm về những hậu quả của chiến tranh: người bị cải tạo, kẻ theo cộng nay trở về thất vọng như cô Bích em họ tác giả, chấp nhận ở lại như để đền tội đã theo “đảng đã làm cho đất nước rách nát tàn hại như ngày nay“. Chuyện 13 năm tù với nhiều đày đọa:

    Hai chân tôi bị còng chéo để bức cung. Còng chéo hai chân bị đóng cứng chặt giữa hai cái còng hình chữ U và thanh sắt xuyên. Vì độ cao của thanh sắt giở hổng hai chân lên thành ra không thể nằm thẳng lưng, vì nằm như vậy thân mình căng ra hai chân bị siết chặt vào sắt đau buốt tận tủy óc. Người bị còng phải dùng hai khuỷu tay để chống hoặc cởi hết quần áo ra chêm ngang thắt lưng mới chịu được một thời gian. Chờ một vài ngày hai cổ chân gầy đi xoay được lật úp thì hai chân sẽ thẳng ra nhưng phải nằm sấp. Nhưng chỉ vài ngày chân đã sưng húp vì ban đêm bị lắc còng điểm danh” (tr. 473).

    “… Tiêu chuẩn kỷ luật mỗi tháng còn 9 kg lương thực ăn với nước muối, 9 kg mỗi tháng, mỗi ngày chia hai bữa hai chén nhỏ xíu. Cơm mới bỏ vào miệng chưa kịp nhai cái lưỡi đã đưa cơm vào cổ. Đến bữa ăn phải kềm hãm cố nhai cho thật kỹ, vừa để cho đỡ buồn, cho qua thời giờ có việc làm, khi nhai thức ăn, vừa phải nhai kỹ  để thức ăn ít ỏi và quí báu được tiêu thật hết, khỏi phí phạm, giúp cơ thể bòn từng chút bổ dưỡng để thân xác chịu đựng cho con người được sống, nhai thật kỹ để chất thải ra thật ít, 5,7 ngày mới đại tiện một lần, vì đại, tiểu tiện đều vào cái thùng đại liên để ngay bên cạnh bục nằm, đến lúc đầy tràn trật tự mới đổ đi, nên suốt ngày đêm phải nằm bên cạnh cái của nợ khai thúi đó…” (tr. 35).

    Bị tù nhưng bất khuất đưa đến những đối kháng: “… Cách duy nhất mà người tù phải làm là chịu đựng. Lần đầu, tôi vừa bị đánh vừa bị chửi nào ngoan cố, xách động. Tôi cố gắng chịu những cái thoi, cái đánh cái tát vào người cố không để trúng mặt và ngực. Lúc đó mới thấy rõ được cái hèn hạ của những cán bộ cộng sản . Những người tuổi trẻ nhưng trong lòng đầy thù hận, sự thù hận mà Đảng và Bác của họ dạy cho họ, hận thù những người họ không quen biết, vỉ thù hận giai cấp. (…) Những người thanh niên sung sướng hả hê khi đánh đập một người bị còng hai chân không còn khả năng và quyền tự vệ” ( tr. 357-358). Nhận xét về những nạn nhân bị cộng sản đày ải:  “…những con người luôn luôn muốn tìm cho tổ quốc một con đường tiến tới và sẵn sàng dấn thân, nhưng mỗi lần dấn thân là học được bài học đau thương mà vết tích hằn rõ trong cả linh hồn và thể xác. (…). Cộng sản là một bài học chua cay, mà khi học xong rồi thì kinh nghiệm không bao giờ có cơ hội áp dụng… » (tr 640). Người cộng-sản gây hãi hùng, căm hận, nhưng cũng khiến tác-giả nhận ra họ cũng là những nạn nhân trong một guồng máy bất nhân mà họ không hay biết. Sau này, ông ra thêm Việt Nam Khát Vọng Dân chủ Tự do? (TGXB 2001).

    *

    Trong thể loại văn xuôiHoàng Ngọc Biên năm 1991 sang Hoa Kỳ định cư ở Salt Lake City thuộc tiểu bang Utah và San Jose, California. Ông vốn theo khuynh-hướng “tiểu-thuyết mới” từ trước 1975, năm 1997 với hai tập truyện không dày do nhà Trình Bày in tặng thân hữu những truyện đã đăng trên tập san Trình Bày năm 1971 Chuyến Xe và Người Đạp Xe Vào Thành Phố Buổi và các thi tuyển Uống Trà Sớm Mai (Trình Bầy, 1996) gồm những bài lục bát của những năm 1962-1996, Đất và Người và Thần Thoại Việt Nam (Trình Bầy, Hoa-Kỳ, 1997), Biển Ngày Đêm (Trình Bầy, Hoa-Kỳ, 1999) và Chân Mây Cuối Trời (chung với Đỗ Trung Quân; Trình Bầy, Hoa-Kỳ, 2003). Chuyến Xe được sáng tác vào tháng 10-1987 khi ông còn ở trong nước, là độc thoại của một người ngồi ở công viên chờ một chuyến xe lửa nào đó.

    Nguyễn Sao Mai (19-2-1940 -) xuất bản truyện dài Căn Nhà (Miami FL: Sóng Văn, 1997) sau khi đăng từng kỳ trên tạp chí Sóng Văn, tác phẩm đáng ra đã được xuất bản trước năm 1975. Thạch, Thi, …, những người tuổi trẻ với lòng mới lớn phải đối đầu với những bi đát, nhơ nhớp của cuộc đời. Một Đà lạt, một miền Nam đang bí lối, trong đó những thân phận nghiệt ngã dù lạc đường vẫn cố vươn lên, tìm một nơi hạnh phúc dù nhỏ bé. Những tiếng kêu thương trong khi hành trình đầy vấn nạn vẫn còn đó, đi tìm một quê hương đích thực trên quê hương đang hiện có mà như không.

    Lập Phương có tập truyện ngắn Về Bắc (Mõ Thủ Đô, 1996) viết về đời sống ở miền Bắc nơi tác giả sinh trưởng, nơi nhiều thương tích chiến tranh và một tuổi trẻ đánh mất.

    Kinh Dương Vương, một cây viết xã hội mạnh dạn thuộc khuynh hướng phản đối chiến tranh trước 1975 có tác phẩm đã đăng báo từ trước nay mới xuất bản có Những Chiếc Mặt Nạ Cười (Văn Mới, 1997). Tập gồm 6 truyện ngắn hiện thực, mặt trái, về những cảnh tượng và đời sống bi đát trong chiến tranh của những người thấp cổ bé miệng. Người đối xử với người như con vật, rồi những chuyện thối nát, tham nhũng, đê tiện của nhiều người. Tiếng kêu trầm thống của người gọi người, hy vọng con người còn giữ được tình người.

    Về hồi ký chiến tranh có tập Một Cánh Hoa Dù (Boynton Beach, FL: TGXB, 1997) của Trương Dưỡng, một cựu thiếu tá Nhảy dù. Một ghi dấu kỷ niệm những năm chiến đấu hăng say để bảo vệ màu cờ sắc áo; một ghi nhận không phô trương cũng như kết án.

    Nguyễn Thi xuất bản tập Niềm Thương Nỗi Hận, thơ truyện về cuộc đời một “chàng trai” những năm 1946-1968.

    Hai nhà văn nữ viết đặc biệt về chiến tranh là và Kiều Mỹ Duyên và Điệp Mỹ Linh (Nguyễn Thị Thanh Điệp). Kiều Mỹ Duyên với Chinh Chiến Điêu Linh (1994), tập bút ký chiến trường từ cổ thành Huế, căn cứ hoả lực 5 Tam biên, từ bờ sông Mỹ Chánh đến những trực thăng tải thương – những ghi nhận của một người nữ phóng viên chiến trường.

    Điệp Mỹ Linh với truyện dài Sau Cuộc Chiến (Nguồn Ý, 1990) và tập truyện ngắn Đưa Tiễn (1994) viết về đời-sống hội nhập khó khăn của các bà mẹ. Truyện dài Cuồng Lưu (TGXB, 1994) vẽ lại cuộc đời đau khổ nhiều hơn hạnh-phúc của một người phụ nữ Việt từ khi ở trong nước ra đến hải-ngoại. Các tác-phẩm khác đã xuất-bản gồm các tập truyện ngắn Một Đoạn Đường (TGXB, 1986), Bước Chân Non (1987), Tưởng Như Trở Về (1999), Tìm Vết Chân Xưa, Trăng Lạnh và tài liệu lịch-sử Hải Quân Việt-Nam Cộng-Hòa Ra Khơi, 1975 (TGXB, 1990).

    *

    Ở vào giai đoạn này, đã bắt đầu có những cây bút can đảm nói thật những suy nghĩ riêng tư dù vẫn có thể phiền những người quá khích một chiều, cả hai phía. Người viết lịch sử sau này cần biết đến những nhân chứng này (cũng như cần đến những ký sự của các vị lãnh đạo hai bên. Đã có những tướng lãnh Việt-Nam Cộng-Hòa viết lại kinh nghiệm chiến tranh điều trần cho Ngũ Giác Đài từ năm 1979, và vài vị xuất-bản bằng tiếng Việt). Lần lượt, họ là:

    Phan Nhật Nam với Những Chuyện Cần Được Kể Lại (1995, bản dịch The Stories Must Be Told 2002), Đường Trường Xa Xăm (1995), Đêm Tận Thất Thanh (1997), Mùa Đông Giữ Lữa (1997) và sau này thêm các tập Những Cột Trụ Chống Giữ Quê Hương (2003), Phận Người Vận Nước và Chuyện Dọc Đường (Tuần báo Sống, 2013).

    Sau ngày 30-4-1975, Phan Nhật Nam bị bắt tập trung cải tạo 14 năm (1975-1989). Ra khỏi nước, ông tiếp tục viết và thấy có bổn phận của “người sống đối với những người đã chết”, bổn phận phải viết lên những điều mắt thấy tai nghe, nói lên những uất nghẹn của người dân Việt, viết lên những oái ăm, hận thù cũ được nhìn lại với cái tâm tưởng thoát mọi ràng buộc độc đoán, một nhìn lại thời gian đi lính, nhìn lại những chiến trường cũ,… Ông cần được kể lại vì phải nói lên tiếng nói của một tập thể đông đảo binh sĩ luôn chịu thua thiệt, bị ngộ nhận, có khi bị đồng hoá  với những người chỉ huy hèn nhát. Chỉ với hai tác phẩm Những Chuyện Cần Được Kể Lại và Đường Trường Xa Xăm, người lính nhà văn họ Phan đã nghiệm cảm đau đớn cho cái tình Người đã mất trong thế giới hôm nay, ở người Việt. Ông muốn giải tỏa, kêu gọi xóa bỏ những hận thù mà cuộc chiến vừa qua đã gây ra vì ông nhìn thấy vết thương đó trong khi có người phó mặc, đường ta ta cứ đi!

    Thời văn-học hải-ngoại, Phan Nhật Nam đã đi sâu hơn vào chủ nghĩa hư vô nhưng vẫn tin vào sáng tạo văn học nghệ thuật có thể chữa lành vết thương nào đó.

    Một người sĩ quan khác cũng chỉ vì có tâm và phẫn nộ mà cũng đã phải đắng cay trong cuộc đời: Thảo Trường với Tiếng Thì Thầm Trong Bụi Tre Gai (1996). Không gào thét, không than van, người lính H.O. với tuổi đời đã bình thản hơn nhưng sao nhiều lúc ông rất lạnh lùng như người viết sử, ngay trước cả những tàn độc của con người dành cho những con người khác, những kẻ thua thiệt, chậm chân như phải trả giá cho những tướng tá đã cao chạy xa bay. À, thì ra ông đã nhìn thấy cái thú tính nơi những con vật đã chối bỏ tư thế con người!

    “… Chị Tư đè ngửa anh cán bộ xuống rồi chị khóc nấc lên thành tiếng “Tôi đây, tôi là của anh, nhà tôi là của anh, cái bào thai này cũng là của anh. Nó phải là của anh!”. Anh cán bộ ú ớ dưới ngực chị. “Nó là của Đảng! Tất cả là của Đảng!”

    Một truyện khác, Những Đứa Trẻ Đầu Thai Giữa Hàng Rào, đầu thai không phải chỗ vì con người trong cái xã hội siêu quần đó phải trở về sống đời bản năng và tình cảm nguyên sơ: muốn có con để ít ra đó là lẽ sống giữa bao hùm sói thời dã sử. Tình người phải kiếm tìm bằng bản năng, bất chấp bạo lực cai tù, vì “không còn gì” như lời ai kia nổi tiếng!

    Như Phan Nhật Nam, Thảo Trường muốn dùng văn chương để mời gọi con người sống thật với chính mình, sống như con người lương thiện và có phẩm giá – những cái đáng phải còn lại của một cuộc tương tàn. Vì đồng bào của ông hãy còn lâm trận, cho tự ái, cho cái lý tưởng cũ kỹ đã trót đi, cho cái tôi hoặc cái bảo thủ, cái dĩ lỡ vẫn còn nặng nợ.

    Trần Hoài Thư trong Ra Biển Gọi Thầm (1995) và nhiều thơ truyện khác viết về chiến tranh với cái nhìn của một người lính về cuộc chiến, một cái nhìn không lạc quan về một chiến trường bi thảm, ngoài lề tiếng nói của chính quyền, khác những tiếng ồn ào nhưng không chắc của đa số.

    Ban Mê Thuột Ngày Đầu Ngày Cuối của Trần Hoài Thư tiêu biểu vì tác phẩm được đón nhận nồng nhiệt bởi người đọc liên hệ xa gần đến người lính Cộng hoà, đáp ứng nhu cầu tự nhiên tìm về quá khứ của người lính đã hy sinh đời mình cho lý tưởng, nhất là những người lính cô đơn chiến đấu và cô đơn chống trả những oái ăm của định mệnh sau đó.

    Truyện của Trần Hoài Thư là truyện của những người lính vô danh, những thân phận của những người chịu nhiều bạc bẽo của thời thế. Ông viết với cái tâm của một người lính tác chiến thực thụ, nhìn thấy tất cả những cay nghiệt của chiến trường và nhiều khi rất xót xa khi bị đẩy vào những ngã đường tuyệt lộ.

    Người lính của anh là những hoài niệm, ưu tư, khắc khoải, những cay đắng hoài nghi, nhưng cũng là những chân dung những người lính thật, có lửa có lòng, có tốt có xấu, nhưng vượt trên tất cả là thân phận của những con người bị đày đọa, hy sinh, lừa dối.

    Người lính Trần Hoài Thư đáng tội, chỉ vì anh có suy nghĩ, biết nhìn thấy những bất nhân và bất công, những tâm địa và tư cách của những kẻ cùng chiến tuyến. Anh đã dám nói lên những sự thật đau lòng của chiến tranh, của những người cùng chiến tuyến, dám nói khác những tiếng nói chính thức mà nhiều người đã nhàm nghe. Truyện Trần Hoài Thư nói chung tiêu biểu vì chứng minh văn nghệ vị nhân sinh, thỏa đáng những đòi hỏi của nhân sinh ở một tình huống hôm nay.

    Vĩnh Hảo (Nguyễn-Phước Vĩnh-Hảo, 30-11-1958 -) một cây viết mạnh một thời với Mẹ, Quê Hương Và Nước Mắt (1989), Núi Xanh Mây Hồng (viết năm 1982, Alpha Books xuất-bản 1991), Biển Đời Muôn Thuở (1992), Thiên Thần Quét Lá (1993). Không khí truyện của Vĩnh Hảo là một Việt-Nam khốn khổ từ đời sống trại cải tạo, những đấu trí, đến những liên hệ tình cảm trong đời sống mới, từ những “đau đớn lòng” ở trại tị nạn đến đời sống xứ người. Những biển đời, những cái chết. Nhân vật của ông thường tìm hạnh phúc, tìm đạo, trong khó nghèo, và tâm thì an nhiên. Và trong chốn thiền môn, dù chuyện thế sự vẫn quẩn quanh trong Phương Trời Cao Rộng (Chiêu Hà Books, 1993), Bụi Đường (Chiêu Hà Books, 1995, tb 1996, tức PTCR 2, bản Anh ngữ Dust Along the Path) và Ngõ Thoát (Chiêu Hà Books, 1996). Tiếp đó, ông xuất bản hai tập Cởi Trói (Chiêu Hà Books, 1997) gồm 2 tập truyện dài tức phần IV của tập trường thiên Phương Trời Cao Rộng, kể chuyện tù đày, nhưng không là một tù đày bi phẫn, mà là một tù đày như cuộc sống, như một hậu quả của phẫn nộ cuộc đời. Về tù cải tạo, hệ lụy tất nhiên cho lý tưởng chống Cộng của mình. Ngoài ra, Vĩnh Hảo sáng tác thơ (đã xuất-bản Chạnh Lòng Tiếng Thơ Rơi, 1996) và viết tùy bút: Sân Trước Cành Mai (1994) và Con Đường Ngược Dòng (1998), một tâm bút với những suy nghĩ phê bình can đảm của một cựu tu về đời sống tu hành ở các thiền viện. 

    Đồng Vọng với Về Miền Sâu Thẳm (VHNT Liên Mạng, 2000) ghi chép “những suy tưởng về đường đi, về cái đẹp, ngã và tha, đôi bờ hữu vô, con người và vạn vật ngập tràn trong tôi khi tôi đắm mình vào nền văn hoá rất giàu cá tính và tiềm ẩn chiều sâu thăm thẳm này. Mời bạn đọc bước vào luồng sáng đang tuôn giữa bóng tối u tịch”. Nội dung gồm hai phần: Thi ca và Kịch nghệ “nghệ thuật Nhật Bản chiêm nghiệm sâu xa giá trị thẩm mỹ của khoảng trống, sự bất động, cái tĩnh lặng. Giữa khoảng trống mênh mông, giữa bóng tối ngập tràn, một khoảnh khắc tồn tại mong manh vụt trở thành điểm hút sâu vời…” (Đôi Dòng của Người Viết, tr. 8, 7).

    Nguyễn Bửu Thoại (27-11-1943, Sóc Trăng – ) với tập truyện pha bút ký Trở Lại Mật Khu Sình Lầy (TGXB, 2000; tb 2003). Tác phẩm tiếp theo là Trong Cánh Cửa, Ngoài Chân Mây (2003) với cùng nhân vật của TLMKSL từ Mã-Lai trở về làm lính trận với những mối tình “em hậu phương, anh tiền tuyến”.

    Ông được để ý với truyện Đôi Mắt Người Bị Xử Bắn Trong Rặng Bình Bát, kể chuyện thời chiến-tranh với những gương hào hùng và cả những sai trái của lãnh đạo chiến tranh. Lính VNCH bắt “bọn thương binh Việt cộng” và nhân vật chính đã nhận “lệnh của cấp chỉ huy. Lệnh tại chiến trường: Lệnh Xử Bắn! Loại mệnh lệnh này chỉ có thi hành chứ không có bàn cãi” đã quyết định không xử bắn. “Bốn anh, kẻ nằm người ngồi, giương bốn cặp mắt trắng dã, cặp mắt đứng tròng không còn thần sắc nhìn tôi. Khóe miệng thì co giật liên hồi. Đó có phải là phản xạ của cơ thể con người khi hay tin mình bị xừ chết chăng?  …  Tôi nhìn từng anh từ đầu đến chân.

    Tôi không có ý bỏ lên bàn cân để tính thử trọng lượng cuộc sống của một con người.

    Tôi cũng không hề có ý đánh giá hoặc so sánh sinh mạng con người ở hai giới tuyến khác nhau, vì khi sinh ra vạn vật muôn loàí, tạo hoá  ban cho họ tất cả một giá trị bình đẳng như nhau! Chỉ có cái chết vô nghĩa, sự hy sinh bị lợi dụng, chứ không có cuộc sống nào là bỏ đi cả.

    Tia nhìn của tôi dừng lại ở anh thương binh lớn tuổi. Tôi bắt gặp anh cũng đang nhìn tôi. Tôi thấy hai hàng nước mắt của anh chảy dài tư hố mắt trũng sâu. Tôi chớp mắt lại một giây. Mắt tôi không cay nhưng lòng tôi chua xót! Chua xót cho một kiếp con người! Chua xót cho những thân phận đầu thai lầm… chủ thuyết!

    Dưới chân tôi có vật gì nhúc nhích. Tôi nhìn xuống: một con cóc ruộng thật lớn ở dưới lớp rơm, nhoi ra nhảy và ngồi trên mũi giày tôi. Cóc đang lè lưỡi… cuốn mấy con giòi trắng bò lễnh nghễnh trên nền trại. Tôi rùng mình hất nhẹ cho cóc nhảy đi. Cùng lúc, một hình ảnh vô cùng tội nghiệp của giống vật lưỡng thể lưỡng cư, vừa sống được dưới nước cũng sống được trên cạn này, gây xót xa trong lòng tôi. Đó là hình ảnh mấy chú cóc, mấy chú ếch khi bị cắt cổ làm thịt, chúng luôn luôn dùng hai chân chỏi mạnh lưỡi dao để đẩy ra, chỏi cho đến khi đầu bị cắt lìa, hai chân vẫn còn chỏi. Thật thảm thương!

    Tôi đã có quyết định. Tôi nói với… bốn cặp mắt thất thần đang nhìn tôi:

    – Các anh đã nghe rõ rồi, tôi được lệnh phải bắn các anh trước khi di chuyển. Nhưng, tôi không làm điều đó vì hai lý do sau đây: thứ nhất, tôi không có thói quen đánh người bị trói, nên cũng không giết người đã bị thương nặng, bị loại khỏi vòng chiến. Lương tâm và truyền thống đạo đức không cho phép tôi thực hiện điều đó. Người chiến sĩ chân chính không bắn đối phương khi đối phương đã xuôi tay không còn vũ khí! Hơn nữa, hình ảnh thê lương của các anh gây ra một sự hụt hẫng thảm hại trong suy tư của tôi. Tôi không thể tin rằng: là con người với nhau, tầng lớp này lại có thể gạt gẫm và đọa đày tầng lớp kia và tầng lớp kia lại mù quáng, điên dại, lao thân vào chỗ chết để phục vụ cho một tham vọng, một chủ thuyết mơ hồ, xa vời và không tưởng! Tôi không hề làm công tác Chiến Tranh Chính Trị trong lúc này và cũng không có ý tranh luận với các anh về chủ thuyết, cái nào ưa việt, cái nào tệ hại.  ….  Sau khi chứng kiến Chêm trút hết hai băng M16 vào bụi bình bát xử bắn giả, bốn tên thương binh VC mới tin rằng tôi tha chúng thật. Tên lãnh đạo nói với tôi trong nỗi xúc động nghẹn ngào:

    – Thưa ông, tôi biết ông là người chỉ huy cánh quân này. Tôi không thấy ông đeo lon nên không hiểu cấp bậc của ông, nhưng chắc chắn ông phải là sĩ quan, một tầng lớp mà chúng tôi vừa thù, vừa sợ. Tôi được học tập rằng sĩ quan Quốc Gia gặp chúng tôi là tàn sát, trẻ không tha, già không thương…! Đây là lần đầu tiên tôi gặp được một sĩ quan bằng xương bằng thịt và thấy rằng ông đã không phải con người ghê gớm như vậy. Ông không giống với hình ảnh những sĩ quan sắt máu mà chúng tôi đã có trong ý tưởng lâu nay. Xin thay mặt cho ba anh em, tôi chân thành đội ơn ông…” (TLMKSL, tr. 383-384).

    Nguyễn Bửu Thoại viết truyện khi đọc thấy “những điều hoang tưởng, xuyên tạc chiến sĩ QLVNCH của hai nhà văn “lớn” là Dương Thu Hương và Bảo Ninh”, như ông đã viết trong Lá Thư Thay Lời Tựa: “… Cuộc chiến tranh máu lửa đau thương trên quê hương VN ta vừa qua đã phơi bày và để lại cho chúng ta biết bao điều đắng cay chua chát, biết bao điều nghịch thường, phi lý về phẩm giá của một con người. Quyển sách nhỏ này kể lại những chuyện nhỏ, ở một đơn vị cũng nhỏ, nhưng đã phát sinh nhiều sự kiện to lớn từ những… con người. Những con người vốn mang thân phận cỏ nội hoa rừng, cũng biết sợ hãi khi nhận nhiệm vụ đi vào hiểm nguy chết dễ sống khó, nhưng vẫn hiên ngang tiến bước, không thối lui, không tránh né, không xin xỏ, so đo, và nhất là không quay lưng bỏ cuộc đầu hàng” (tr. 14).

    Ngô Thế Vinh xuất bản Mặt Trận Ở Sài-Gòn (1996) gồm một nửa là những truyện viết trước 1975, như một góp phần trong cuộc “thảo luận” về cuộc chiến vừa qua. Cửu Long Cạn Dòng/Biển Đông Dậy Sóng (Văn Nghệ, 2000) “tiểu-thuyết” dài trang về những vấn nạn cho con người và thiên nhiên ở vùng Đông Nam Á trong đó Việt-Nam và Biển Đông phải chịu những hậu quả khôn lường.

    (còn nữa)

    Nguyễn Vy Khanh

    * Nguyễn Vy Khanh: Văn học hải ngoại: giai đoạn phôi thai, 1975–1980

    *Nguyễn Vy Khanh: Văn học hải ngoại: giai đoạn hình thành, 1980–1986

    Nguyễn Vy Khanh: Văn học hải ngoại: Các giai đoạn sinh hoạt & phát triển (Kỳ 1)

    * Nguyễn Vy Khanh: Văn học hải ngoại: Các giai đoạn sinh hoạt & phát triển (Kỳ 2)


    Không có nhận xét nào