Header Ads

  • Breaking News

    Bẫy giảm phát của Trung Quốc và tình trạng dư thừa công suất

    Nguyễn Kế Thùy Linh*

    01/9/2026

    “…Trung Quốc đang trải qua chuỗi giảm phát dài nhất kể từ cuối thập niên 1970. Thay vì kéo sức mua trong nước, Bắc Kinh đổ nguồn lực vào sản xuất công nghệ cao, biến dư thừa công suất thành làn sóng giá trẻ tràn ra thị trường toàn cầu, từ đó kích hoạt phản ứng phòng vệ thương mại ngày càng gay gắt từ Mỹ, EU và các nền kinh tế mới nổi”.

    Image

    Trung Quốc đang trải qua chuỗi giảm phát dài nhất kể từ cuối thập niên 1970 - (C): VSF/Canva

    Vào mùa xuân năm 2026, tại kỳ họp Lưỡng hội ở Bắc Kinh, Thủ tướng Lý Cường công bố mục tiêu tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) cho năm 2026 ở mức 4,5-5% - mức thấp nhất kể từ năm 1991 nếu không tính năm 2020, thời điểm đại dịch khiến chính phủ không đặt ra mục tiêu tăng trưởng. Con số khiêm tốn này xuất hiện đúng thời điểm mà nền kinh tế Trung Quốc đang mở rộng với tốc độ mà phần lớn các quốc gia phát triển khó lòng đạt được. GDP thực tế năm 2025 của Trung Quốc đã tăng trưởng đúng 5% theo mục tiêu đề ra, kim ngạch xuất khẩu vẫn liên tục thiết lập những kỷ lục mới, và Trung Quốc vẫn giữ vai trò là động lực tăng trưởng lớn nhất của nền kinh tế thế giới.

    Nghịch lý ấy chỉ có thể được lý giải thấu đáo khi ta xem xét một hiện tượng đã âm ỉ tồn tại suốt gần một thập kỷ và ngày càng ăn sâu vào cấu trúc nội tại của nền kinh tế Trung Quốc: tình trạng giảm phát. Theo báo cáo Tham vấn Điều IV năm 2025 của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), chỉ số giảm phát của GDP của Trung Quốc đã âm liên tục trong mười mấy quý. Đây là chuỗi giảm phát kéo dài nhất kể từ khi quốc gia này chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường vào cuối thập niên 1970.

    Nguyên nhân giảm phát kéo dài

    Chỉ số giá sản xuất của Trung Quốc, thước đo phản ánh giá bán tại cổng nhà máy, đã suy giảm liên tục trong hơn một năm rưỡi, tính đến giữa năm 2025. Trong khi đó, chỉ số giá tiêu dùng bình quân chỉ đạt mức 0% trong cả năm 2025, thấp hơn nhiều so với mục tiêu chính thức khoảng 2% mà Bắc Kinh đề ra.

    Theo IMF, tình trạng này bắt nguồn từ sự suy yếu kéo dài của nhu cầu nội địa, hệ quả trực tiếp của cuộc điều chỉnh chưa có hồi kết trên thị trường bất động sản, cộng với gánh nặng nợ nần đang bào mòn năng lực của các địa phương trong việc bù đắp cú sốc tổng cầu.

    Thị trường bất động sản từng là động lực tăng trưởng chủ lực của nền kinh tế Trung Quốc, chiếm tới 12,3% GDP xét về đầu tư xây dựng vào năm 2020; nhưng đến năm 2025, tỷ trọng này đã sụt xuống chỉ còn 6.1% trong khi số căn hộ hoàn thành thấp hơn gần 40% so với mức đỉnh của năm 2021. Về giá cả, dữ liệu chính thức của Cục Thống kê Quốc gia Trung Quốc cho thấy giá nhà mới tại 70 thành phố đã giảm liên tục hơn 35 tháng tính đến giữa năm 2026. Còn theo Ngân hàng Thanh toán Quốc tế, chỉ số giá bất động sản thực đã tụt từ đỉnh khoảng 113 điểm năm 2021 xuống còn 85.13 điểm trong Quý I năm 2026, tức là quay về thấp hơn cả mức khởi điểm khi chuỗi dữ liệu này bắt đầu được theo dõi vào năm 2005. Phần lớn tài sản tích lũy của các hộ gia đình Trung Quốc gắn liền với bất động sản, do đó sự sụt giảm giá trị nhà ở tạo ra hiệu ứng của cải âm, khiến người dân thắt chặt chi tiêu, từ đó hình thành một vòng xoáy tự củng cố giữa giá tài sản đi xuống, tiêu dùng co hẹp lại và áp lực giảm phát ngày càng gia tăng.

    Một cơ chế khuếch đại khác của tình trạng giảm phát này nằm ở tỷ giá đồng nhân dân tệ. Khi lạm phát nội địa suy yếu trong khi Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và nhiều ngân hàng trung ương lớn khác vẫn duy trì mặt bằng lãi suất cao, chênh lệch lãi suất khiến đồng nhân dân tệ chịu áp lực mất giá kéo dài.

    Sự kết hợp giữa giá bán tại cổng nhà máy giảm do dư thừa công suất trong nước và đồng nội tệ yếu hơn khiến hàng hóa Trung Quốc rẻ hơn tương đối trên thị trường quốc tế theo cả hai chiều: cả giá tính bằng nhân dân tệ lẫn tỷ giá quy đổi sang ngoại tệ. Nói cách khác, thay vì chỉ đơn thuần xuất khẩu hàng hóa, Trung Quốc trên thực tế đang “xuất khẩu” áp lực giảm phát sang phần còn lại của thế giới.

    Vào tháng 2, Ban Điều hành IMF nhấn mạnh rằng để xử lý tình trạng mất cân đối nội tại và đưa lạm phát trở lại mức lành mạnh, Trung Quốc cần triển khai những chính sách vĩ mô theo hướng mở rộng hơn, đặc biệt là kích thích tài khóa, đồng thời cần chuyển hướng mạnh mẽ cơ cấu chi tiêu sang hỗ trợ tiêu dùng cùng khu vực bất động sản thay vì tiếp tục đổ vào những khoản đầu tư kém hiệu quả. Có thể nói, “toa thuốc” mà giới chuyên gia kinh tế quốc tế kê đơn chính là kích cầu tiêu dùng một cách quyết liệt.

    Song trên thực tế, Bắc Kinh đã lựa chọn một con đường khác.

    Lựa chọn chính sách và hệ quả dư thừa công suất

    Thay vì triển khai các gói kích thích tiêu dùng trực tiếp với quy mô lớn theo kiểu phương Tây, Bắc Kinh tiếp tục ưu tiên đầu tư nhà nước vào các ngành sản xuất công nghệ cao như xe điện, pin lưu trữ, tấm pin mặt trời, robot công nghiệp và chất bán dẫn.

    Lựa chọn này không đơn thuần xuất phát từ tâm lý e ngại người dân phụ thuộc vào trợ cấp an sinh, mà phản ánh quan điểm của Bắc Kinh về phát triển trong giai đoạn hiện nay. Cụ thể, việc tiếp tục tích lũy năng lực sản xuất, công nghệ và khả năng tự chủ công nghiệp có ý nghĩa chiến lược lớn hơn việc kích thích tiêu dùng trong ngắn hạn, đặc biệt trước các rủi ro địa chính trị và sức ép hạn chế công nghệ từ bên ngoài.

    Tạp chí Cầu thị, cơ quan lý luận hàng đầu của Đảng Cộng sản Trung Quốc, lập luận rằng mức tiêu dùng tương đối thấp hiện nay là hệ quả “hợp lý về mặt lịch sử” của mô hình phát triển dựa trên đầu tư, vốn từng giúp Trung Quốc thu hẹp khoảng cách với các nền kinh tế phát triển. Theo logic này, chính quyền Trung Quốc ưu tiên tiếp tục củng cố năng lực sản xuất và công nghệ trong quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng.

    Trong báo cáo công bố đầu tháng 6 dựa trên cơ sở dữ liệu MAGIC (MAnufacturing Groups and Industrial Corporations) theo dõi trợ cấp ở cấp độ từng doanh nghiệp, Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) phát hiện rằng các doanh nghiệp có trụ sở tại Trung Quốc nhận được mức hỗ trợ nhà nước cao gấp ba đến tám lần so với các đối thủ cạnh tranh ở những nền kinh tế khác trong giai đoạn 2005 đến 2024, tập trung nhiều nhất vào các lĩnh vực năng lượng mặt trời, chất bán dẫn và công nghiệp nặng.

    Báo cáo này cũng ước tính rằng khoảng 60% mức tăng thị phần toàn cầu của các doanh nghiệp Trung Quốc trong giai đoạn trên có thể được lý giải bởi các khoản trợ cấp mà họ nhận được, so với mức bình quân toàn cầu chỉ khoảng 22%. Tuy nhiên, Bộ Thương mại Trung Quốc đã bác bỏ những kết luận này, cho rằng phương pháp luận của báo cáo mang tính chọn mẫu thiên lệch và bỏ qua những lợi thế cạnh tranh thực chất của doanh nghiệp Trung Quốc như quy mô sản xuất, hiệu suất và tốc độ đổi mới công nghệ.

    Vấn đề là, khi cầu nội địa vẫn còn yếu, năng lực sản xuất khổng lồ được xây dựng thêm không tìm đủ người mua trong nước; từ đó gây ra tình trạng dư thừa công suất có tính hệ thống, hàng hóa phải tìm đường ra qua kênh xuất khẩu với mức giá bán thấp hơn cả chi phí sản xuất thực tế. Ngành năng lượng mặt trời là minh chứng rõ nét nhất cho vòng xoáy này. Theo dữ liệu tổng hợp từ báo cáo tài chính sơ bộ của các doanh nghiệp, chỉ riêng trong nửa đầu năm 2026, ba tập đoàn sản xuất pin mặt trời hàng đầu Trung Quốc là LONGi, Tongwei và TCL Zhonghuan đã công bố khoản lỗ ròng tổng cộng vượt 10 tỷ nhân dân tệ, tương đương khoảng 1,48 tỷ USD, và nếu tính rộng ra 21 doanh nghiệp niêm yết trong ngành, tổng khoản lỗ dự kiến lên tới 13-16,8 tỷ nhân dân tệ. Đây là hệ quả trực tiếp của tình trạng mất cân đối cung cầu dai dẳng, ngay trong chính lĩnh vực công nghiệp mà Trung Quốc đang giữ vị thế thống trị toàn cầu.

    Chính mấu chốt này đã khiến bẫy giảm phát của Trung Quốc trở nên khác biệt so với những trường hợp giảm phát thông thường từng được ghi nhận trong lịch sử kinh tế thế giới. Chính sách vốn được kỳ vọng có thể đối phó với giảm phát, tức là đẩy mạnh đầu tư sản xuất, lại vô tình tạo ra thêm áp lực giảm phát mới thông qua tình trạng dư cung, giá bán suy giảm và biên lợi nhuận doanh nghiệp bị bào mòn. Hệ quả là, doanh nghiệp cũng như chính quyền địa phương càng thêm dè dặt trong việc rót vốn vào những lĩnh vực có khả năng thúc đẩy tiêu dùng, khiến vòng lặp tiếp tục vận hành.

    Làn sóng xuất khẩu và phản ứng từ phương Tây

    Trung Quốc đạt mức thặng dư thương mại vượt một nghìn tỷ USD trong 11 tháng đầu năm 2025, và khi khép lại cả năm, con số này đã đạt kỷ lục gần 1,2 nghìn tỷ USD, cao hơn mức 992 tỷ USD của năm 2024, ngay giữa lúc căng thẳng thương mại với Mỹ vẫn chưa hạ nhiệt. Mức tăng đáng kể này là do các nhà sản xuất chuyển hướng mạnh mẽ sang những thị trường ngoài nước Mỹ, đặc biệt là Liên hiệp châu Âu (EU) và khu vực Đông Nam Á.

    Trong lĩnh vực xe điện, mức độ thâm nhập vào các thị trường mới nổi đặc biệt ấn tượng. Theo phân tích của Hội đồng Quan hệ Đối ngoại châu Âu, xe điện nhập khẩu từ Trung Quốc chiếm hơn 80% doanh số xe điện bán ra tại Brazil, Thái Lan và Uzbekistan, cùng khoảng 60% tại Indonesia, Malaysia và Mexico, tính theo dữ liệu năm 2024.

    Tại Washington, ngày 11/3, Văn phòng Đại diện Thương mại Mỹ chính thức khởi động một cuộc điều tra theo Mục 301 của Đạo luật Thương mại năm 1974, nhắm trực tiếp vào tình trạng dư thừa công suất mang tính cấu trúc tại 16 nền kinh tế, trong đó có Trung Quốc, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ và nhiều nền kinh tế châu Á khác.

    Đây là một mắt xích trong kiến trúc thuế quan mới mà Mỹ đang xây dựng, sau khi Tối cao Pháp viện, vào tháng 2, ra phán quyết vô hiệu hóa cơ sở pháp lý của Đạo luật Quyền hạn Kinh tế Khẩn cấp Quốc tế năm 1977 (IEEPA) từng được sử dụng để áp đặt mức thuế mang tên “Ngày Giải phóng” (Liberation Day). Cuộc điều tra được thiết kế để hoàn tất trước ngày 24/7, thời điểm quyền áp thuế tạm thời theo Mục 122 hết hiệu lực, nhằm đảm bảo tính liên tục của hàng rào thuế quan.

    Về phía châu Âu, EU đã áp thuế chống trợ cấp lên xe điện nhập khẩu từ Trung Quốc kể từ cuối tháng 10/2024, với mức thuế khác biệt theo từng hãng, dao động từ 7.8% đối với Tesla sản xuất tại Trung Quốc đến 35.3% đối với SAIC Motor (Tập đoàn Công nghiệp Ô tô Thượng Hải), cộng thêm mức thuế nhập khẩu ô tô tiêu chuẩn 10% vốn có.  Tuy nhiên, những rào cản này chưa đủ sức ngăn làn sóng xuất khẩu.

    Chính vì những hạn chế cố hữu của cách tiếp cận áp thuế theo từng sản phẩm, Brussels hiện đang cân nhắc xây dựng một công cụ mới mang tính hệ thống hơn, được gọi không chính thức là công cụ dư thừa công suất, về bản chất tương đương với phiên bản châu Âu của Mục 301 bên phía Mỹ, cho phép phản ứng trực tiếp trước những sai lệch mang tính hệ thống trên toàn nền kinh tế thay vì phải chứng minh thiệt hại cho từng ngành cụ thể. Tổng thống Pháp Emmanuel Macron, sau chuyến thăm Bắc Kinh vào tháng 12/2025, chính là người khởi xướng ý tưởng này, đồng thời cảnh báo rằng châu Âu có thể buộc phải tách rời khỏi Trung Quốc trong những lĩnh vực chiến lược nếu Bắc Kinh không xử lý tình trạng mất cân đối thương mại đang ngày càng lớn.

    Những căng thẳng này đang để lại dấu ấn rõ nét lên bức tranh thương mại toàn cầu. Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), trong báo cáo Triển vọng và Thống kê Thương mại Toàn cầu công bố ngày 19/3, dự báo tăng trưởng khối lượng thương mại hàng hóa toàn cầu sẽ chậm lại còn 1,9% trong năm 2026, giảm mạnh so với mức 4,6% của năm 2025, một phần do thương mại quay trở lại trạng thái bình thường sau đợt tăng vọt liên quan đến các sản phẩm phục vụ trí tuệ nhân tạo, và một phần do hoạt động nhập khẩu trước đó từng được đẩy nhanh nhằm tránh những đợt thuế quan mới. Theo dự báo của WTO, rủi ro từ xung đột tại Trung Đông, khi giá năng lượng duy trì ở mức cao, có thể kéo tăng trưởng thương mại xuống thấp hơn nữa.

    Diễn giải lạm phát Trung Quốc ra sao?

    Tình trạng giảm phát tại Trung Quốc có thể được diễn giải theo hai hướng. Lối diễn giải thứ nhất cho rằng Trung Quốc đang bước theo vết xe đổ mà Nhật Bản từng trải qua sau khi bong bóng bất động sản vỡ vào năm 1991, một cuộc suy thoái bất cân đối kế toán kéo dài hàng thập kỷ, dân số già hóa nhanh chóng, và một chính quyền phản ứng chậm chạp, nửa vời trước khủng hoảng. Theo lối diễn giải này, việc Bắc Kinh dường như không sẵn lòng hành động quyết liệt để chặn đứng đà giảm phát là biểu hiện của sự trì trệ thể chế, chứ không phải một chiến lược có chủ đích.

    Lối diễn giải thứ hai lại nhìn nhận vấn đề theo hướng ngược lại, cho rằng việc Bắc Kinh chấp nhận đánh đổi tăng trưởng ngắn hạn cùng tình trạng giảm phát để đổi lấy vị thế thống trị trong những ngành công nghiệp của tương lai chính là một tính toán duy lý gắn liền với sự sinh tồn của chế độ, trong đó việc duy trì kiểm soát và tự chủ công nghệ được ưu tiên hơn những đơn thuốc kích cầu kiểu phương Tây.

    IMF cho rằng quy mô kinh tế lớn của Trung Quốc cùng căng thẳng thương mại toàn cầu ngày càng leo thang đang khiến việc tiếp tục dựa vào xuất khẩu để duy trì đà tăng trưởng ngày càng kém khả thi. Bất luận động cơ thực sự của Bắc Kinh là gì, con đường hiện tại của quốc gia này vẫn mang tính chất tự giới hạn chính mình. Bởi lẽ, các đối tác thương mại lớn, từ Mỹ đến EU và ngày càng nhiều thị trường mới nổi khác, đều đang dựng lên những rào cản mới nhằm tự bảo vệ mình trước áp lực từ Trung Quốc.

    Chẳng hạn, Brazil đã khôi phục thuế nhập khẩu đối với xe điện từ năm 2025 và mở rộng biện pháp phòng vệ sang cả ngành thép, trong khi Mexico công bố kế hoạch nâng thuế xe điện Trung Quốc và các nước châu Á khác lên tới 50% kể từ đầu năm nay nhằm giảm phụ thuộc nhập khẩu và thúc đẩy giá trị gia tăng nội địa.

    ***

    Như vậy, bẫy giảm phát của Trung Quốc không đơn thuần là một vấn đề kinh tế trong nước, mà đã trở thành một biến số trung tâm trong chính trị thương mại toàn cầu. Với tài khoản vãng lai đã tăng lên mức ước tính 3,3% GDP trong năm 2025, một phần do đồng nhân dân tệ mất giá thực tế so với các đối tác thương mại, và với năng lực sản xuất tiếp tục vượt xa nhu cầu nội địa, áp lực xuất khẩu bắt nguồn từ Trung Quốc nhiều khả năng sẽ chưa sớm hạ nhiệt. Thực tế này có thể kéo theo làn sóng phòng vệ thương mại tiếp tục lan rộng từ Mỹ, EU cho đến nhiều nền kinh tế mới nổi khác.

    Nguyễn Kế Thùy Linh tốt nghiệp chuyên ngành Luật Quốc tế tại Học viện Ngoại giao. Lĩnh vực nghiên cứu của cô xoay quanh quan hệ quốc tế, tranh chấp quốc tế, cùng các vấn đề lịch sử, chính trị, kinh tế và ngoại giao giữa các quốc gia.


    Không có nhận xét nào