Kỳ 6
Nguyễn Vy Khanh
26/8/2026
GIAI ĐOẠN LÃO HOÁ & CHUYỂN ĐỘNG THẾ KỶ (2001-2015)
Đặc-biệt vào giai đoạn này, một nhà thơ xuất hiện trễ nhưng đã gây phấn khởi tinh thần người Việt sống lưu vong xứ người, đó là nhà thơ Trạch Gầm, tên thật Nguyễn Đức Trạch, trước biến cố 30-4-1975, là sĩ quan thám báo nên khi nước mất, đi “tù”. Cũng là lính như một số nhà văn thơ khác ở hải ngoại và sáng tác khi đã đến đất người, nhưng chất lính của Trạch Gầm mang thêm phần bạt mạng giang hồ và Nam-kỳ của Cao Đông Khánh. Mới xuất hiện nhưng gần đây đã có hai tập thơ Vụn Vặt (2007), Ráng Chịu (2009) và Dấu Giày Chinh Chiến (2013) [và hai tập truyện ngắn Bên Lề Cuộc Chiến (Viet Tide, 2015), Nhốt Vòng Nhớ Thương (Viet Tide, 2016)] được xuất-bản và gây chú ý cũng như đồng-cảm của người đọc ở hải-ngoại. Hình như những u uẩn và uất ức đau buồn của người lính phải buông súng quá chất chồng khiến khi luống tuổi nhà thơ không thể bộc lộ khác hơn. Thật vậy, nhà thơ nay phải sống tha phương, làm thơ như để “cùng chia nỗi buồn quê hương”, để “khóc nỗi bạn bè… lưu lạc bốn phương”,…
Sự phẫn nộ vẫn còn đó dù lời thơ cẩn trọng, lặng lẽ hơn, như tiếng thơ của Trần Quốc Bảo “Cúi Đầu Tạ Với Quê Hương / Tôi còn một nửa đoạn đường chiến binh”:
“Rượu xuân nghiêng chuốc chén buồn
Thơ xuân lại rót cô đơn cho đời
Đường vào huyền sử đôi mươi
Bốn phương ai oán một trời xót xa
Lang thang không Nước không nhà
Sống nhờ ở đậu cho qua tháng ngày
Ngu ngơ như tỉnh như say
Bao nhiêu mộng ước tầm tay vuột dần
Bây giờ lá rụng đầy sân
Biết còn tình tự với xuân lời gì
Đêm dài che khuất đường đi
Tối tăm thù hận bờ mi tủi hờn
Mắt nhìn không có linh hồn
Thân lưu đầy giữa vũng buồn chơi vơi
Đắng cay lên những môi cười
Nén đau trong tiếng thở dài thê lương
Cúi đầu tạ với Quê Hương
Tôi còn một nửa đoạn đường chiến binh
Từng đêm mình điểm danh mình
Nghe sông núi gọi đăng trình xôn xao
Mỗi xuân thêm bạc mái đầu
Nghiêng hồ trường chuốc về đâu bây giờ
Ưu phiền lại rót vào thơ!”
(Tuyển Tập Thơ Văn, tr. 227)
Nguyễn Đức Liêm đã xuất bản 3 Tuyển Tập Nguyễn Đức Liêm (TGXB, 2009, 2012, 2013) – thơ từng được Nguyễn Mạnh Trinh gọi là “thơ tùy bút”:
“Đỏ hơn con bé quàng khăn
Em nhân với nắng thành trăng trắng ngà
Chia em vào cõi tiên sa
Vi lên em vút nũng ra nịu đời
Để anh ba bị chín quai
Mười hai con mắt theo hoài gót son
Rồi thành thằng bé tí hon
Đi hia bảy dặm vẫn còn xa em
(Cửu Chương Hồng)
Vinh Hồ sau tập Thơ Vinh Hồ 1999, thơ ông chấp cánh với Bên Này Biển Muộn (Hội VAALA/Florida, 2005). Trích bài Hồn Oán:
“‘Nhất tướng công thành vạn cốt khô’
Hàng hàng mộ chí đã hoen mờ
Dàu dàu ngọn cỏ sầu tư lự
Ngút tạnh hoàng hôn lạnh bãi bờ
Mang mang thiên địa hồn thi sử
Mặc mặc trường giang cọc nhọn trơ
Triệu triệu vong linh còn vất vưởng
Nương dân hạ bạn đã đi về
Ngàn vạn hồn oan không trở lại
Cô phòng ngọn nến cháy vu vơ
Lời ai than khóc trong mưa gió
Dạ bạc sầu đông đứng héo khô
‘Khuê trung thiếu phụ bất tri sầu’
Chẳng mong, cầu bá tử công hầu
Sao lại tàn phai màu liễu rũ
Và vùi chôn cả mối tình sâu?
Hỡi ơi! cuộc chiến ai phong thánh?
Ai đã nô đùa trên xác ai?
Hỏi ai vương tướng còn run rẩy?
Khi đi qua cuộc bể dâu này” – 9-2000
(BNBM, tr. 52).
Ngô Tằng Giao bút hiệu Tâm Minh, luật sư, định cư tại Hoa-Kỳ năm 1989, tham gia chủ bút các tạp chí Văn Phong và Cỏ Thơm vùng Washington D.C., tác giả tạp bút Đà Lạt Ngày Tháng Cũ (TGXB, 2010; tb 2016).
Hoàng Thượng Dung (Anthony Nguyễn Nguyên Hoài, 2-7-1937 Sa Đéc – 14-12-2020, California) có Em Đi Sầu Ở Lại (Văn Học Nhân Chứng, 1989; tb Westminster CA: Hồn Việt, 2002) tuyển thơ từ 1983 đến 2002. Trích bài Đoản Khúc Cuối:
“Tôi biết đời tôi đã hết rồi
không còn hoa mộng tuổi đôi mươi
cho nên tình ái đi vay mượn
thương hại người ta cho thế thôi.
cay đắng đi cho hết cuộc đời
những ngày thơ dại bỏ xa tôi
tương lai vượt khỏi tầm tay với
mộng ước u buồn như lá rơi
thân xác lao đao lệ miệt mài
bao giờ đau đớn mới nguôi ngoai
niềm thương tan tác như hoa dại
tôi biết tình tôi đã chết rồi
nếu mai sau giã biệt cuộc đời
tôi xin gửi lại một lời thôi
tình yêu đừng gói trong thương hại
giết cả cuộc đời giết cả tôi” (Tr. 52).
*
Nguyễn Tường Giang từng cộng tác với các nhóm văn hoá như Thái Độ, Đất Nước. Ông cũng là một trong những thành viên chủ trương tạp chí Văn Chương và thành lập nhà xuất bản Thạch Ngữ. Ở hải ngoại, Nguyễn Tường Giang đi tiếp con đường chữ nghĩa thừa hưởng từ thân phụ, qua những sáng tác đăng tải trên các tạp chí như Văn, Hợp Lưu, Thế Kỷ 21… Ông ra mắt tuyển tập thơ và văn Khói Hồ Bay (Thạch Ngữ, 2012). Ông mở đầu một bài hồi ký về cha mình bằng một cái chết: “Chết là giải thoát một đời. Chết là đầu bên kia của sợi dây ngày tháng. Một sớm kia, một tối nào. Tôi hay anh, cũng thế. Bên kia cái chết là nội cỏ ngàn cây hoa mộng hay bên kia cái chết là thảng thốt khổ đau. Tôi đã nhìn thấy nhiều cái chết, nhiều khuôn mặt chết. Quá nhiều. Nhưng không bao giờ, mãi mãi, tôi có thể hình dung được một cái chết, một khuôn mặt chết thân yêu nhất và buồn bã nhất của đời tôi. Cái chết của cha tôi, Thạch Lam” (Khói Hồ Bay – Thạch Lam, cha tôi trong trí tưởng). Sách ngoài thơ ra là ba hồi ký, ba tùy bút và một truyện ngắn: Thạch Lam-Cha Tôi Trong Trí Tưởng, Mộ Bia, Biển Trầm, Những Ngày Lạnh Rớt, Mưa, Thành Phố, Buổi Chiều Đi Chơi Với Thạch Lam.
Ngọc Cường (Nguyễn Tường Cường), sau thời gian tù “cải tạo”, định cư ở Ohio, HK, đã xuất-bản Bèo Giạt (2014), Hệ Lụy (2016), Bâng Khuâng (2016) và Ba Chị Em (2020).
Đỗ Tiến Đức tiếp tục sáng-tác và xuất bản tập truyện ngắn Tiếng Xưa (2000),tập truyện kể Những Chuyện Rất Việt-Nam (Thời Luận, 2006), Bên Em Là Bóng Tối (2008)và truyện dài Tháng Tư 1975 (2007)–ghi lại những ngày cuối cùng của miền Nam và Sài Gòn, chuyện tình yêu và tình người của những người lính VNCH, khởi đầu từ những trang nhật ký của trung tá Phan Trần Lê của quân lực VNCH, người đã trải qua những ngày thơ ấu ở miền Bắc, di cư vào Nam và trưởng thành ở xã hội miền Nam, bị tù “cải tạo” cay đắng trong trại tù gặp lại người con của cuộc hôn nhân trước khi di cư năm 1954 nay là người quản giáo.
*
Thời này tiếp tục có những tác-giả đi xa, trở lùi thời gian, con đường truyện và tiểu-thuyết lịch-sử, như Trần Vũ trong “Giáo sĩ”, truyện viết dựa một phần lịch sử (2002),…
Những nhà văn vẫn viết mạnh vào giai đoạn “lão hoá” của văn học hải ngoại, có thể ghi nhận Hồ Trường An với các truyện dài Hiền Như Nắng Mới (Văn Khoa, CA 2001), Chiếc Quạt Tôn Nữ (Tân Văn, 2002), Màn nhung đã khép (Tân Văn 2003), Đàn trăng quạt bướm (Làng Văn, 2005), Trở Lại Bến Thùy Dương (Làng Văn 2009), các tập truyện Tập Truyện Ma (Tân Văn, 2001), Quà Ngon Đất Quê Nam (Tân Văn 2003), Trăng Xanh Bên Trời Huế (Làng Văn, 2009), Truyền Kỳ Trên Quê Nam (Làng Văn, 2009) và hai tập thơ dung dị Thiên Đường Tìm Lại (Nhận Thức, 2002) và Vườn Cau Quê Ngoại (Cỏ Thơm, 2003).
Nguyễn Ngọc Ngạn với những chuyện đời thường của cộng đồng và người Việt mới cũ (Dòng Mực Cũ – Tú Quỳnh 2004, Hồng Nhan, Việt Kiều,…), in Tuyển Tập Nguyễn Ngọc Ngạn “những truyện ngắn tiêu biểu 1980-2002” (gồm 20 truyện; Sơn Tây, 2002) và Kỷ Niệm Sân Khấu (Thúy Nga, 2010) – ký ức, kỷ niệm kèm theo những giảng giải từ sưu chép.
Hoàng Khởi Phong thêm tập truyện Quán Ven Sông (Thời Văn, 2001) và Đất và Người (Tự Lực, 2012) tập hợp 24 truyện ngắn và tùy bút mang tính tự-thuật cũng như chân dung văn-nghệ sĩ và sinh hoạt văn-học nghệ-thuật ở hải-ngoại cùng trong nước. Đất tức những không-gian địa lý, nơi chốn cũ, mới, mà cũng là không-gian nội-dung của vài tác-phẩm đã xuất-bản. Người tức những Phạm Thị Hoài (talawas), Ngô Thế Vinh, Luân Hoán, Nguyễn Ngọc Tư, Hà Sĩ Phu, Tô Hoài, Lê Thương, «Hổ Xám» Phạm Châu Tài, Nguyễn Quang Tuyến, v.v. Rải rác đó đây họ Hoàng đưa ra những nhận xét, hoài nghi và hy vọng về một số sự việc hãy đầy tồn nghi hoặc bất ngờ,…
Ngô Nguyên Dũng Hòn Cồng Lửa (Văn Mới, 2002), Ngôn Ngữ Tuyết (Quyên Book, 2006), Đêm và Những Truyện Ngắn Khác (Nhân Ảnh, 2022) và các truyện dài Khung Cửa Nắng (Văn Học, 2000), Núi Đoạn Sông Lìa (Nhân Ảnh, 2017), thi tuyển Thơ (Nhân Ảnh, 2020), cũng như tác giả Đức ngữ các tập truyện Die Insel der Feuerkrabben (POP-Verlag, 2011) và tiểu thuyết Tausend Jahre im Augenblick (POP-Verlag, 2019).
Hoàng Chính tiếp tục xuất bản các tập truyện ngắn Viết Cho Mẹ Ở Quê Nhà(Văn Mới, 2005), Tình ở Đài Bắc(2007),Một đoạn trong Thánh Kinh (2007), Đêm, từng mảnh (2010) và các truyện dài Thư Tình Viết Muộn (2007), Trừ tựa đầu, các sách khác đều do NXB Nhân Ảnh ở Toronto rồi San Jose CA xuất bản.
Hồ Đình Nghiêm tiếp nối thể truyện ngắn với tập Mùi Hương Trên Đồi (Văn Mới, 2005).
Đặng Kim Côn (1948, Phú Yên – ), đã xuất bản tập truyện Một Ngày, Một Ngàn Ngày và các tập thơ Để Trăng Khuya Kịp Rót Đầy Sớm Mai và Dưới Trời Dạ Ngọc (thơ lục bát) đều do Thư Ấn Quán in cùng năm 2011 [và tập thơ Năm Lăm Năm Làm Thơ Yêu Em (Nhân Ảnh, 2023)]. Nguyễn Lệ Uyên đã nhận xét vềDưới Trời Dạ Ngọc như là “bi khúc của kẻ lưu đày” vì theo ông với ĐKC,“thơ không còn là ẩn ngữ. Nó là cuộc tình khơi vơi, vắt chéo ánh trăng trải vàng tấm thảm trong lầu các nguy nga những rạo rực, say đắm, những khắc khoải chờ mong. Nó vừa lướt qua và quấn quít, trói chặt hồn người, đắm chìm vào cõi mộng, chen lẫn giữa hư và thực; giữa cuộc đọa đày và hương hoa quỳ thoang thoảng bên ngoài song sắt. Đó là những tâm tình nối dài giữa hai thế giới: Trong và Ngoài. Nó hiển hiện như những vì sao cô độc trong màn trời đêm khuya khoắt, lạnh ngắt “hơi đồng”, buốt giá trái tim thoi thóp. Tất cả đều hiển lộ ra bên ngoài, từ dòng sông Trăng Bàn Thạch đến ngọn núi Chóp Chài cô đơn bên rìa cuộc lữ. Dưới Trời Dạ Ngọc không chia khúc đoạn, mà là 860 ánh trăng đêm vàng trải khắp chốn nhân gian với những dằn xé tâm cảm đoạn trường: Hai đứa con thơ, tù đày, bàn tay ấp ấm nồng nàn che đỡ của Dạ Ngọc. Mối tình như khúc Ly Tao, như tiếng chim Thư Cưu vang vọng từ đâu đó, xa lắc trong màn đêm. “Tâm tình đã thổ lộ thì cuộc giao tình thắm” (Tựa, tr. 6).
Trích thơ, bài Trên Đỉnh Mê Xưa:
“Trời đất thấy ta ngồi trên núi không?
Ngồi với trái tim một kiếp bềnh bồng
Như trăng đỉnh đồi trông mây gió
Tưới sợi tơ vàng khắp cùng núi sông.
Trời đất thấy ta ngồi trên núi không?
Hát với muông chim những sớm mai hồng
‹âu chút hào quang những vì sao muộn
Hiu hắt nỗi lòng về đời mênh mông.
Những sớm sương giăng những chiều mây dựng
Ta vẫn còn đây hay ở đâu rồi
Cho ta tìm ta trong từng chiếc bóng
Giữa những nhập nhàng nhật nguyệt đầy vơi.
Trời đất thấy ta ngồi trên núi không?
Trái tim như mây chợt sáng vô cùng
Để soi thấy ta ngùi từng lệ nóng
Bay ngút ngàn qua muôn lối mù không” (ĐTKKRĐSM, tr. 9).
Ngô Sỹ Hân (1945, Long An – ), cựu sĩ quan QL/VNCH. Thời hải ngoại, chủ biên tạp chí Quê Hương Hải Ngoại từ 1998 và năm 2003 đã xuất bản các tập truyện Một Góc Quê Nhà (QHHN, 2003; tb 2024), Tiếng Quê Hương (Troy MI: Quê Hương Hải Ngoại, 2003; Nhân Ảnh, tb 2024) và Lá Mùa Thu (2008).
Tác giả tâm sự ở Lời Cuối Truyện của Một Góc Quê Nhà: “Qua tác phẩm này, độc giả đã có dịp sống với gia đình một nông dân tiêu biểu vào thập niên 60 mong mỏi “kách mệnh” thành công đến mức nào, và rồi sau ngày “giải phóng”, nếu độc giả chưa từng biết “kách mệnh”, cũng được dịp tự nguyện theo anh em quân cán chính miền Nam đi tập trung, nơi mà từ một góc nhìn nào đó, độc giả được xem một phần sinh hoạt của anh em gọi là cải tạo trong những trại tù cộng sản rải rác khắp mọi miền đất nước… Một góc quê nhà thu hẹp, sau hơn hai mươi năm, hình như vẫn còn làm cho nhiều người Việt lưu vong uất nghẹn … tác giả hy vọng rằng sau khi đọc xong và nhắm mắt lại, ít nhất độc giả cũng tự nhiên cảm thấy một nỗi buồn man mát không tên, mong xoay trái đất ngược vòng để làm lại từ đầu, thậm chí có khi muốn nổi loạn mà lực bất tòng tâm… ” (tr. 221, 222)
Từ năm 2023, ông ra tiếp các tập truyện Lòng Biển (2023), Chuyện Vợ Chồng (Nhân Ảnh, 2025) và tập thơ Mây Nhớ Thu Vàng (2023) chung với Hà Linh Bảo.
Vũ Hoàng Thư (Võ Anh Tuấn, 1949, Huế – )cộng tác với các tạp chí Quê Mẹ, Văn Học, Khởi Hành và trang mạng Gió O, chủ biên trang Văn Nghệ Biển Khơi từ 1999 và đã xuất bản tản mạn Bắt Nắng (Paris: Quê Mẹ, 2009). Trích Bắt Nắng:
“lẳng giò hoa / em cười lúm
mùa nắng
Nắng vỡ xuống chòm lá trải vàng một màu xoài chín lịm. Chất ngất mật ngọt hạ. Say nồng nung bốc không gian thành một màu trắng lập lòa thị giác. Bây giờ trắng là kết tinh quang phổ, của những xanh hy vọng biển khơi khấp khởi, những tím chiều đợi chờ hoàng hôn, và của vàng rực rỡ lên dòng sông cuối ngày. Rồi sông trôi đi mang theo thơ dại hồng hoang. Lung linh trắng của hoa nắng vẽ bâng quơ dưới hàng cây theo âm điệu kèn nghẹn vút cao rồi trầm đục. Tiếng kèn lùa ngập không gian xới vòng luống nhớ. Nhạc sĩ gọi nắng về pha lên áo, cho áo thôi là áo, cho người con gái loãng tan vào nắng. Đâu là nắng, đâu là áo ? Chỉ còn một niệm tình trên vùng lân hư bay về vòng gáy trắng.
Tôi đứng đó một ngày tháng sáu nhớ về một ngày tháng sáu nắng đứng ở quê nhà. Nắng đứng vì mặt trời chiếu thẳng vào đỉnh đầu, không chếch, mười hướng nắng chang, mọi sự như ngừng. Khi đó ta gọi là ngọ, còn gọi là trùng bóng vì người và bóng nhập làm một giữa trưa. Tuổi nhỏ mẹ cấm đi chơi giờ ngọ vì giờ đó người đi sẽ không có bóng giống như ma quỷ, chúng sẽ tưởng là đồng loại và hớp lấy thần hồn. Thì ra thế, người khác ma quỷ ở một chiếc bóng. Có ai ngờ với chiếc bóng con người còn ranh mãnh hơn cả quỷ ma. Người ôm lấy cái bóng mình, mặc cho nó những chiếc áo giống như mình đang mặc. Chiếc áo lãnh tụ, chiếc áo khoa bảng, chiếc áo tu hành, đôi khi chỉ là những chiếc áo thuê, chiếc áo đóng tuồng. Dầu những chiếc áo rách nát tả tơi theo luật đào thải của thời gian nhưng cái bóng vẫn bám lấy áo xưa. Người và bóng say sưa sống trong vai tuồng quá khứ đã mất, khó biết được đâu là người, đâu là bóng. Như thế hàng ngày họ lên đồng, quên mất vào giờ ngọ họ sẽ đi đứng múa may quay cuồng như những con ma thiếu bóng.
người nhìn xuống / bóng bỏ đi
giờ ngọ
Hãy gọi nắng về để xóa hết những bóng ma, cho người con gái loãng tan vào nắng. Nàng sẽ vẽ màu lên thành quách đen đúa của hoàng thành. Phía đó Thành Nội nung nóng trên bờ tường rêu. Hồ sen đứng gió mặt phẳng lì. Trong im ắng nhiệt đới, những nụ sen non vừa nhú, mơn mởn hồng. Từ rong rêu buồn bã, sen chồi lên hít thở lấy không gian xanh ở trên. Nhớ một nụ hoa đưa lên và nụ cười chạy dài suốt mười phương thế giới – niêm hoa vi tiếu. Sen đẹp như bóng ngồi thiền định. Một phương thế tự tại mà từ ngàn xưa lối ngồi kiết già bắt nguồn từ hình ảnh một nụ sen, padmasana, đã được Phật giáo áp dụng trong khi tham thiền nhập định. Từ dáng ngồi ấy, trí tuệ đứng dậy đi vào đời bằng những bước thong dong vô trú. Như sen. Mùa nước khô hay mưa ngập nước, sen sống thích nghi theo triều lên xuống của mặt nước mà không mất rể. Chính nơi vô trú, tự do tuyệt đối mới thể hiện, bởi tự do chỉ xuất phát từ sự tự vượt thoát khỏi mọi kiềm tỏa của chính mình. Cứ thế sen nở và thả hương bay từ tốn. Như nhiên trong cái đương-là. Lâng lâng hương, có ai chịu khó dừng chân ướm lấy vào lòng? Một ngày nắng tháng sáu bên hoàng thành ở Huế, sen kể tôi nghe về nhất thể trong hàm hỗn nhị nguyên.
trong gió đưa
hương sen nở / tịnh tâm
Không có phượng sẽ không có hè và lớp học. Hối hả chạy ùa khỏi cổng trường giờ tan lớp, tuổi thơ đi bắt nắng. Bắt cánh chuồn chuồn và bắt thinh không khi chuồn chuồn lách cánh bay đi. Bàn tay nhỏ dại ôm đầy vũng nắng. Vốc nắng vào tóc nuôi lãng mạn lớn. Bỏ lại ngôi trường, bỏ lại những con đường cũ. Còn hay mất, đời là cuộc bắt nắng dài. Một vài điểm mốc cho ta ngừng lại ngắm nhớ. Nhớ ngút trong ngày ắp nắng nghe Huế tỉ tê trên hàng phượng đỏ ngập góc phố. Liên tưởng đến hàng phượng tím Jacaranda thơm ngát mùa hè cách nơi này một nửa vòng trái đất. Jacaranda có dần dà thay thế được phượng đỏ trong lòng người lưu vong? Tiếc nuối hay không tiếc nuối về một sắc màu đã không tìm lại được muôn đời vẫn là câu hỏi không có câu trả lời.
tím thẳm Jacaranda
lao lung nhớ / mùa phượng
Tôi bước trên đường Trần Hưng Đạo, con phố chính của Huế tuổi thơ ngày nào nhìn lính hiến binh Pháp đầu đội kê-pi chạy xe mô tô có rờ mọt ở một bên. Cả khu phố đóng vội cửa khi bọn lính lê dương rạch mặt say rượu nghiêng ngửa mang giày bốt-đờ-xô, đế có đinh, dộng lộp cộp trên mặt đường. Từ cửa hàng ở phố nhìn ra, sông Hương mang hai màu dưới mắt tôi lúc đó, xanh mát mùa hè và đục vàng tháng mưa lụt lội. Rồi xa Huế lúc quá nhỏ, chẳng còn nhớ gì nhiều. Chiến tranh đưa đẩy mang tôi về lại Huế trong vài lần ngắn ngủi nghỉ phép từ nơi đóng quân gần Huế. Những cuộc đưa đẩy, như chuyện chiến tranh, như chuyện chém giết. Thản nhiên và tàn nhẫn. Huế sót lại trong ký ức thời đó là những chiều mưa buồn thâm thiết. Mưa thối đất, thối đai và không kém phần thối ruột. Mấy chục năm sau, Hương giang xanh trong ngày nắng đem tôi về những rung động li ti xưa cũ. Dòng sông như tấm gương chao động vẽ vòng sáng lên má lên môi loáng thoáng ngày nào, hắt vào vũng mắt một hồ quang. Ánh mắt lấp lánh thủy tinh trong suốt khung trời. Bây giờ sông trôi thầm thì lời Heraclitus, trôi thật xa, mất khuất như cánh chuồn vụt khỏi vòng tay. Tôi đứng đó như cậu bé mấy mươi năm trước, bắt nắng trong một ngày mùa tháng sáu ở quê nhà. Vẫn vũng nắng đọng vào lòng bàn tay, vàng thơm như hoàng lan, nhìn lại bây giờ có ngón đã nhăn. Như thế trong nắng.
Có mây trôi.
tay thập thò
cánh chuồn bay / bắt nắng (Thơ 8-chữ Vũ Hoàng Thư)”- Hạ 2008
Trần Trị Chi sau tập truyện ngắn Gia Phả (2003) là những chuyện tình thời chiến, có truyện dài Cải Ngồng Non (San Jose CA: Tạp-chí Văn, 2008) đưa kịch vào thế giới tiểu-thuyết và cái hiện tại được tác-giả đào sâu từ quá-khứ và nhắm tới ngày sau và tương lai của người Việt.
Hoài Ziang Duy sau Ông Tướng Sang Sông (1999) là tập truyện Bốn Ngàn Năm Chen Lấn (Thư Ấn Quán, 2010).
Nguyễn Âu Hồng tác giảhai tập truyện ngắn Lá Daffodil Thắt Bím (Thư Ấn Quán, 2014) và Lộc Trời (31 truyện ngắn; Sống, 2015)
Trong khi đó An Phú Vang xuất-bản tập truyện đầu tay, Tiểu Triệu Minh (Quyên Books, 2005) gồm 20 truyện mà phần lớn đã xuất hiện trên các tạp-chí từ nhiều năm trước đó. Ngòi bút vừa trẻ trung, nhí nhỏm, vừa chứng tỏ bề sâu tâm thức không giản đơn. Tiểu Triệu Minh cũng là truyện tiêu biểu của An Phú Vang, một bút hiệu khác của nhà thơ Nguyễn Nam An.
Cao Vị Khanh giáo chức, cựu sĩ quan QL/VNCH viết văn từ trước 1975 nhưng sau 2000 ông mới liên tục xuất hiện trên các tạp chí ở ngoài nước, có thời đồng chủ biên với Trần Hoài Thư và Phạm Văn Nhàn tờ Thư Quán Bản Thảo từ tháng 10-2001. Ông đã xuất bản Lệ Từ Nét Ngang (South Boundbrook NJ: TAQ, 2001), một tuyển tập thơ văn trong đó đáng kể là hai bài hành Khúc Đoạn Trường và Bài Hành Mười Năm. Cao Vị Khanh còn là cây bút ký đặc biệt chan chứa tình cảm, bằng chứng là truyện vừa Nghề Thầy (Thư Ấn Quán, 2005) với tiểu tựa ‘văn vui’, một bút ký ngắn về số trang nhưng trãi dài về tâm tình, một hồi ức về thời-gian học sư phạm và làm nghề gõ đầu trẻ với nhiều kỷ niệm đẹp đáng nhớ ở Rạch Giá.
Tràm Cà Mau đã xuất bản Triết Lý Củ Khoai (truyện và phiếm, Văn Học, 2003), các tập truyện Rong Chơi Ngày Tháng (2005), Hương Tóc Cố Nhân (2008),vàVợ (16 truyện, 2012). Dù tác-giả xác nhận và tái xác định viết mà chơi, cuộc đời là một cuộc rong chơi, nhưng các truyện của ông toát lên cái khao khát kiếm tìm hạnh-phúc và chân-lý trong những tình huống đáng ra phải thế này thế kia, từ khi còn trong nước cho đến khi làm thuyền nhân và tị nạn ở xứ người! Các truyện ngắn của ông đặc-biệt thành công khi viết về tuổi già. Khởi viết từ phiếm, về sau các truyện đôi khi bàng bạc pha tính phiếm trong những nhìn đời và quan sát người.
Lê Thiệp với Đỗ Lệnh Dũng (Tủ Sách Tiếng Quê Hương, 2007) đưa người đọc trở lại chiến trường xưa, từ cuộc đời của một trung úy quân lực Việt-Nam Cộng-Hòa, rồi đến Lững Thững Giữa Đời (2011) gồm 23 bài ký sự về nhân-vật và sinh hoạt báo-chí ở miền Nam trước 1975 cũng như ở hải-ngoại. Ông còn có tập bút ký những ngày còn ở quê nhà và 37 đoản văn về đời-sống mới trong Chân Ướt Chân Ráo (Tiếng Quê Hương, 2013).
Nguyễn Chí Kham đã đưa hành trình sống và kinh quacủa chính mìnhvào các tập tiểu-thuyết Thành Phố Tuổi Trẻ (Việt An, 2004) và Nắng Hồng Phương Nam (Tuổi Xanh, 2003-) sau hai tập truyện ngắn Trăng Ơi, Thơ Ấu Mãi (Tân Thư, 1998) và Chuyến Tàu Ngày Mai (Việt An, 2007) trước đó. Gần đây, ông xuất bản tập truyện dài Hình Bóng Con Tàu (2 tập 1.160 tr.; Việt An, 2015).
Nắng Hồng Phương Nam dài 1050 trang về cuộc đời và hành trình trí thức của một số nhân-vật trên nhiều vùng miền của đất nước Việt-Nam sau biến cố 30-4-1975 và sau khi trở về phương Nam từ các trại gọi là “cải tạo”. Đoạn cuối, nhân vật Nguyện hài lòng được gặp lại người tình đã tiết lộ kết thúc cuốn tiểu thuyết ở đây, Hà-Nội, thay vì cho … qua Mỹ định cư!
Thành Phố Tuổi Trẻ chủ yếu là Huế, nơi đã xảy ra những chuyện đời và chuyện tình của các nhân vật: Liên Chi – cô giáo người Huế, Nguyên – người lính đào hoa, Vĩnh – nhà văn cầm súng bạn của Nguyên, cũng từng rung động vì cô giáo nhưng rồi lấy vợ – Ngọc Hân. 745 trang với nhiều sự kiện và tâm trạng các nhân vật cũng như của tác giả như cùng sống, cùng tâm cảm và phản ứng của các “bạn” nhân vật. Tình yêu ở đây dài lâu, rồi thất vọng, hờn oán. Không đến với nhau được như vợ chồng thì yêu thầm, yêu mãi. Người nữ tâm điểm là Liên Chi, tình không thành với Nguyên vì có lý do. Nguyên lấy Phương, đi tù “cải tạo” về, sang Mỹ định cư nhưng 10 năm sau vẫn trở về, tìm đến nàng, ngỏ lại tình … muôn thuở – “em là của anh, những hình bóng của bao nhiêu người tình khác chỉ là những con đường” (tr. 721). Được nàng tặng Ngày Tháng Tuổi Trẻ, cuốn sách nàng đã viết suốt mùa Hè. Vĩnh cũng yêu Liên Chi, luôn cảm thấy cô đơn dù suốt đời sống yên hàn bên Ngọc Hân, người biết chuyện: “Tình yêu là một thứ tuổi trẻ, nó luôn làm bạn nhớ đến một thành phố thân thương” (tr. 726) và lại nghĩ Nguyên cũng yêu thích nàng. Cuốn nhật ký của Liên Chi được Nguyên đưa sang Mỹ và được nhà Văn Mới xuất bản, khi nhận được, nàng nhận ra “chỉ có một số ít người tìm được hạnh phúc của mình trong văn chương” (tr. 745).
Tập Chuyến Tàu Ngày Mai thì nhà văn Thảo Trường nhận xét trong lời Tựa: “… Tác phẩm của Nguyễn Chí Kham đều chứa đựng cuộc sống thời đại của ông, từ quê nhà sang tới cuộc sống nơi quê người. Những nhân vật chúng ta bắt gặp đây đó, ở sở làm, ở khu cư xá, ở phố phường đèn xanh đèn đỏ, ở siêu thị, trên xa lộ… và ngay cả những nhân vật xa xưa nơi quê nhà, thành phố Quảng trị cũ… cũng đều xuất hiện một cách rất rất gần gũi với người đọc qua bút pháp tài tình và chân thật của nhà văn Nguyễn Chí Kham.
Mới đây Nguyễn Chí Kham còn đưa cho tôi đọc tập bản thảo “Chuyến Tàu Ngày Mai” mới viết gồm 7 truyện ngắn, tôi lại thấy ở đây một phong cách khác hẳn với những bố cục trong truyện dài. Ở những truyện ngắn này Nguyễn Chí Kham đã xây dựng nên những câu chuyện rất gọn, giản dị nhưng cũng rất bất ngờ và lạ lùng. Điều này chứng tỏ sự đa dạng trong khả năng sáng tác của tác giả…”.
Nguyễn Trung Dũng có Vết Đạn Thù (2004), ghi là truyện dài nhưng thực ra là những chuyện ngắn về các nhân-vật và biến cốtừ Tết Mậu Thân đến tháng Tư 1975, mỗi chương đánh số riêng, cái nối liền nhau là chiến-tranh và đất nước Việt-Nam từ Mậu Thân 1968 đến ngày 30-4-1975; kế là Thù Nước Chưa Xong Đầu Đã Bạc (San Jose CA: Văn, 2005) tiếp nối những câu chuyện của Vết Đạn Thù. Ngoài ra ông còn có tập thơ Cúc Vàng (Thư Ấn Quán, 2010?).
Hà Phương Hoài (Nguyễn Đức Trọng, 1940-, Thừa Thiên) sưu tầm và giới thiệu Nam Quan Thương Hận (2002) các bài viết về những việc cộng-sản Hà-Nội bán đứng đất tổ, sự kiện và phản ứng, … Ngoài tuyển thơ Tơ Vò (1992), Cơ Trời Vận Nước (2001) là tác-phẩm đầu tay, một truyện dài dã sử về những người con đất Thần-kinh bên cạnh chuỗi lịch-sử từ 1945 đến 1975. Trong Lời nói đầu, tác-giả cho biết: “Ý truyện mà chúng tôi đưa ra nói lên quan niệm lấy “Nhẫn” làm châm ngôn để sống. Nhân vật chính đã chịu ôm chữ nhẫn để bảo vệ một dữ kiện lịch sử mà ông ta cho rằng đầy chính nghĩa, hơn thế nữa là giữ được trọn vẹn lời di huấn của tiền nhân.
Chữ nhẫn thứ hai là giữ nhẫn vì khiêm tốn. Con người sinh sự với nhau chỉ vì hơn nhau một chút tăm tiếng hay lợi lộc. Người trong truyện dù có tài năng quán thế nhưng vẫn chịu nhiều thiệt thòi.
Chữ nhẫn cuối cùng là chủ điểm của “Vô Lực Thần Công”. Đã gọi là Thần công thì ta hiểu ngay người luyện tập được công phu nầy sẽ có một lực phi thường. Sự thật thì người luyện công phu Vô Lực Thần Công nầy phải đạt được cảnh giới Thần Công Không Còn Lực Nữa. Nói ra có vẻ không thực. Nhưng xét trong lịch sử 5000 năm lập quốc, ông cha chúng ta nhờ đã hàm xúc môn Vô lực thần công đến mức thượng thừa vậy. Nếu không thì làm sao cõi bờ Đại Việt vẫn mãi tồn tại dù ở sát nách anh đại khổng lồ Trung Hoa, không bao giờ chán đi xâm lấn bờ cõi của các nước láng giềng, ngay cả thời nay vẫn còn như trường hợp chiếm Trường Sa, Tây sa và Tây Tạng. Nếu nói Vô Lực Thần Công trong khía cạnh tôn giáo thì chắc chắn những điểm luận bàn sẽ nhiều hơn.
Chuyện của hôm qua còn đó. Chuyện của ngày mai thì ta hầu như bất lực. Cái gì còn lại và cái gì bảo đảm cho tương lai khó thoát khỏi cái giá trị của giòng họ, của cái đình và lũy tre làng. Khi mà giá trị của giòng họ, nói xa hơn, là của dân tộc, bị xâm phạm hay bị tước đoạt thì cái mõ âm vang khắp lũy tre làng sẽ đưa con người đến sân đình làng, thì ở đó lòng sắt đá quyết chiến vang trời của một Hội Nghị Diên Hồng sẽ còn mãi mãi” (tr. vii-viii).
Thanh Thương Hoàng còn có các tập truyện ngắn Ông Tướng Tị Nạn (2005), Những Nỗi Đau Đời (Thằng Mõ, 2001), Cõi Đời Cõi Người (16 truyện ngắn; Ngọc Huyên & Quốc Oai, tái-bản 2011) [và Tuyển Truyện Thanh Thương Hoàng (Quốc Oai, 2022)]. Truyện và bút ký viết về những con người và mảnh đời khốn khó, nghiệt ngã, hệ lụy của người ‘thua trận’, tị nạn Cộng-sản và gia đình, người thân ở xã-hội miền Nam sau 1975 và phần tiếp ở ngoài nước.
Ngự Thuyết ra Dấu Chân 2 (Văn, 2005) gồm truyện ngắn và du ký, tiểu luận, truyện dài “Lưu Đày Và Quê Nhà” (Văn Mới, 2002) và Tuyển Tập Ngự Thuyết (Văn Mới, 2009).
Trần Sĩ Lâm tiếp tục với Phù Du (Hương Văn, 2007) gồm 17 truyện ngắn và một số thơ.
Huy Vũ (Vũ Huy Thám, 1935, Phú Thọ – ) “boat people” đến Hoa-Kỳ năm 1987, đã tuyển chọn truyện và bút ký và đã đăng báo, in Quê Hương Niềm Đau Và Nỗi Nhớ (2010).
Hoàng Đình Báu (1936 -) viết từ khi ra hải-ngoại và đã xuất bản: Mẹ và Quê Hương (1999), Đêm Đen Quỷ Đỏ (2001), Dĩ Vãng Khó Quên (2002, truyện dài về cuộc di tản và đời-sống mới hội nhập của một phụ nữ), Bước Chân Bên Họng Súng (chung với Bùi Ngọc, 2003), Biển Vẫn Rạt Rào (2004, in chung với Minh Triệu, Hoàng Sa, Tạ Thạc, Bùi Ngọc), Còn Nợ (2005), Đi Hết Một Dòng Sông (2007) và Dốc Biển (2009)
Trọng Đạt đóng góp sinh hoạt văn-hóa hải-ngoại với “tiểu-thuyết lịch-sử” Sài-Gòn Thất Thủ (Tiếng Việt, 2006), truyện dài Đất Hứa (Người Việt Dallas, 2008) và đoản thiên Nước Mắt (Người Việt Dallas, 2010) sau tập truyện Tô Thị Vọng Phu (Hoài Bão, 2003) và các khảo luận Những Tác Phẩm Cuối Cùng của Nhất Linh (Đại Nam, 2006) và Những Truyện Hay của Tự Lực Văn Đoàn (Đại Nam, 2006).
Trần Yên Hoà sau 1975, đi tù “cải tạo”, định cư tại Nam California từ 1995. Sáng tác đăng trên các tạp chí văn học cùng chủ trương trang mạng Bạn Văn Nghệ. Tác-phẩm: các tuyển thơ Khan Cổ Gọi Tình, Về (2001), Uyên Ương – Phượng Hề Và Khát Vọng (2009), các tập truyện Những Chuyến Mưa Qua (2001), Áo Gấm Về Làng (2004), Net Em (2009) và các truyện dài Mẫu Hệ (2004), [Bi Kịch Bản (2020)]. Các truyện hồi tưởng những thời trước cũng như đang hiện thực ở nước ngoài, các truyện ngắn trong Những Chuyến Mưa Qua lấy bối cảnh thời kháng chiến chống Pháp.
Ngô Viết Trọng tung một loạt tiểu-thuyết lịch-sử Lý Trần Tình Hận (2001), Công Nữ Ngọc Vạn (2004), Dương Vân Nga: Non Cao & Vực Thẳm (2005), truyện dài xã-hội Thăm Thẳm Trời Xanh (Thanh Thủy, 2007), và 2 tập truyện ngắn Vết Hằn Mùa Xuân (2001), Ngõ Tím (2003),…
Hoàng Ngọc Hiển (1942, Hà Nam – 27-12-2014) giáo sư tại Côn Sơn, sau 1975 hoạt động chính trị, bị tù 14 năm, đến năm 1995 định cư tại Nam California. Ông chính là tác giả “Quốc Lộ Mười Ba” đã đăng trên các tạp chí Văn và Khởi Hành trong vụ Giải truyện dài của Trung tâm Văn bút năm 1974. Tại hải ngoại, ông đã xuất bản các tập truyện Tình Yêu và Thù Hận (TGXB, 1998); Em Có Về Cồn Phượng? (Paris: Hương Cau, 2013), truyện dài Lửa “Kim Tinh Muội”; (TGXB, 2014) và Cuộc Hành Trình Thỉnh Kinh – Đọc “Tây Du Ký” (TGXB, 2014); Đọc 12 Tác Phẩm Việt Nam (Thư Ấn Quán, 2014). Ông có những truyện lịch sử / dã sử đặc biệt về thời nhà Nguyễn và chiến tranh Việt Nam. Trích đoạn mở đầu truyện Ngã Ba Rừng Cần Lê trong tập Em Có Về Cồn Phượng?: “Ở một chỗ trong cánh rừng cao su mênh mông, có một ngã ba giao lộ. Không xa Quốc Lộ Mười Ba và cầu Cần Lê bao nhiêu, hai ông cháu đang chụm lửa nướng cá. Ông lão đã ngoài bẩy mươi tuổi, râu tóc bạc phơ, nhưng vẫn cường tráng, mắt sáng quắc, chợt ngừng tay, nhìn bóng nắng đổ trên con đường đất đỏ, bảo cháu:
“Bây giờ mới khoảng giờ mùi, nắng còn lớn, cứ thong thả, cháu”.
Cậu thiếu niên mười bẩy tuổi ngước nhìn ông:
“Ông bảo về sớm, để nghỉ ở đây, chứ không phải để về nhà sao ông ?”.
“Nghỉ ở đây cháu . Bữa nay, mình câu được nhiều cá rồi! Mấy con cá này béo lắm đấy! Cháu nhìn , mỡ chảy xuống đống lửa, xèo xèo! Bớt lửa lại, cời than ra, cháu”.…
Ông lão từng là một Trung úy Đại Đội Phó trấn giữ Ngã Ba này:“… Ông lão không trả lời, chỉ ậm ừ, rồi nhắm mắt lại. Ông cũng muốn ngủ một giấc ngắn, nhưng làm sao ông ngủ được, bởi trong đầu ông vướng vất với cái ngày đặc biệt: Hôm nay 30 tháng Tư 2005. Đúng ba mươi năm rồi! Đã ba mươi năm ! Ngày ấy, đại đội 399 trấn đóng đồn Cần Lê, mà ông lão lúc ấy là Trung úy Đại Đội Phó. Đêm 29 rạng ngày 30 tháng Tư năm ấy, trong căn hầm của Bộ Chỉ Huy Đại Đội 399, có sự hiện diện của sáu sĩ quan: Đại Đội Trưởng, Đại Đội Phó, bốn Trung Đội Trưởng, một Hạ sĩ quan truyền tin giữ máy PRC.25, và một Hạ sĩ quan cận vệ đại đội trưởng. Họ đã chờ đợi một trận tử chiến với Cộng quân như thế nào, vẫn còn ám ảnh ông như một nỗi chết không rời! Ông lão ngồi nhổm dậy, thong chân chạm đất, lấy cái bọc da nhỏ trong túi áo rộng. Cái bọc da đã cũ mèm, nhưng trong đó là một ống vố hiệu dunhill, một gói thuốc, và một cái quẹt ga. Ông lão coi ống vố là tài sản đáng giá đáng quí nhất của ông. Gói thuốc hương vị champagne, hiệu Briar Patch do người anh cả ở thủ phủ 144 tiểu bang California thường gửi cho ông. Ông lão quí lắm. Giờ đây ông nhồi thuốc vào ống vố, bật quẹt châm hút. Hơi đầu dài, khói thở ra một làn bay theo gió nhẹ, ông nhìn theo làn khói, cảm như có men say thấm đẫm vào hồn…
Đối với ông, không còn gì quan trọng trong cuộc đời này nữa, chỉ có tẩu thuốc là còn một chút ý nghĩa cuối cùng nào đó mà thôi! Hút xong tẩu thuốc, ông bắt đầu kể câu chuyện của ông cho đứa cháu nội của ông nghe. Mười bẩy tuổi, nó đến tuổi hiểu được câu chuyện rồi !…”.
Lê Lạc Giao (Lê Tấn Hà; 1951- ) xuất bản hai tập truyệnMột Thời Điêu Linh (2013) và Nửa Vầng Trăng Ký Ức (Sống, 2015) – 14 truyện Lối Cũ, Ngày Ấy Bây Giờ, Gió Vẫn Thổi Trên Sông, Mặt Trời Buồn, Đường Gió Bụi, Còn Một Giấc Mơ, Mọi Nỗi Buồn Đều Riêng Tư. Theo giới thiệu: “3 truyện lấy bối cảnh ngoài nước. Hầu hết bối cảnh truyện là các ngôi làng và thị trấn vùng cát trắng Miền Trung VN, và rồi Sài Gòn… nơi đó, một số nhân vật chính trưởng thành với nắng gió và rồi bị xô vào một cuộc nội chiến…”.
Trần Đình Ngọc xuất bản tiếp tập truyện ngắn Tình Mẹ Con và hai tuyển thơ Sau Giờ Kinh Chiều và Nắng Quê Hương – cả ba in cùng năm 2009.
Nguyễn Quang, người bạn đời của nữ sĩ Minh Đức Hoài Trinh, đã xuất bản Nhập Gia (2007), Một Giấc Mơ (2013), truyện dài Thần Giao Cách Cảm (2017), Ôn Cố Tri Tân (2020), Phận Đàn Bà (2022).
Ông Giáo Làng, 2009 tả việc làm của một ông thầy giáo ở thôn quê miền Nam và diễn tả những tâm tình, cuộc sống đơn sơ, chất phác của người dân Sóc Trăng; Óc Mượn Hồn (2012) đặt câu chuyện trong các sinh hoạt của giới học sinh Saigon vào những thập niên 1950, và những du học sinh tại Paris, lời giới thiệu của Giáo Sư Tiến Sĩ Nguyễn Thanh Liêm, ông cho biết: “Tác phẩm Ốc Mượn Hồn của Nguyễn Quang gây nhiều thích thú cho người đọc, từ các thanh thiếu niên đến các bậc lão niên. Những sự việc kể lại ở đây là những việc rất thật của con người từ bản năng tình dục đến tình yêu thương mà văn hoá đã nâng lên khỏi đời sống thú vật. Tác giả đã dùng lối văn tiểu thuyết để ghi lại khá trung thực những cuộc gặp gỡ, vui chơi, những giờ phút hẹn hò tình tứ, những đêm khiêu vũ say sưa sau những ngày đêm chúi mũi học hành cho các kỳ thi gay go trong chương trình Pháp. Những bậc lão niên, những người của các thế hệ 1930-1940 sẽ tìm thấy ở đây thời thanh thiếu niên của mình… Với Ốc Mượn Hồn, Nguyễn Quang đã mô tả đủ hai phương diện tự nhiên bẩm sinh và văn hoá giáo dục trong con người thật ở đời.”
Lưu Thiên Lý ở Canada có những tiểu thuyết Gió Chướng, Cõi Mù Sương (Cánh Bèo Trôi, Đổi Đời).
Việt Dương Nhân có tập truyện ngắn Gió Xoay Chiều (Nam Á, 2001),…
Huỳnh Tâm Hoài có tập truyện ngắn Kẻ Đào Huyệt (TGXB, 2014) về đời quân ngũ, tù “học tập” và những cảnh đời bi thương sau ngày miền Nam đổi chủ.
Đỗ Quang Trình có Saigon to San Diego, một Thiên đường không hề có (‘hồi-ký của một cậu bé trốn thoát chế độ cộng-sản’; Garden Grove CA: Tuổi Hoa, 2005).
Đỗ Thông Minh (1950 – ) du học Nhật năm 1970, kiên trì cho một Việt-Nam dân-chủ, tự do, đã liên tục xuất-bản 20 tác-phẩm, từ 2008 các tập Con Đường Dân Chủ sau thành bộ sách “Con Đường Dân Chủ – Bản Án Chế Độ Cộng-Sản” ấn bản 2 năm 2015, gồm 14 cuốn, 7.448 trang, chung với cuốn “Thân Phận: Năm Điều Tâm Cảm – Mười Điều Tự Vấn” ấn bản 2, 552 trang, là các công trình biên soạn trong khoảng 12 năm, thu thập tóm gọn các tư tưởng chính của Đông – Tây, những biến cố xa gần, ảnh hưởng trực tiếp, gián tiếp tới chính-trị xã-hội và các chuyển đổi ở Việt-Nam; tái-bản cùng năm 2015 thành Thân Phận–Con Đường Dân Chủ, 15 cuốn, 8.000 trang.
Đặng Đình Túy qua truyện dài Đường Ta Đi (Giải Văn-học Hội Quốc Tế Y Sĩ VN Tự Do 2004) chuyện huynh đệ trở lại, nhất là sau khi nhật ký Đặng Thùy Trâm xuất hiện gây tranh luận, suy nghĩ. Trong truyện dài này, hai nhân-vật anh em họ tên Thanh (bộ đội phục viên, kẻ thắng) và Đạo (sĩ quan Lực lượng Đặc biệt ở miền Nam, người thua, bị đưa đi “cải tạo”) như hai khuôn mặt của con người Việt-Nam mà thân phận cùng sự sống đã bị điều khiển, đẩy đưa bởi những thế lực khác, ngoài, có thể bất nhân, nhưng là những thứ mà con dân cũng như dân-tộc chẳng được gì!
Đỗ Hùng có tập 5 truyện lịch-sử Mộng Bá Vương (Houston: Văn Hoá, 2001) và tập 6 truyện lịch-sử Phía Nam Hoành Sơn (2003). Truyện lịch sử của ông chủ yếu ghi chép, nhắc nhở hơn là đưa đến cho người thưởng ngoạn những khám phá hay phê phán.
Lê Hữu Cương năm 2001 tự xuất bản “tiểu thuyết tự truyện” Khúc Quành Định Mệnh viết về đời lính và cuối cùng sống ở xứ người “… Nào ngờ hạnh phúc nẩy mầm từ chốn đầm lầy bắt hạnh, là bĩ cực thái lai, là sau cơn mưa trời lại sáng, là ơn sủng nhiệm mầu của Thiên Chúa ban cho Cương…” (tr. 646).
Nhà báo Tạ Quang Khôi từng xuất-bản 4 tập tiểu-thuyết trước 1975. Ở hải-ngoại, ông có tập 15 truyện ngắn Tiếng Hát Trương Chi (Việt Hồng, 2002) và truyện dài Bến Mê. Ông viết truyện liêu trai (Đôi Mắt Người Tình Xưa,…), truyện ma, và truyện ngắn tình. Báo Oán có thể là truyện ngắn cuối cùng, viết khi ông 90 tuổi.
Tường Lam (Hồ Văn Ẩn, 1943, Bến Tre – ) đã xuất bản các tập truyện ngắn Tám Hổ (2006), Đêm Lạc Đạo (2007), Một Đám Cháy Rừng (2008).
Nguyễn Hoàng Ngôn, một cây bút mới ở Arizona có tập 6 truyện ngắn đầu tay Người Khách Lạ (TGXB, 2005).
Từ nước Đức, Vũ Nam tiếp tục với Một Đêm ở Geneve (Làng Văn, 2004); Hoa Liên Kiều (Làng Văn, 2008) và bút ký Quê Người Nhớ Quê Nhà (Rockville MD: Cỏ Thơm, 2016).
Ở Na Uy, Hoài Mỹ – trước 1975 đã có một số truyện “tuổi mới lớn” do hai tạp chí Ngàn Thông và Tuổi Hoa xuất-bản, đã phát hành các tập truyện Về Với Biển Cả (Thời Điểm, 2000), và Thiếu Phụ Điên, với một bút pháp nghiêm túc và kỹ thuật truyện đặc biệt.
Nhà văn Nguyễn Mộng Giác đã giới thiệu tập truyện: “Có thể nói khi viết về những kinh nghiệm hội nhập của đồng bào trên đất Na Uy, (Ông Nguyễn, Cái chảo, Về với biển cả, Quyên, Quẩn đọng, Bố) Hoài Mỹ nhà văn đóng vai trò một cán sự xã hội, hoặc một nhân viên hội thiện nguyện chuyên hướng dẫn cố vấn cho những di dân Việt giúp họ hội nhập vào đời sống mới. “Họ” gồm đủ mọi thành phần, và cơn khủng hoảng tinh thần do trở ngại hội nhập cũng do nhiều nguyên nhân. …. Nói chung, Hoài Mỹ bi quan về tiến trình hội nhập của đồng bào mình trên quê hưong mới. Tất cả cố gắng đều thất bại, thất bại nhiều hay ít cũng là thất bại. Kinh nghiệm hội nhập Hoài Mỹ ghi nhận qua các truyện ngắn không có gì khác với kinh nghiệm ở Mỹ, ở Pháp, ở Đức, ở Canada, ở Úc. Và có lẽ cũng không có gì mới so với kinh nghiệm của di dân gốc Ý ở Nữu Ước, di dân gốc Thổ Nhĩ Kỳ ở Đức, di dân gốc Maroc ở Pháp…Theo tôi, nếu có khác, là khác ở lối nhìn đầy thiện chí của Hoài Mỹ. Tác giả những truyện ngắn như Ông Nguyễn, Cái chảo, Về với biển cả. Quyên, Quấn đọng, Bố kể chuyện buồn với một giọng bình tĩnh, rành mạch, chẩn đoán tìm hiểu rành rẽ cội nguồn của bi kịch, như một vị lương y tìm được căn nguyên của bệnh trạng. Viết về bi kịch, nhưng Hoài Mỹ không hề bi quan. …
Nhưng đọc đến phần nửa sau của tập truyện, cảm giác yên tâm của tôi không còn nữa. Tôi đã bước vào một thế giới khác. Hoài Mỹ nhà văn không còn đóng vai trò cán sự xã hội hay huynh trưởng hướng đạo. Không gian mở rộng mênh mông và tràn ngập sương mù. Biên giới giữa thực và ảo, có và không, tỉnh và mê, chết và sống trở nên mờ ảo. Không còn Na Uy với những biên giới, luật lệ, phong tục, tổ chức xã hội rõ ràng minh bạch. Không gian truyện bây giờ là cõi nhân sinh trong cái không cùng của thế giới. Hoài Mỹ lạc vào trong cõi huyền ảo khó hiểu của không gian ấy, nên anh không còn có thể giảng giải rành rẽ mọi vấn đề của đời sống như trước…
Xăn tay áo lên để can đảm trực diện với những khó khăn trước mắt. hay trầm ngâm băn khoăn với những câu hỏi lớn, Hoài Mỹ đã lựa chọn thế nào? Tôi nghĩ: Anh đã chọn cả hai. Anh thẳng thắn chấp nhận những phiền trọc của đời sống, nhưng đồng thời cũng biết rõ những giới hạn của kiếp người. Như thế là phải!” (tr. 5, 7, 8).
Tâm Thanh sau Thiên Nga Giữa Cõi Người có tập truyện ngắn Gỗ Thức Trên Rừng (Văn Mới, 2002).
Đinh Lâm Thanh (1939, Huế – ) vượt biên và định cư tại Pháp năm 1979, nhập trường văn trễ và đã xuất-bản các tập truyện Bến Nước Đục (TGXB, 2005), Tình Mua Cuối Chợ (Westminster CA: Nam Việt, 2006), Cánh Cửa Đã Khép (Nam Việt, 2007) – sau các truyện ngắn được tuyển lại thành tổng tập Bản Độc Tấu Cuối Cùng (Hội Văn hoá Người Việt Tự Do, 2013), truyện dài Đổi Đời (Nam Việt, 2007) và Miếng Thịt đấu tranh chính trị với CSVN,… và tập Quê-Hương, Tình-Yêu và Thân Phận (2 tập; 2005-2006), “thơ của một người mất nước”.
Truyện dài Miếng Thịt viết về những năm tháng tù “cải tạo”, nơi bày ra những bức tranh xã hội bi hài bên cạnh những cuộc đấu trí không ngừng vì người nói người nghe không cùng trình độ và kinh nghiệm sống. Truyện đưa đến hồi cuối: “… Tối đó, tất cả khối phải lên hội trường để tiếp tục nghe về ‘cuộc đời và sự nghiệp’ ông già thêm một lần nữa sau khi được nhà nước ân huệ một miếng thịt mỡ. Anh bạn ngồi bên cạnh cứ than vào tai tôi: ‘Biết rồi nói mãi khổ quá, tha cho con về ngủ đi ‘già’ ơi’! Tôi mong chấm dứt sớm để còn về lán thưởng thức miếng thịt đang nằm trong túi. Mắt thì nhắm, tai chẳng thèm nghe, đầu chỉ nghĩ đến miếng thịt, lâu lâu tôi đưa tay rờ vào túi quần kiểm soát để chắc rằng miếng thịt vẫn còn đó. Nhưng vừa đụng vào miếng giấy nylon thì miệng tôi lại đầy nước bọt.
Khi được quản giáo tha tội cho về ngủ thì trời đã khuya, chắc vì ảnh hưởng tí mỡ trong cơ thể, anh em tù yên lặng lên giường, không ồn ào đòi ăn hàm thụ món nầy món kia như thường lệ. Tôi cẩn thận lấy miếng thịt trong giấy nylon ra từ từ để vào miệng. Cảm giác đầu tiên, đầu lưỡi như bị tê hẳn vì qua một năm không được miếng cá miếng thị tươi nào trong miệng. Mùi thơm, ngọt, béo của thịt chạy dài từ lưỡi lên tận trên óc nảo rồi xuống tới tim, gan, phèo, phổi, dạ dày… Tôi như ngất ngây trong sung sướng và cảm khoái trong người, tưởng như hạnh phúc độc nhất cuộc đời không gì hơn ngoài miếng thịt.
Thật ra không phải miếng thịt mà là cục xương dính một ít thịt và mỡ, anh em ‘nể tình’ nhường cho tôi chọn trước. Nhìn bốn miếng thịt lều bều trong thau, tôi biết ngay miếng nào nhỏ, miếng nào lớn như đâu cam đảm gắp miếng thịt lớn vào chén mình khi anh em nhường trước với câu ‘kính thầy’. Nhưng thật ra cục xương mới đáng đồng tiền bát gạo trong lúc nầy, tôi không dám nhai mà ngậm yên trong miệng, đợi nước miếng trào ra hoà lẫn mùi mỡ, mùi thịt, mùi xương rồi mới nuốt phần nước, dùng lưỡi chặn miếng xương lại. Như vậy tôi có thể kéo dài thời gian thưởng thức miếng thịt ân huệ của ngày lễ trong vài tiếng đồng hồ. Răng của tôi rất chắc, nhiều lần không cầm được lòng, định nhai nát ra rồi ực một cái cho sướng miệng. Nhưng không dám, sợ sẽ chấm dứt quá nhanh cơn đê mê thích thú của một người đói cả năm nay, ngày đêm mơ ước thèm thuồng. Nằm ngậm miếng thịt mà lòng tái tê ngao ngán. Chỉ là miếng mỡ không ra gì nhưng kể từ ngày cọng sản vào cưỡng bức miền Nam nó trở nên quá vĩ đại và quý giá vô cùng…”
Truyện dài Đổi Đời với giả định Phiên Tòa Đại Hình Xử Tập Đoàn CSVN: “… Diêm Vương quyết định đưa những người trong ban lãnh đạo đảng Cộng sản Việt Nam cùng tên Việt Kiều bưng bô ra tòa án Âm Phủ. Bao Công Thiên Thanh từ thiên đường đã hồi âm nhận lời ngồi xử vụ án. Đây là một tin làm chấn động cả ba cõi thiên đường, trần thế và địa ngục”. …
“… Với một giọng nói uy nghiêm, rõ ràng Bao Đại Nhân tuyên bố : – Xét vì nhân dân Việt Nam đã đau khổ trên sáu chục năm qua dưới bàn tay cai trị khát máu của đảng Cộng sản Hà Nội, ta nhân danh lương tri con người, xử tử hình hai bị cáo là Vua và Tể tướng đương thời là Nguyễn Minh Trót và Nguyễn Tấn Dõm. Các người có nhận tội không?
Cả hai tên cầm đầu nhà nước kêu oan :
– Dạ thưa Bao Đại Nhân, hai chúng con là những tên tay sai chỉ thi hành nhiệm vụ. Mà tất cả quyền lực đều nằm trong Bộ Chính Trị Trung Ương Đảng. Tại sao ngài không xử những tên đầu sỏ kia?
– Ta xử theo đơn tố cáo của nhân dân Việt Nam mà hai ngươi hiện giờ là người đại diện chính thức. Ta phải hành xử đúng theo yêu cầu của dân chúng. Còn những tên kia, chắc chắn chúng cũng bị kéo xuống đây một ngày rất gần, không bao giờ bổn toà bỏ qua chuyện này đâu.
Vừa nói xong, Bao Đại Nhân hô lớn :
– Quân đâu ? Cẩu đầu trảm ! …” (tr. 267, 335-336).
Jay Hà (Trịnh Đình Thu Hà, 1966, Sài Gòn – ), định cư tại Hoa-Kỳ năm 1991. Khởi viết năm 2000, giải đặc biệt “Viết Về Nước Mỹ” năm 2005, và đã xuất bản Vòng Quay Nghiệt Ngã (2015), Hành Trình Khác Khoải (NXB Tự Do, 2022).
Túy Hà, còn ký Đoàn Thy Vân, Nguyên Hà, chủ bút tạp chí Trầm Hương,… sau những thi tập là tập truyện ký Những Mảnh Đời Biệt Xứ (Houston, Gió Văn, 2012), in chung với “bút ký văn nghệ” Phác Thảo Từ Ký Ức Đen.
Nguyễn Đức Nhơn (1943, Phan Thiết -) chủ nhiệm tạp chí Trầm Hương, chủ biên các tuyển tập Thơ 7 Tác giả Miền Nam, Bên Trời in chung, và riêng ông xuất bản các tuyển tập thơ văn Giao Mùa, Mùa Gió Bấc và Bóng Tà Huy (2018),…
Nguyễn Ngọc Hoa (Nguyễn Văn Hoa; 1947, Quảng Bình -), tị nạn tại Hoa-Kỳ năm 1975, từ năm 2012, ông khởi “viết truyện ngắn để kể lại cho bạn bè nghe những câu chuyện của một quãng đời xa xưa và trau giồi Việt ngữ sau những năm dài sống xa quê hương … Mỗi truyện ngắn là một tác phẩm riêng lẻ đặt liên hoàn với các truyện khác theo thứ tự thời gian, nhưng toàn thể tám cuốn truyện … ấn hành từ năm 2013 đến nay không hẳn là một trường thiên tiểu thuyết. Nhớ chuyện cũ đến đâu, chúng tôi viết đến đó chứ không sắp đặt trước bố cục, nội dung hay nhân vật như các tác giả viết truyện dài…” (Lời Tựa. Trời Cao Đất Dày). Đến năm 2023 với Tập Truyện Nguyễn Ngọc Hoa IX: Con Tim Chân Chính, ông đã hoàn thành khoảng 200 truyện ngắn. Các tập khác: I- Con Giận Con, Nỗi Đau Mẹ; II- Bùn Đỏ Bụi Hồng; III- Thà Làm Đứa Con Bất Hiếu; IV- Nhìn Từ Trong Tháp Ngà; V- Những Tích Tắc Của Số Phận; VI- Không Bỏ Bạn Lại; VIII- Trời Cao Đất Dày.
Trong những truyện/chuyện về một thời xa xưa, ông dùng chữ của nguyên quán Quảng Bình tạo cho tình tiết câu chuyện thêm độc đáo: “Rốt cuộc cha cũng xuất hiện đón mẹ và anh em tôi về làng Truồi, nơi cha đóng đồn. Cha đến với dì Cúc mà chúng tôi đã gặp trong chuyến đi Lăng Cô gần hai năm trước. Năm nay dì hăm ba tuổi (mẹ sinh tôi lúc bằng tuổi dì), nói giọng Huế líu lo như chim hót, thanh tao mà khó hiểu, và hết lòng chiều chuộng ba anh em tôi.
Mặt tiền nhìn ra sông Truồi (sông Hưng Bình), ngôi nhà thuê rộng rãi có ba gian thông nhau; hai chái (phòng) hai bên, và hàng hiên phía trước. Gian giữa với cửa chính mở rộng là nơi đặt bàn thờ và bộ tràng kỷ dùng tiếp khách đồng thời làm bàn ăn của cha. Hai gian bên có cửa hẹp hơn, dùng làm chỗ ngủ, cha mẹ và thằng Sáng ở một phòng còn phòng kia dành cho dì và tôi và anh Quang. Vườn cây chè rộng sau nhà trở thành sân chơi của anh em tôi.
Vốn là chú bé nhà quê, tôi quen luông tuồng không ai câu thúc, nhưng ở với cha thì việc gì cũng phải làm liền làm nhanh làm đúng vàcó kỷ luật hẳn hoi. Ăn uống đúng giờ đúng giấc, ngồi ăn phải ngồi thẳng thớm, muốn dùng muỗng múc canh thì trước hết phải đặt đũa xuống bàn, và ngay cả đôi đũa cũng phải gác ngay ngắn đúng chỗ. Đọc sách xong phải xếp lại cất gọn gàng vào chỗ chỉ định, đôi guốc và áo quần dùng xong phải có chỗ có nơi đàng hoàng, tóc tai phải luôn luôn cúp (hớt) ngắn gần như trọc, và nhiều luật lệ khác mà tôi không bao giờ hiểu và ít khi nhớ mà tuân theo.
Trong vô số phép tắc và khuôn khổ của cha, “luật” ngủ trưa là điều tôi ngán nhất. Trưa hè nóng bức, mẹ lùa ba anh em vào phòng bên bắt phải nằm ngủ. Căn nhà rộng im phăng phắc không có một tiếng động ngoài tiếng ngáy khò khò của cha, mẹ và dì Cúc nói chuyện thì thào vì sợ động giấc ngủ cha. Trời nắng đẹp bên ngoài và bóng mát trong vườn mời gọi, tôi không thể nằm yên nên lò dò xuống bếp tìm mẹ,
“Cho con ra vườn chơi, con không làm ồn mô (đâu)”.
“Không được. Cho mi ra rồi hai đứa tê (kia) đi theo, làm rộn cha dậy thì chết đòn”, mẹ lắc đầu.
“Vườn sau rộng như rứa (thế), làm răng (sao)nghe được tiếng tụi con?”, tôi hỏi lại.
“Biểu ngủ thì phải ngủ, không nói oong-đơ chi hết”, mẹ nhất định. “Không nói oong-đơ” là “không nói một hai”, lời ra lệnh cho người khác đừng nên nói gì cả; “oong-đơ” do tiếng Pháp “un-deux,” nghĩa là “một-hai”.
“Không buồn ngủ làm răng ngủ được? Con ra bến sông chơi nghen?”.
“Thằng ni (này) lì, nói không nghe. Cha cấm mấy đứa bây chơi gần sông khi không có mặt người lớn”.
“Trong nhà ni chỉ có một chắc (một mình) con và anh Quang biết bơi, người lớn có ai dám xuống nước mô”, một sự thực không thể chối cãi.
“Tổ cha mi ưng cãi sai cung. Cha dậy đập cho mi một trận tởn tới tra (chừa đến già)!”, mẹ giận nhưng không dám lớn tiếng; tôi xem đó là lời đồng ý và chạy biến ra cửa. “Cãi sai cung” là lý sự cùn, cãi chày cãi cối vì thấy mình bị bắt ép hay bị đòn oan…”.
“… Cha là nhà binh nên cách trừng phạt cũng khác. Khi bị gọi ra đứng trước mặt cha ở gian giữa trước bàn thờ, tôi biết mình có tội, nhưng nhiều tội quá không biết sẽ bị phạt về tội gì. Cha giáo đầu bằng hai cái bạt tai choáng váng mặt mày, và tôi lính quýnh xoa mặt lùi một bước,
“Chạy đi mô, muốn chết hả? Nằm xuống đây”.
Cha rút chiếc thắt lưng da ra. Tôi chưa kịp giấu hai bàn tay dưới bụng thì cây roi da quất tới tấp vào lưng, mông, và đùi,
“Cho mi chết, biết tội chưa?”.
Nếu đau quá mà khóc thét lên thì lãnh thêm một tràng roi da khác,
“Oan ức lắm răng mà còn khóc?”.
Nhưng nếu nghiến răng không khóc thì cũng không hơn gì,
“Thằng chó ni gan lì, đập cho mi hết lì”.
Đằng nào cũng “ăn da bò” nên tôi ngậm miệng chịu đau để mẹ khỏi đau lòng. Trận đòn chấm dứt khi cha mỏi tay dừng lại thở dốc và dì Cúc chạy tới nâng dậy,
“Thằng Bé xin cha tha đi, lần sau con không dám nữa”.
Tôi không xin tha vì chắc chắn sẽ tái phạm – cái tội gì đó không rõ. Cha chỉ đợi có thế,
“Cút đi cho khuất mắt!”.
Mẹ đứng nhìn mếu máo, dì đổ dầu tràm thoa lên các vết hằn, và tôi xót thấu xương. Mẹ nấu cháo thịt bò bằm mịn, món ăn dành cho người bệnh, cho ăn. Đêm nằm trong lòng dì, tôi đau quá không ngủ được, suốt đêm ngọ ngoạy như con trùn…” (Con và Cha).
Tăng Quyền Vinh ở Ottawa, Canada, sau thời gian sinh hoạt cộng đồng, gần đây viết truyện và đã xuất bản Bên Kia Bến Đỗ (truyện dài; TGXB, 2020), Đứa Con An Giang (2022), Lu Nước Ngọt (2023),… trở về những năm xưa ở quê nhà.
Trần Việt Hải (1953, Tây Ninh – ), rất năng nổ sinh hoạt báo chí và văn nghệ vùng Nam California (nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian), cuối cùng đã xuất bản Tuyển Tập Văn Chương – Vang Bóng Một Thời (2024. 418 tr.).
(còn nữa)
Nguyễn Vy Khanh
Không có nhận xét nào