Header Ads

  • Breaking News

    Văn học hải ngoại: giai đoạn hình thành, 1980–1986

    Tác giả: Nguyễn Vy Khanh

    August 4, 2026

    [Văn Học Việt Nam 50 Năm Hải Ngoại. Quyển Thượng Tổng quan (Toronto: Nguyễn, 2025; lulu.com phát hành), trang 29-45]

    GIAI-ĐOẠN TỊ-NẠN CHÍNH-TRỊ (giai đoạn hình thành, 1980-1986)

    Phải đợi đến những năm đầu của thập niên 1980, văn học ở ngoài nước khởi sắc ra, nhưng là một khởi sắc buồn thảm. Năm 1980 đánh đấu sự tham gia sinh hoạt văn-nghệ, báo-chí của đợt thuyền nhân/boat people từ đầu năm 1979, chính-trị rõ hơn với kinh nghiệm sống với cộng-sản Hà-nội của người miền Nam và một phần người miền Bắc (đa số là “bộ-nhân” sang Trung-quốc và Hương Cảng) và sự xuất hiện tích cực một thời của các Mặt Trận chống Cộng và đấu tranh nhắm lật đổ chế độ cộng-sản trong nước. Nhà văn GS Đặng Phùng Quân nói về giai đoạn văn học này như sau: “… văn học lưu vong đã thực sự hình thành; lúc bấy giờ tôi gọi nó là một văn chương thời thế bởi nhà văn không còn là một hiện tượng đơn độc mà thể hiện qua một tập thể đông đảo tạo thành một sinh mệnh, một thế lực văn chương đặc biệt. Tôi coi nó đã mang nguyên vẹn cơ sở văn học từ trong nước ra bên ngoài. Ðiều này không những là một thách đố mà còn là một thái độ xóa bỏ cái văn chương bị chỉ đạo ở trong nước, cái văn chương của tập đoàn văn nghệ chỉ huy và những kẻ cầm bút ăn lương biên chế. Quan điểm này hẳn làm phiền lòng những người ấy, nhưng đó là một thực tại chứng thực kinh qua sự tồn tại và phát triển của nó trong một phần tư thế kỷ nay. (Tẩu Khúc Văn Chương/Triết Lý)

    Cộng đồng nhà văn Việt-Nam tị nạn ngày một đông đảo hơn. Đặc biệt các vị rời nước sau này, khi còn ở trong nước, họ đã có kinh nghiệm với cộng sản, và đã là nạn nhân, đã nhìn thấy trò đời. Đã vậy họ bị cấm viết, bị cầm tù vì hoặc với “tư cách” là văn nghệ sĩ hoặc công chức, đi lính cho chế độ Cộng hoà. Nay vượt biên, “đi chui”, hoặc đoàn tụ gia đình (bắt đầu từ năm 1979, 1980 tùy quốc-gia), tha hương, họ bắt đầu viết lại và bộ phận văn học chiến tranh do người Việt hải ngoại nhờ đó sung tích và đa dạng hơn nữa.

    Các nhà văn của giai đoạn này mạnh thêm tư cách tị nạn chính trị, từ tâm thức bị phản bội vào thời 30-4-1975, nay người Việt hải-ngoại nhận chân chính-nghĩa luôn ở về phía người tị nạn, lưu vong. Viết về chiến tranh, đa phần vẫn là cay đắng, buồn tức, tức người lẫn ta. Những kinh qua đắng cay của các trại “cải tạo” và của đời sống tối tăm sau 1975. Và nhất là ý chí chống cộng sản độc tài, những trì trệ không “giải phóng” được đất nước khỏi nghèo đói và chậm tiến, điều này đưa đến khuynh-hướng phục quốc trong văn-chương đã đành mà còn thực sự song hành với những phản kháng, nổi dậy chống cộng-sản ở trong nước.

    Hơn nữa, trên bình diện thế giới, “chiến-tranh lạnh” vẫn còn đó, mạnh hơn trước với những “bật mí” về các thủ đoạn tuyên truyền của tập thể khối cộng-sản cùng đám trí thức thiên tả Âu Mỹ trong chiến-tranh Việt-Nam cũng như nhiều nơi khác, và sẽ đi vào thời kỳ chót năm 1989.

    Giai đoạn này có thêm những nhà văn thơ thuyền nhân và có những nhà văn viết vì phẫn nộ. Thuyền nhân tị nạn là một bộ mặt khác của chiến-tranh và sự kiện thuyền nhân (boat people) đã thật sự đánh thức phần nào lương tâm nhân loại trước đó đã đạo đức giả xem người Việt miền Nam như những kẻ thua trận không đặc sắc. Người viết dù đứng ở vị trí nào (đi cứu trợ hoặc thuyền nhân) thì thuyền nhân và tị nạn đã là thảm kịch lớn của dân tộc.

    Cũng là thời của những cây viết mới Nguyễn Ngọc Ngạn, Cung Vũ, Võ Kỳ Điền, Tưởng Năng Tiến, Nguyễn Bá Trạc, Trần Long Hồ, Nguyễn Ý Thuần, Thế Giang (Trần Hưng, 1958 -), Vĩnh Hảo, Lê Thị Huệ, Nguyễn Thị Hoàng Bắc, Vũ Quỳnh Hương, Nguyễn Văn Ba, Hồ Trường An, Giang Hữu Tuyên, Vũ Kiện, Bắc Phong, Võ Hoàng,… bên cạnh những nhà văn tị nạn đã từng hoạt động trước 1975 ở quê nhà như Nhật Tiến, Mai Thảo, Nguyễn Mộng Giác, Hồ Trường An, … Các tờ Hồn ViệtĐất Mới, Văn Học Nghệ Thuật, Nhân Chứng, Việt Chiến, Trắng Đen, Người Việt, Việt-Nam Hải Ngoại,… ở Hoa-Kỳ và Làng Văn, Dân Quyền ở Canada và  Quê Mẹ ở Pháp  đã là cái nôi xuất hiện những nhà văn mới và chống Cộng.

    Giai đoạn hai, tạp-chí văn-chương Văn Học Nghệ Thuật tiếp tục với bộ mới, 5-1985 và đổi thành Văn Học “tạp chí sáng tác nhận định văn nghệ”từ tháng 2-1986, Mai Thảo tục bản tạp chí Văn (7-1982), cũng như xuất hiện Làng Văn (1984) thu hút được nhiều cây bút mới bên cạnh những nhà văn đã nổi tiếng,…

    Không khí chiến tranh thường trực, không quốc-cộng thì nội bộ hải ngoại, làm như Việt-Nam là một xã hội bị nhiễm độc bởi cuộc chiến vừa qua và cái độc “di tản” phần nào ra ngoài nước. Các nhà văn khai thác chủ đề chiến tranh, khi trực tiếp khi gián tiếp vì thật ra trong mọi đề tài tình yêu, tình quê hương, sự hội nhập, những đổ nát, dở dang, v.v. đều có chiến tranh nếu không là cái khung cảnh thì cũng là nguyên do, hậu quả.

    Thêm những nhà văn thơ thuyền nhân, có những nhà văn viết vì phẫn nộ như Nhật Tiến: “Tôi vẫn hằng quan niệm rằng thiên chức của người cầm bút là phản ảnh được môi trường xã hội mà họ đang sống, và đấu tranh cho những nguyện vọng tha thiết nhất của con người trong xã hội ấy được thể hiện. Môi trường xã hội hiện nay của người cầm bút là tình cảnh lưu vong mà họ đang sống, là anh em, bạn bè, đồng bào còn đang rên xiết ở quê nhà và những đồng bào tị nạn đang lây lất ở các trại tạm trú…” (6)

    Cùng thời với Nhật Tiến có Nguyễn Ngọc Ngạn, Mai Thảo, Nguyễn Mộng Giác, v.v. Ngoài sự kiện thuyền nhân (boat people) đã thật sự đánh thức phần nào lương tâm nhân loại và hơn thế nữa, những trò tuyên truyền của thế giới cộng sản và thiên tả đã chỉ có giá trị giai đoạn, khi hoả mù chiến tranh lắng từ từ, con người ta mới nhận ra giả chân, những tự hối trong giới văn hoá Âu Mỹ như Jean-Paul Sartre, Olivier Todd, v.v.

    Tập thơ Tiếng Vọng Từ Đáy Vực do tuần báo Văn Nghệ Tiền Phong xuất-bản lần đầu năm 1980 với tựa Bản Chúc Thư của Một Người Việt-Nam “192 bài thơ bi hùng” – ghi Khuyết Danh, theo thông tin khả tín là của Nguyễn Chí Thiện lúc đó còn ở trong nước, đã thành công ném tập thơ vào sân tòa đại sứ Anh ở Hà-Nội, được xuất bản như một tiếng sét khác đánh động lương tâm con người và đánh tan những ảo tưởng về một thiên đàng cộng sản. Ấn bản ghi là do Ủy-ban Tranh đấu cho Tù nhân Chính-trị tại Việt-Nam, tiếp đó VIVO tức Tổ chức Người Việt Thiện Chí tái-bản năm 1981 nguyên văn bản đầu, rồi sau đó văn bản và tựa bị sửa (7).

    Nguyễn Chí Thiện từ ngục tối, khi nghe tin miền Nam rơi vào tay quỷ đã than:

    Vì ấu trĩ, thờ ơ, u tối
    Vì muốn an thân, vì tiếc máu xương
    Cả nước đã quay về một mối
    – Một mối hận thù, một mối đau thương !
    Hạnh phúc, niềm mơ, nhân phẩm, luân thường
    Đảng tới là tan nát cả!
    Lịch sử sang trang, phũ phàng, tai họa
    Nào đâu chính nghĩa thắng gian tà?
    Đau đớn này không chỉ riêng ta
    Mà tất cả!
    Cả những kẻ đã nằm trong mả
    Và những bào thai trong bụng mẹ chót sinh ra
    Chúng sẽ có quyền nguyền rủa lũ ông cha
    Đã để chúng sa xuống hầm tai vạ
    (…) Nghĩ tới ngày mai lòng ta tan tác
    Đến bao giờ lấy lại được giang san!
    Chế độ này trâu ngựa sống không an
    Sài lang đã dựng xong nền thống trị
    Ai đứng dậy diệt trừ lũ quỷ?
    Ai trái tim lân mẫn vạn dân tàn
    Miền Nam ơi, từ buổi tiêu tan
    Ta sống trọn vạn ngàn cơn thác loạn!”

    (Vì Ấu Trĩ) (8).

    Về thể-loại hồi ký, bút ký thì trước 1975, ở miền Nam ít có tác-phẩm loại này. Sau 1975, hồi ký và bút ký là thể loại chiếm một phần quan trọng từ 1980 đến khoảng năm 2000, sau đó thì thưa thớt hơn. Chúng tôi phân tích thêm về thể-loại này trong phần hiện-tượng Hồi ký. Ở đây chúng tôi nói đến những tác-phẩm có tính văn-chương. Đây là nhân chứng của tấn bi kịch chung trong đó có cuốn có giá trị văn chương đặc biệt.

    Nguyễn Tường Bách là người có hồi-ký xuất-bản đầu tiên ở hải-ngoại sau biến cố 30-4-1975, cuốn Việt-Nam Những Ngày Lịch-Sử (Montréal: Tủ sách Nghiên Cứu Sử Địa, 1981) lúc đó ông còn sống ở Trung Quốc. Trần Huỳnh Châu là người đầu tiên xuất bản hồi ký cải tạo với Những Năm Cải Tạo Ở Bắc Việt (1981) kể chuyện tù đày, cải tạo.

    Nhưng nhà văn đánh mốc cho giai đoạn này là Hà Thúc Sinh với Đại Học Máu (San Jose CA: Nhân Văn, 1985) với hơn 820 trang cáo trạng đanh thép chống chế độ lao tù với mỹ từ “học tập / cải tạo”. Trong Tựa mở đầu, tác giả cho biết đây là “bản phúc trình của người lính Việt-Nam cộng Hoà bị bỏ rơi, bị ở tù cộng sản, rồi thoát được ra ngoài, ngồi viết lại để kính gửi tới những ai còn thương yêu và còn quan tâm đến nước Việt-Nam và con người Việt-Nam còn ở lại“. Chuyện người lính tên Vĩnh nhập cuộc chiến, thua những kẻ không đáng thắng, anh bị khổ nhục nhưng vẫn tự tin và bất khuất.

    Sau sửng sốt của Đại Học Máu là hồi ký lao tù của những sĩ quan tâm lý chiến như Phạm Quang Giai với Trại Cải Tạo (“hồi-ký lao tù cộng-sản”; Houston TX: TGXB, 1986), Tạ Tỵ với Đáy Địa Ngục – tác-giả viết trong trại tị nạn Sungei Besi Mã Lai, từ tháng 9 đến 12-1982 (San Jose CA: Thằng Mõ, 1985), về địa ngục trần gian nơi các trại “cải tạo” từ Nam ra Bắc, v.v.

    Tất cả các tác-phẩm hồi-ký lao tù hoặc thời sống sau tháng Tư 1975 nói chung tố cáo chế độ Cộng-sản qua những điều mắt thấy tai nghe, qua những mưu đồ, bạo lực cướp phá miền Nam và con người về vật chất cũng như tinh thần.

    Lê Văn Phúc viết Tôi Làm Tôi Mất Nước (Houston TX: Văn Hữu, 1984) để tự trách và phúng thích những kẻ có trọng trách mà không hành xử cái trách nhiệm của mình; nạn nhân và thủ phạm là mỗi người! Thấy ai cũng viết sách đổ lỗi cho người khác, ông kể tội mình đã làm những việc góp phần làm mất nước.

    Cao Xuân Huy với Tháng Ba Gãy Súng (1986) chuyện mất nước với kinh qua của chính tác giả khi Huế rơi vào tay cộng sản Hà Nội cuối tháng Ba 1975.

    Nguyễn Mộng Giác là nhà văn đầu tiên gây tranh luận chính trị (quốc-cộng) nhiều hơn là văn học về tác phẩm khi ông bắt đầu xuất bản bộ tiểu thuyết Mùa Biển Động (5 tập, 1984-89, 1816 tr.) viết về 17 năm chiến tranh vừa xong. Cuốn đầu của MBĐ vừa xuất bản đã gây tranh luận (tranh cãi thì đúng hơn!) ngay trong cộng đồng người Việt tị nạn ở hải ngoại. Tác giả MBĐ đã viết lên những sự thực tư duy của một người trí thức đã có dịp nhìn thấy, đã phải chịu đựng – cái nhìn tổng quan và lịch sử. Trường thiên tiểu thuyết kể lại 17 năm chiến tranh (1963-1981), tranh chấp chính trị, những lãnh tụ quân cờ mang họa cho dân tộc: cả hai phía quốc-cộng đều làm chiến tranh ủy nhiệm thay vì tự quyết tự chủ vì quyền lợi đất nước.

    Ở đây tác giả như nhắc nhở đấu tranh nếu còn hãy vì dân-tộc trên hết mới tránh được thảm kịch đã qua. Tác giả viết bộ trường thiên vào lúc tâm hồn có những xúc động sâu xa : mất nước, vượt biển, xa gia đình, hải ngoại chống cộng cực đoan mạnh. Nếu MBĐ được viết vào giữa thập niên 90, tác giả sẽ vẫn viết với những tha thiết và phê phán chân thành đó nhưng có thể đánh động tâm hồn người đọc, cảm hoá  con người ở cả hai phía hơn, do đó sẽ thuyết phục sắc bén hơn vì can đảm tinh thần tác giả không thiếu.

    Sự thực bao giờ cũng khó nói, những người đã lựa chọn nói cái khó có Nguyễn Khắc Ngữ (Những Ngày Cuối Cùng Của Việt-Nam Cộng Hoà, 1979), Cao Xuân Huy, Hoàng Khởi Phong, Trần Hoài Thư, Dương Thu Hương, Phạm Thị Hoài, …

    Một số truyện khác của Nguyễn Mộng Giác như hai tập truyện ngắn Ngựa Nản Chân Bon (1984, Văn Nghệ tái-bản lần 3, 1988), Xuôi Dòng (1987) đề cập đến những mảnh đời trong và sau cuộc chiến với những bế tắc, trái ngang của những nhà trí thức, sĩ quan ‘ngụy’ và cả người bên kia chiến tuyến. Rồi cuộc đời mới ở xứ người cũng không hạnh phúc gì!

    Nhật Tiến là nhà văn ngay từ lúc đầu ở hải-ngoại đã gây chú ý và phản ứng có tính chính-trị. Tập Tiếng Kèn (1982) là bức tranh sống động về cuộc đổi đời của miền Nam. Những đối xử dã man, không nhân tính với đồng loại. Đến Một Thời Đang Qua (1985) gồm hai phần quê người sống hối hả máy móc với những va chạm văn hoá, những người mẹ già lạc lõng ngay trong gia đình mình, trong khi quê nhà giữa bao thảm kịch, sĩ quan bộ đội hủ hoá, tình cờ vẫn có người thủ trưởng công an biết nói cám ơn. Trong tập truyện này, Nhật Tiến đi bước đầu trong việc tìm hiểu và viết về con người ở miền Bắc và những người ở miền Nam sau 1975 như những con người “ruột thịt”. Văn ông hiền lành nhưng ông đã nói đến những khúc mắc của con người cùng là nạn  nhân của chiến tranh, ông luôn khẳng định sự thất bại của cộng sản muốn tiêu diệt nhân tính nơi con người.

    Trong một phát biểu ra mắt tập truyện Một Thời Đang Qua tại Washington DC, ngày 11-10-1985, Nhật Tiến cho biết “văn hóa không thể vùi dập con người mình dưới những lằn roi của sự cực đoan, một chiều, mà trái lại nâng cao giá trị của con người, vạch rõ thực trạng đớn đau, tủi nhục, để trang bị cho con người một nhận thức mới, ở đó con người nhìn ra thân phận bị trị của mình, biết phẫn nộ trước sự phi lý về nông nỗi con người đã bị khai thác triền miên trong bao nhiêu năm ròng bởi một thiểu số đầy tham vọng và quyền lực mà không biết đứng dậy làm một cuộc cách mạng mới giải phóng chính mình” (“Một suy nghĩ của người cầm bút lưu vong”. Quê Mẹ (Paris), 68, 11-1985). Chính tập truyện Một Thời Đang Qua và bài phát biểu này khai mở khuynh hướng gọi là “hòa hợp hòa giải dân tộc”, sau đó hơn sáu năm, tạp chí Hợp Lưu ra mắt (1-10-1991) và Nhật Tiến tham gia ban chủ biên!

    Duyên Anh là nhà văn thứ ba gây tranh luận, nhưng trong trường hợp ông, cho đến khi ông qua đời vì bệnh tại Paris (6-2-1997), một số nghi vấn hãy còn. Không những bị nghi ngờ, ông còn bị đả thương thành tật nguyền. Vẫn không biết thủ phạm (9), nhưng nếu chỉ xét về tác phẩm và cuộc đời làm báo, ông gây chuốc nhiều thù hận. Khi ra ngoài nước, ông viết nhiều về chiến tranh: Một Người Nga Ở Sài Gòn  (1986) kể chuyện một người Nga muốn trả nợ cho nuớc mình, đế quốc Liên Sô; Sỏi Đá Ngậm Ngùi (1985) viết về những người đàn bà trong tù cộng sản; Bầy Sư Tử Lãng Mạn (1986) về 28 người tuổi trẻ sau 1975, trong hầm đá trại Đầm Đùn. Cuốn Đồi Fanta có dư luận coi là có tinh thần “thỏa hiệp” (!) và hai cuốn hồi ký Nhìn Lại Những Bến Bờ và Sài Gòn Ngày Dài Nhất có thể đã chuốc thêm oán dù đã cho người đọc biết được tình huống và sinh hoạt của người miền Nam sau ngày bị đổi đời 30-4. Những tác phẩm cuối đời, hình như ông nhắm đề cao tuổi trẻ và những kẻ sống ngoài lề xã hội, đặt hy vọng nơi những người này trong một thế giới gian manh và đầy bạo động: ông có một chủ tâm chính trị và xã hội. Ông xuất bản hai tập Thơ Tù (1984) và Em Tôi Sài Gòn Và Paris (1989), có những bài thơ căm hận:

    “… Sài Gòn khăn sô
    Mùa Xuân tím tái
    Lưỡi lê đàng ngoài thù hận đàng trong
    Chim hạc hồng tiếp tục trốn mùa Đông
    Chả thấy Hoàng Diệu nào tuẫn tiết
    Anh chỉ thấy bọn tướng hèn khốn kiếp
    Lột xé chiến bào, phi tang tích huân chương
    Đứa tham sinh rời lủi quê hương
    Đứa úy tử gục đầu chịu trói...” (1979, Thơ Tù) 

    Võ Kỳ Điền với tập Kẻ Đưa Đường (1986) muốn nói lên tiếng nói chống độc tài, ngu xuẩn (Lời tựa). Phần lớn là những chuyện sau 1975 qua các nhân vật quê mùa nhưng tinh thần chống áp bức lộ rõ như bác Năm hớt tóc, ông Bảy thợ rèn, chú Bảy Cò, qua các cán bộ từ rừng ra từ Bắc vào tiếp thu trường học, cơ sở, “tiếp thu” cả con chó của Ty giáo dục, chuyện trả thù cán bộ, “sửa lưng” cán bộ quá thuộc tuyên truyền – những bức tranh bi hài về con người, xã hội. Chuyện một anh học trò cũ vô bưng nay trở về tiếp thu ngôi trường cũ, sau bị một cán bộ từ Bắc có tuổi đảng vào thay thế. Ông thầy an ủi : “… Đừng mong làm hoa hướng dương, suốt ngày ngước mắt nhìn mặt trời hoài mỏi cổ lắm. Cũng đừng thèm làm đá xanh cứ phải lót đường cho người ta đi. Em phải nhớ một điều, vì lý tưởng cao cả, chúng ta có thể chấp nhận hy sinh thân xác để bón lúa, chớ đừng bao giờ dùng nó làm phân để bón cho thứ cỏ dại sinh sôi nẩy nở…” (Đá Hoa Cương) [Sau này ông có thêm truyện dài Pulau Bidong, Miền Đất Lạ (1992) tả cuộc ra đi đầy bất trắc và lưu đày của những người dân bình thường không thể sống chung với cộng sản].

    Khuynh-hướng phục quốc rõ nhất với Tưởng Năng Tiến và Võ Hoàng, hai người lính Cộng Hoà khi vượt thoát khỏi Việt-Nam vẫn tiếp tục chống Cộng bằng ngòi bút và chính bản thân mình. Hai ông đã xuất bản chung hai tập truyện Đất Lạ, Măng Đầu Mùa (1982) và một thời làm chung tạp chí Nhân Văn với Thượng Văn và Lý Khánh Hồng. Tưởng Năng Tiến có những truyện viết về những người bị tù cải tạo như “Những Cái Lon Ghi-Gô” (VietNam Forum 7, 1986). Võ HoàngTrong Lòng Cách Mạng (1983), Góc Bể Chân Trời (1983), có nhiều truyện đặc miền Nam lục-tỉnh với vườn cây trái và ruộng đồng bát ngát.

    Cùng sinh hoạt với nhóm Nhân Văn, còn có Lôi Tam (Lê Đình Lãm, 1938-) với hai tác-phẩm Tên Đời (Văn Học, 1980) [và Chuyện Về Người (Nhân Văn, 1990) ].

    Cùng khuynh hướng phục quốc có nhà văn Trùng Dương một thời qua những sáng tác trên tờ Kháng Chiến và nhà thơ Bắc Phong (tên thật Kiều Duy Phong, 1953-; còn ký Kiều Phong) trên các tờ Dân QuyềnKháng Chiến với thơ kêu gọi lòng yêu nước và thơ biếm, với tập Chính Ca (Đồng Tiến, 1986):

    Bị chuyên chính đè đầu đè cổ
    Đấu chỉ còn có cách vượt biên
    Lòng của mỗi người chọn ở lại
    Đang biến ra thành mỗi trận tiền” (Đối Kháng)

    “Khi gạo mắm bớt phần chia xuất
    Trí óc lý luận thua dạ dày
    Dân cả nước chăm lo phấn đấu
    Cho một ngày cơm bớt trộn khoai” (Phấn Đấu)

    Ngươi không da thép chẳng mình đồng
     Sao xông pha vào chốn cùng hung
    Ai người lưu lạc thân Hồ mã
    Ngươi chí dọc ngang giống Việt Thường
    Đón giết thuồng luồng ngay đầu sóng
    Đuổi lùng giặc Đỏ chém giữa truông
    Nếu phải sinh linh còn đồ thán
    Ngươi còn chưa hết nợ non sống” (Chính Ca)

    Thơ sáng tác là phải hướng về một ngày mai tươi sáng cho tổ quốc:

    “Thơ tôi đọc giữa ban ngày
    Là bài cáo trạng của loài hại dân
    Thơ tôi lời lẽ hờn căm
    Chúng dù chết vẫn nhơ danh bạo tàn
    Thơ tôi chép ý rõ ràng
    Như ngọn đuốc đốt trong hang tối mù
    Soi ra tội ác kẻ thù
    Việt Nam một mảnh cơ đồ bán dâng
    Thơ tôi đau đớn vô cùng
    Kể người vượt biển liều thân thủy cuồng
    Xác dù chìm đáy đại dương
    Nhưng hồn uổng tử không ngừng oán than
    Thơ tôi rong ruổi từng hàng
    Như ngựa chạy báo tin quân kéo về
    Gió vang son sắt lời thề
    Máu đồng bằng với sơn khê một dòng
    Thơ tôi hẹn với non sông
    Ngày tình thương lấp hố hầm thù sâu
    Bình minh mắt ngước lên cao
    Tôi mơ thấy cánh bồ câu ngập trời” (Thơ Tôi)

    Nhị Lang viết Nước Lại Về Nguồn (Denver, Colo.: Lion Press, 1982), tiểu-thuyết của một chính-trị gia.

    Nguyên Vũ xuất bản các sáng tác Trận Chiến Chưa Tàn (tập truyện; Paris: Nam Á, 1986), Giặc Cờ Đỏ (trường thiên, 1987), Hoạt Cảnh Chiến Tranh (tập truyện, 1992),…

    Bùi Xuân Vũ ở Úc có tập truyện ngắn Tôi Chọn Chiến Tranh (Úc, 1987). Thay Lời Tựa có đoạn: “30-4-1975 (…) từ đó tiếng súng, tiếng đạn bom không còn rền nổ trên quê hương Việt Nam. Nhưng Hòa Bình, Tự Do, hạnh phúc với cơm no ấm áo, giấc mơ của cả hai miền đã chẳng bao giở đến. (…) Từ đó, Tôi Chọn Chiến Tranh, chính là tiếng nói trong tâm thức, của những con người Việt Nam khát vọng có hoà bình với hạnh phúc cơm no áo ấm. Nó chính là câu chuyện của một cuộc khởi đầu: Tôi Mong Hoà Bình” (tr. 8). Truyện ngắn dùng làm tựa sách kể chuyện người miền Nam (nhân vật Lm. Nguyễn Huy Chương,…) lập mặt trận thống nhất, lập chiến khu để đối đầu với Việt cộng khoảng tháng 7-1977. Bị phản và bị kết án tù đày. Trong truyện khác, Về B 5, hy vọng của người tù nạn nhân chế độ: “Nắng sẽ lên!  (…) Bên ngoài  những song sắt kia, nắng đã bao lần lên và gió đổi giao mùa sang? Con người đã được những gì? Có phải là được hưởng hạnh phúc với cơm no ấm áo, với giấc mơ Hoà Bình, Tư Do, Độc Lập của người dân Việt không? Bên trong bóng tối của lao tù này, những đôi mắt mở lớn, vẫn ngồi nhìn vào bóng đêm chờ ngày mai đến. Nhưng ngày mai có đến không?…”.

    Không chỉ các tác giả vừa nêu mà khá nhiều tác phẩm thơ-văn của hải ngoại đều ít nhiều, không toàn bộ nội dung thì một phần đều viết về tâm tình phản kháng, chống Cộng, nhất là ở các vị từng bị khốn khổ hoặc tù “cải tạo”, tù vượt biên.

    *

    Phan Tấn Hải xuất bản tập truyện đầu tay Cậu Bé và Hoa Mai (Nhân Văn, 1986; tb: Ananda Viet Foundation, 2017).

    Nguyễn Bá Trạc (1943, Huế -) với Ngọn Cỏ Bồng (Westminster CA: Người Việt, 1985; tb: TGXB, 1995 thành Toàn tập) là những suy nghĩ, quan sát về cộng đồng hải-ngoại, về lưu đày, hội nhập và văn-hóa cội nguồn. Cùng thời, ông viết Chuyện Của Một Người Di Cư Nhức Đầu Vừa Phải (Văn Nghệ, 1993) muốn vượt những thành kiến chính trị trong những nhận xét, lo toan của tác giả về dân-tộc và tập thể người Việt ở hải ngoại.

    Nguyễn Ngọc Ngạn bắt đầu nghiệp văn ở hải-ngoại từ khi đến đất mới Canada, xuất-bản thì mở đầu với truyện ký duy nhất bằng Anh ngữ The Will of Heaven: a story of one Vietnamese and the end of his world (E. E. Richey biên tập, NY: Dutton, 1982; Văn Lang 1988). Ông viết nhiều và bền bỉ ở giai đoạn đầu, có truyện đăng báo, có truyện xuất-bản và là một trong những tác-giả có nhiều độc giả nhất ở hai giai đoạn văn-học hải-ngoại. Nguyễn Ngọc Ngạn viết hai thể-loại truyện ngắn cũng như tiểu-thuyết mà ông thường ghi chung là “truyện dài” dù bản chất nói chung vẫn là tiểu-thuyết. Các tập truyện ngắn đầu tiên là Truyện Ngắn Nguyễn Ngọc Ngạn (Nhân Chứng, 1982; Làng Văn 1985, 1989), Biển Vẫn Đợi Chờ (Viet Publications, 1984; XT 1987), Lúc Gần Sáng (Viet Publications, 1985; Nam Anh 1988; Làng Văn 1989) và Sân Khấu Cuộc Đời (Westminster CA: Văn Khoa, 1986, 1988). Sau truyện dài pha bút ký The Will of Heaven, ông viết truyện dài thứ hai (nói về xuất-bản) Màu Cỏ Úa (Chiêu Dương 1985, Xuân Thu tb 1987) vẽ lại xã hội cộng sản miền Bắc thời đầu chiến tranh: xã Xuân Thành, công giáo, có cô gái tên Hợp con gia đình có “nợ máu với nhân dân”, có Quảng, anh cán bộ tàn bạo xen cản tình yêu Hợp với Thụ. Quảng hiếp Hợp. Nhưng trong một xã hội bưng bít và chính trị hoá như miền Bắc, nạn nhân Hợp bị người yêu Thụ nghi ngờ, trong khi Quảng cán bộ hủ hoá  vẫn được Thụ coi là đại diện chân chính và là hình ảnh của “bác”, người “yêu nước” chân chính. Biển Vẫn Đợi Chờ gồm 13 truyện ngắn về xã-hội miền Bắc, miền Nam và hải-ngoại. Lúc Gần Sáng là 9 truyện ngắn xảy ra dưới chế độ cộng-sản tân lập ở miền Nam hoặc đã thành khuôn sống ở miền Bắc: một dân biểu trong Nam xoay sở ra sao, những anh cán bộ, đảng viên tham nhũng, những tù cải tạo bị bỏ đói, chủ tịch phường bê bối giữa “đạo đức cách-mạng” và xử sự ở đời, những nghiệp báo, v.v. Ở giai đoạn này, truyện của ông phần lớn xảy ra ở quê nhà trước và ngay sau 1975, những câu chuyện và vấn nạn đương thời, như đang xảy ra, dù đã sang đến bờ tự do.

    Đời sống lưu vong, những khắc khoải người đi người ở lại và những hoài niệm quê xưa, được đề cập trong các tác phẩm của Nguyễn Văn Sâm (Câu Hò Vân Tiên, 1984), Hồ Trường An (các tập truyện và các truyện dài Lớp Sóng Phế Hưng (10) 1983; tb, Tủ sách Cành Nam, 1988), Nửa Chợ Nửa Quê (1985; tb, Nam Á, Paris, 1987), Phấn Bướm (Việt Publications, Toronto, 1986), v.v.), Phạm Quốc Bảo với Cõi Mộng Du (2 tập, tập 2: Đời Từng Mảnh; Người Việt, 1984-85), Dâu Bể (Người Việt, 1986), Nguyễn Xuân Quang với Người Căm Thù Ruồi (Người Việt, 1986), v.v.

    Phía các nhà văn nữLinh Bảo tái xuất với Mây Tần (Việt-Nam Hải-Ngoại, 1981) là tuyển tập đoản văn và bút ký duy nhất xuất-bản thời hải-ngoại. Trích Lời nhà xuất bản: “Với “Mây Tần”, độc giả sẽ cùng chia xẻ tâm tình với “cánh diều” Linh Bảo qua hình ảnh các nhân vật thuộc đủ mọi quốc tịch, lưu vong, tha hương, cô đơn và luôn khắc khoải hướng về quê cũ (…). Với “Mây Tần”, người Việt lưu vong của thập niên 1980 sống lại những mảnh đời của những người Việt lưu vong – hay tha hương – của những thập niên 1970, 1960 và 1950 … Và những người Việt lưu vong của những thế hệ mai sau – nếu còn phải lưu vong – sẽ được sống lại cái kiếp “mây tần” của chúng ta ngày hôm nay. Bởi vì, những mảnh tâm tình trong “Mây Tần” như những lời tiên tri, mãi mãi còn nghiệm đúng, nếu vẫn còn những người Việt lưu vong vì lý do này hay lý do khác.

    Với “Mây Tần”, những người Việt chưa hề xa xứ, những thế hệ Việt mai sau được giải thoát khỏi gông cùm cộng sản, sẽ có thêm một tài liệu văn học để hiểu chúng ta hơn, để cảm thông hơn những ray rứt xé lòng của chúng ta – những người Việt lưu vong- trong những năm tháng xa quê hương, long luôn hướng về ”muôn dặm tử phần” của nguồn cội”.

    Trần Diệu Hằng tác-giả Vũ Điệu Của Loài Công (Ngọc Lũ, 1984) và Mưa Đất Lạ (Làng Văn, 1986) vào thời đầu. Nhà văn chứng tỏ tìm kiếm cho mình một bút pháp, viết về những vấn đề của người di dân/tỵ nạn Việt-Nam đã và đang sinh sống bên ngoài quê hương nói chung và những vấn đề của người phụ nữ Việt, hội nhập,…

    Phan Thị Trọng Tuyến với Mùa Hè, Một Nơi Khác (Văn Nghệ, 1986) trong đó lưu đày và quê nhà chiếm nhiều phần và là cốt lõi của nội-dung.

    Lê Thị Huệ (1953-) từ Bụi Hồng (1981, sau là tựa tập truyện xuất-bản, Lũy Tre Xanh, 1984), một truyện ngắn đầu tay, đã cho thấy những tang thương, biến đổi do biến cố 30-4-1975.

    *

    Về thơ, Du Tử Lê lúc bấy giờ lo xa:

    “Khi tôi chết hãy đem tôi ra biển
    đời lưu vong không cả một nấm mồ
    vùi đất lạ thịt xương e khó rã
    hồn không đi sao trở lại quê nhà
    Khi tôi chết hãy đem tôi ra biển
    Nước ngược dòng sẽ đẩy xác tôi đi
    bên kia biển là quê hương tôi đó
    rặng tre xưa muôn tuổi vẫn xanh rì …”
    (Khi Tôi Chết Hãy Đem Tôi Ra Biển)

    Luân Hoán có những bài làm khi còn ở trong nước trong tập Hơi Thở Việt-Nam (xuất bản ở hải ngoại 1986) kể chuyện thân thế và học tập:

    “ông bà tôi đã chết / cha mẹ đã làm ma
    tôi chừ cũng đã chết / tất cả đều Quốc gia
    (…) rồi thì tôi đi lính / đuổi giặc chạy dài dài
    tiếc rằng chưa giết hết / lũ khát máu độc tài
    (…) rồi thì cách mạng bắt / một hai bảo tôi khai
    tôi khai hoài khai mãi / tôi khai mãi khai hoài
    lý lịch tôi từ đó / đâm ra thành truyện dài
    mai sau in thành sách / may ra thành thiên tài
    xin cảm ơn cách mạng / tôi nguyện cầm bút hoài…”.

    Thái Tú Hạp, tác giả Chim Quyên Lạc Đàn (1982) và Miền Yêu Dấu Phương Đông (1987) :

    “Trên dốc đèo đá dựng / bà mẹ già thăm nuôi
    qua trại tù im vắng / đứa con mẹ về đâu?
    Trên những cánh rừng sâu / người vợ hiền qua trại
    nắng chiều đọng bờ lau / ngậm ngùi như chiếc lá
    Trên hàng sắn mộ xanh / xác người tù rã mục
    mắt em bé long lanh / nuốt hờn căm sôi sục
    …Tiếng lau buồn thiên thu / bên mồ hoang hiu hắt
    cõi hư vô về đâu? / người tù binh tự sát..”
    (Người Tù Binh Dũng Liệt)

    Nguyễn Tất Nhiên nhà thơ tình yêu nay trong hoàn cảnh chung có những bài viết về thân phận, cuộc đổi đời khiến hạnh-phúc xáo trộn, vai trò, thân phận đều đổi. Ở hải-ngoại ông xuất-bản Thơ Nguyễn Tất Nhiên (Paris: Sudasie/Nam Á, 1980; Đại Nam, 1982), Chuông Mơ (Văn Nghệ, 1987), Tâm Dung (Người Việt, 1989).

    Có những bài như Paris, Khúc Tháng Chín, về cuộc sống mới sau khi rời Việt Nam:

    “… kẻ vượt biển đã tới bến mạnh lành
    nhưng chết ngay khi đặt chân lên bờ đất
    kẻ leo rào đã chụp được Tự Do
    nhưng tức thời buông tay bổ ngửa
    là ta
    … em thì xa quá xa
    làm sao nghe tiếng vỡ loảng xoảng dòn tan
    lung bung lòng gác chật
    phải, ta đánh rơi ta
    nát vụn
    sau khi đánh rơi Việt Nam
    bên kia bờ biển mịt…” (Paris, 22/9/80)

    Ngoài ra còn có Nguyễn Mạnh Trinh với Thơ Nguyễn Mạnh Trinh (Người Việt, 1985), trước 1975 là sĩ quan Không quân, sau 1975 bị tù “học tập”, vượt biên và tị nạn ở Hoa-Kỳ từ 1980; lúc đầu sáng-tác thơ, sau đó viết tiểu luận và phê-bình tác-giả cùng sách báo, biến cố văn-học, xã-hội và chính-trị. Thơ ông vẫn giữ được nét ngang tàng trong đời mới và thơ cũng là những tình cảm ngậm ngùi, như trong bài Tâm Hoa:

    Cảm ơn hoa đã vì ta nở
    Mười ba năm thoảng đã vô cùng
    Đời theo triều nước Tiền Giang vỗ
    Lòng ta Vàm Cống cũng mịt mùng (…)”

    Hoặc trong Sáng Lãng Quên:

    Buổi sáng tấm lòng ta tịch mịch
    nghe từng sợi nắng cợt trêu mình
    dáng trời hôm nay như ngọc bích
    sao ta nghĩ mãi chuyện u minh
    (…) Ta sống như ta còn biệt tích
    chiếu giường tiền kiếp giấc mơ im
    ngựa vó xoãi quanh hoài vở kịch
    nghẹn dòng máu lạ ngại về tim
    (…) Buổi sáng thâm tâm tờ giấy trắng
    bút mực chưa thành ý lẻ loi
    hiển nhiên ngày tháng đành câm lặng
    trôi mãi chưa qua một góc đời …

    Lưu Văn Vịnh (11), tự Hạ Long Bụt Sĩ, chủ trương Hạ Long Văn Đàn. Hạ Long Thư Các đã xuất bản các thi tập Lang Thang Ngày Tháng Quê Người (1981), Lửa Đốt Hư Vô (1998), Oang Oang Lòng Chén Rỗng (2007), các sáng tác Anh ngữ, các dịch thuật thơ cùng các biên luận, tùy bút Việt Sử Siêu Linh (1999), Bốn Lần Leo Núi Tản (2000), Mò Gươm Dưới Đáy Thời Gian (2006), Việt Sử Bình Nghị (2018), Gót Chân Luân Hồi (2022), …

    “Trời nắng cam / bình minh óng ánh
    đất bốc sương / cỏ biếc dấu hài tiên / gốc mai tân
    giấy khai sinh Nữ Oa treo pháo đỏ
    ngỏ lời xuân chim Lạc ngự rừng hoa
    dâng nước Động đình / cất rượu
    bừng bừng Ngũ lĩnh
    ngây ngất bước Nam chinh” (Nắng Cam).

    “Một mình quán vắng lặng im
    Nghe cơn sâu xé con tim tan tành
    Không gian rờn rợn yêu tinh
    Đang rung cho đổ thiên đình đêm nay
    Khói dâng lụt mắt cay cay
    Lạy trời núi lửa nổ ngay trên đầu
    Ta buồn bớ quán rượu đâu
    Cổ khô hạn hán mắt ngầu máu điên
    A ha nghìn gái thuyền quyên
    Mới hòng rũ sạch ưu phiền bốn phương
    Đêm nay ta muốn cởi truồng
    Cho thân thể nhẹ trên đường hư vô”

    (Nhập Hư Vô, LĐHV, tr. 134)

    Phía nữ, Vi Khuê xuất-bản tập thơ Cát Vàng (1985) và tập truyện Ngựa Hồng Trên Đồi Cỏ (1986) ở giai đoạn này. Thơ Vi Khuê khởi từ những khung trời và tình ý cổ điển trang trọng tìm đến nắng vàng hiện-đại:

    Gởi hồn theo sách về Non Nước
    nước mấy ngàn năm mấy gấm hoa
    nước thơm trang sử thơm tình đất
    nước vẫn ngàn năm nước Việt ta
            Nước có tích xưa một trăm trứng
    cha là rồng mẹ vốn là tiên
    mẹ đi lên núi cha về biển
    con đã trăm con rẽ trăm miền
            Nước có con thuyền trôi ngược sóng
    có người tuốt kiếm dưới trăng ca
    câu thơ hào khí thơ hùng tráng
    “thế sự du du nại lão hà”
             Nước có non cao chín ngọn Hồng
    sông Hương núi Ngự mấy hưng vong
    phù sa bãi lượn Đồng Nai rợp
    bóng rặng dừa xanh ngắt Cửu Long
            Nước có Vua Bà xưa cưỡi voi
    có cô công chúa lấy dân chài
    có Văn chương mở ngàn pho sách
    có Bạch Đằng giang khiếp vía ai
            Nước xưa có Trạng ngồi ghi chép
    sấm truyền nghiêm trọng xuống lòng dân
    một đời gối chiếc hai dòng lệ
    thù ghét can qua, giận lũ cuồng
            Nước có sao đông có sao tây
    nước có kỳ hoa dị thảo đầy
    nhưng nước ngàn năm còn nước khổ
    lịch sử cuồng trong trận gió quay
           Gởi hồn theo sách về Non Nước
    cát bụi thân mình lại xót xa
    ôi! hỡi hồn thiêng sông núi hỡi
    ngày nao ta trở lại quê nhà?” – 1982
    (Gởi Hồn Theo Sách)

    Như đã nhìn qua, hai năm cuối của giai đoạn này, 1985-1986 – và ba, bốn năm đầu của giai đoạn tiếp theo, đã là những năm hải ngoại phồn thịnh nhất về xuất-bản phẩm cũng như nội-dung các tác-phẩm phong phú, đa dạng cùng các sinh hoạt văn-học, báo-chí, ra mắt sách, v.v.

    Nguyễn Vy Khanh

    ……………………

    Chú-thích:

    6- Trích lại từ Nguyễn Hưng Quốc. ” 20 năm văn học Việt-Nam ở hải ngoại” in 20 Năm Văn Học Hải Ngoại 1975-1995 (Glendale, CA: Đại Nam, 1995). Tập 1, tr. 18)

    7- Về việc xuất-bản Bản Chúc Thư của Một Người Việt-Nam “192 bài thơ bi hùng”, X. Việt Báo Kinh Tế 8-11-1995; Văn Nghệ Tiền Phong 479, 1-1-1996.

    8- Bản Chúc Thư của Một Người Việt-Nam. Bản Tú Quỳnh, 1980, tr. 59-60.

    9- Trước khi mất, DA biết thủ phạm nhưng ông không màng công bố và tố cáo. X. Vĩnh Phúc. Sđd.

    10- Lớp Sóng Phế Hưng viết xong ngày 10-6-1983; Phong trào Thanh niên Hành Động Xã hội, Paris Pháp, in roneo 1983; tb, Tủ sách Cành Nam, Hoa Kỳ, 1988.

    11- Lưu Văn Vịnh tự Hạ Long Bụt Sĩ, dược sĩ, tiểu bang California (1975-2004). Trước 1975, giảng sư triết học và tâm lý học Đại Học Vạn Hạnh, Minh Đức và Viện Y Tế Quốc Gia. Đã cộng tác với Thế Kỷ 21, Khởi Hành, Diễn Đàn Thế Kỷ, thuyết trình, TV Show từ 1972. Chủ trương Hạ Long Văn Đàn  https://halongvandan.wordpress.com/, Hạ Long Thư Các, Tịnh Khẩu Pháp Môn, Vietphilopoetry.

    [Văn Học Việt Nam 50 Năm Hải Ngoại. Quyển Thượng Tổng quan (Toronto: Nguyễn, 2025; lulu.com phát hành), trang 29-45]


    Không có nhận xét nào