Header Ads

  • Breaking News

    Từ công hàm 1958 tới chiến tranh biên giới 1979

    Hòa OC/Nam Hàn

    9/9/2026

    DISCLAIMER: Hình quân đội Trung Quốc trong chiến tranh biên giới Việt-Trung năm 1979 lượm lặt trên Google Images.

    Video của Trung Quốc về Vòng Tròn Bất Tử ở Gạc Ma năm 1988:

     https://youtu.be/FYtyO6l2uGM?si=PnQrJ79lnhmcp3Ji

    Bài viết về Lịch Sử Tranh Chấp Hoàng Sa & Trường Sa của tôi nhận rất nhiều lời bình luận. Lần này lời bình luận chửi rủa thoá mạ tác giả đã vượt ngưỡng 20%. Còn lại thì trên 40% là ủng hộ tán thành và dưới 40% tranh cãi về nội dung Công Hàm ngày 14/9/1958 do thủ tướng của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà-Phạm Văn Đồng ký.

    Việc tranh cãi xung quanh vấn đề 12 hải lý mà ông Đồng nhắc tới trong đoạn văn thứ 3 của Công Hàm. Nhiều người nói rằng, nếu 12 hải lý đó áp dụng cho đảo Hải Nam thì sẽ không tới được Hoàng Sa, nói gì tới Trường Sa.

    Thế nhưng điểm khúc mắc ở đây là chuyện ông Đồng công nhận 12 hải lý của Tàu ở đoạn văn thứ 3, nhưng ở đoạn văn thứ 2, ông ‘ghi nhận và tán thành’ tuyên bố của Trung Cộng, cụ thể là của thủ tướng Trung Cộng- Chu Ân Lai ngày 4/9/1958 về hải phận, mà trong tuyên bố đó có đề cập chủ quyền đối với Tây Sa (Hoàng Sa) và Nam Sa (Trường Sa).

    Trước đây có báo ở Việt Nam từng thừa nhận có Công Hàm này, và giải thích chuyện ông Đồng ký Công Hàm là để nhận sự ủng hộ của Trung Cộng trong cuộc nội chiến với Việt Nam Cộng Hoà, rằng ông Đồng ngây thơ tin rằng Bắc Việt và Trung Cộng vừa là đồng chí vừa là anh em nên tin Trung Cộng sẽ không chiếm đảo của Việt Nam, vì trước đó đã có tiền lệ chuyện Trung Cộng từng trả lại đảo Bạch Long Vĩ cho Bắc Việt.

    Phân tích từng câu chữ của Công Hàm sẽ thấy đây là 1 sai lầm về ngoại giao rất lớn của chính phủ Phạm Văn Đồng. Đoạn văn thứ 2 nói VNDCCH ‘ghi nhận và tán thành’ tuyên bố của Trung Cộng ngày 4/9/1958 về hải phận của Trung Cộng. Tuyên bố này của Trung Cộng có thể là 1 bản tuyên bố bằng giấy, bằng video, hay bằng băng ghi âm, nhưng nó lại không được kèm theo trong Công Hàm. Lỡ Trung Cộng trình ra bản Tuyên Bố không đúng với những gì ông Đồng nghe hay thấy trước khi đặt bút ký Công Hàm này thì sao ? Ai sẽ làm nhân chứng cho Tuyên bố ngày 4/9/1958 của Chu Ân Lai ? Lỡ họ thêm vào Tây Sa (Hoàng Sa) và Nam Sa (Trường Sa) sau khi ông Đồng ký Công Hàm và gởi tới cho Chu Ân Lai thì sao ?

    Đó một chi tiết ít ai để ý là thời của bộ ba Hồ Chí Minh-Phạm Văn Đồng-Võ Nguyên Giáp, tình đồng chí giữa Bắc Việt và Trung Cộng rất keo sơn, thân thiết. Nhà thơ Chế Lan Viên từng viết rằng: “Bác Mao nào ở đâu xa. Bác Hồ ta đó chính là Bác Mao.” Trên thực tế thì Hồ Chí Minh rất thân với Chu Ân Lai, thủ tướng của Trung Cộng. Nghe nói khi Hồ Chí Minh qua đời, Chu Ân Lai bỏ hết việc nước bên Tàu để qua Việt Nam để tang Hồ Chí Minh tới 1 tuần.

    Nhưng đến thời Lê Duẩn lên làm Tổng Bí Thư thì bộ ba Hồ Chí Minh-Phạm Văn Đồng-Võ Nguyên Giáp bị cho về ngồi chơi xơi nước. Hồ Chí Minh bị tước quyền lực thực tế, chỉ là nhân vật biểu tượng, thường xuyên qua Trung Quốc chữa bệnh. Phạm Văn Đồng làm thủ tướng bù nhìn, và Võ Nguyên Giáp bị tước hết binh quyền, không được vô bộ Chính Trị, bị đem qua chính phủ làm phó thủ tướng kiêm trưởng ban kế hoạch hoá gia đình. Dân Gian gọi ông là Thống Chế Đặt Vòng phụ khoa cho chị em. Đó là sự hạ nhục ngầm của Lê Duẩn.

    Lê Duẩn lợi dụng sự lục đục giữa Liên Xô và Trung Cộng trên vấn đề biên giới phía Đông Bắc của Trung Quốc để kết thân với Liên Xô. Con gái Lê Duẩn du học ở Nga và lấy chồng Nga. Lê Duẩn rất thân với lãnh đạo Liên Xô. Lê Duẩn trở thành cái gai trong mắt của Đặng Tiểu Bình.

    Từ 2 quốc gia cộng sản thân thiết tình thương mến thương, tình như thủ túc, Đặng Tiểu Bình tuyên bố ‘dạy cho Việt Nam một bài học’, xua quân qua biên giới tấn công Việt Nam vào tháng 2 năm 1979. 

    Vài tháng trước đó, tức cuối năm 1978, Lê Duẩn xua quân qua Campuchia đánh quân Khơ-me đỏ của Pôn-Pốt (Pol Pot). Pôn-Pốt tức là lãnh tụ cộng sản Campuchia, là đàn em của Đặng Tiểu Bình. Trung Cộng mượn tay Pôn-Pốt để diệt chủng người Khơ-me phi cộng sản, đa số là trí thức tư sản và tiểu thương ở thành thị, từ đó thiết lập chế độ cộng sản nguyên thuỷ ở Campuchia, tạo thành gọng kèm khống chế đứa em cộng sản Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Lê Duẩn.

    Họ Đặng cho rằng quân chính quy của Việt Nam đang ở bên kia biên giới Campuchia thì Lê Duẩn sẽ cho rút quân về Bắc phòng thủ biên giới. Khi đó họ Đặng vừa cứu đàn em Pôn-Pốt vừa tạo thế gọng kìm cho Pôn-Pốt phản công đánh phá biên giới Tây Nam của Việt Nam. Từ biên giới Tây Nam tới biên giới phía Bắc là 1 quãng đường quá xa cho Việt Nam di chuyển đội quân lớn để phản công lại quân Tàu.

    Ai ngờ Lê Duẩn chỉ rút về một đội quân tinh nhuệ làm nòng cốt, dùng địa phương quân và dân quân phản công đánh Tàu ở 6 tỉnh biên giới.

    Giới quân sự thế giới phân tích rất kỹ nguyên nhân thất bại của quân Tàu ở chiến tranh biên giới 1979 này. Nôm na là thế này: Quân đội Bắc Việt mới chiến thắng cuộc nội chiến, tiến quân qua Campuchia cũng trên đà thắng giòn giã quân Khơ-mơ đỏ. Đội quân này có đội ngũ tướng tá có tới 20 năm kinh nghiệm chiến đấu. Trong khi đó, quân Tàu không hề có 1 chút kinh nghiệm tác chiến. Họ Tập lại dùng quân ở quân khu miền Nam và Tây Nam, vốn không phải là quân có kinh nghiệm trong chiến tranh biên giới với Liên Xô ở phía Đông Bắc. Quân Tàu đúng là đông hơn, chiếm được 6 tỉnh biên giới phía Bắc khá nhanh, nhưng trụ không nổi vì sự thiện chiến của quân đội Bắc Việt. Thương vong quá lớn trong khi mục đích là để ‘dạy cho Việt Nam 1 bài học’, chớ không phải xâm lược Việt Nam. Họ Đặng lấy cớ là đã đạt mục tiêu nên cho rút quân về để giữ mặt mũi.

    Tuy nhiên, nhờ cuộc chiến tranh biên giới này mà Đặng Tiểu Bình mới nắm được quân đội, từ từ đảo chính ngầm Hoa Quốc Phong, người được Mao Trạch Đông chọn làm người thừa kế. Mao chưa bao giờ chọn họ Đặng.

    Thất bại trong chiến tranh biên giới 1979 là nỗi uất hận lớn nhất trong đời của họ Đặng. Thua me gỡ bài cào, thua trên bộ thì Tàu gỡ gạc lại trên biển. 9 năm sau, ngày 14/3/1988, hải quân Trung Cộng đánh chiếm bãi đá ngầm Gạc Ma, tên tiếng Anh là Johnson South Reef. Khi đó bộ đội công binh hải quân được lệnh giữ bãi đá nhưng không được nổ súng. Họ đứng quanh cột cờ trên bãi đá. Hải quân Trung Cộng dã man dùng súng đại liên và tiểu liên trên chiến hạm bắn vào bộ đội Việt Nam. 64 bộ đội đã ngã xuống. Sau này tướng Lê Mã Lương viết sách kể lại, gọi đó là Vòng Tròn Bất Tử. Lệnh không được nổ súng do bộ trưởng quốc phòng Việt Nam lúc đó là Lê Đức Anh ban ra.

    Sau này Lê Đức Anh lên chức Chủ Tịch Nước nhưng vẫn nắm quân đội. Lê Đức Anh trở thành chủ tịch nước quyền lực nhất trong lịch sử đảng cộng sản Việt Nam. 

    Sẵn dịp nói tới quyền lực, Lê Duẩn chính là tổng bí thư quyền lực nhất trong lịch sử đảng cộng sản Việt Nam. Lê Duẩn là nhân tố làm thay đổi quan hệ Việt-Trung gần như 180 độ so với thời của Trường Chinh và Hồ Chí Minh. Cuộc chiến tranh biên giới Việt-Trung năm 1979 là minh chứng hùng hồn nhất.

    Nghe nói Lê Duẩn rất bất bình với Phạm Văn Đồng về cái Công Hàm năm 1958 này. Lê Duẩn không tin Tàu như cách Phạm Văn Đồng và Hồ Chí Minh tin Tàu nên Lê Duẩn ra lệnh phải giữ Trường Sa bằng mọi giá. Đó là lời kể của bà vợ miền Nam của ông, bà Bảy Vân trong phỏng vấn của đài BBC Tiếng Việt. 

    Hòa OC


    Không có nhận xét nào