Kỳ 6
Tác giả: Hoàng Hưng
September 3, 2026
Về nhà, tôi mới biết là mình đã được anh cả, BS Hoàng Văn Sơn làm giấy tờ bảo lãnh!
Khoảng 5 tháng sau khi lên trại, một hôm tôi được gọi ra gặp gia đình!
Khỏi nói niềm vui của tôi lúc ấy.
Vợ tôi ra Hà Nội, cùng bà mẹ vợ và anh trai cả của tôi, Hoàng Văn Sơn, lên thăm!
Tôi được ra “nhà hạnh phúc” ở với vợ một đêm.
Đêm ấy tôi mới được biết tình cảnh của vợ con trong gần 3 năm tôi đi tù:
Mấy tháng sau hôm tôi bị bắt, vợ tôi đã bị một người bạn rất thân của tôi ở Hải Phòng vào chơi lừa mất 16 chỉ vàng giành dụm, nói là để “chạy án” cho tôi! Không còn khoản thu nhập hàng ngày (trước đó, vợ tôi đã xin nghỉ việc ở Công ty Thiết bị Giáo dục để ở nhà chăm lo cho 2 con nhỏ), có những buổi cả nhà phải ăn chuối trừ bữa! Những ngày mưa, ngôi nhà nhỏ ngập nước cống rãnh tràn vào từ sân trước, nước bãi hoang tàn vào từ sân sau, kéo vào cả đống giun, lươn, cá lành canh, nước mưa trút xuống qua mái tôn dột nát, mình em chống chọi!
May mắn là sau đó, vợ tôi được các bạn tốt trong giới văn chương của tôi nhận vào làm việc hành chính ở chi nhánh NXB Văn Học: Trưởng chi nhánh, nhà văn Hoàng Lại Giang; nhà văn Nhật Tuấn. Thêm nữa, có được nguồn hàng để “buôn” từ Hà Nội vào mà không cần vốn: đó là thuốc tây mà anh ruột tôi, bác sĩ Hoàng Văn Minh làm việc ở Algérie gửi về, vợ anh là Nguyễn Hải Đường giao hết cho vợ tôi mang vào Sài Gòn bán, hưởng chênh lệch giữa giá bán ở Sài Gòn với giá bán Hà Nội.
Vợ tôi vẫn cố gắng cho con gái lớn Hoàng Ly học vẽ, học nhạc ở Nhà Văn hoá Thiếu nhi, cố gắng mua cho con một cây đàn guitar mà cháu còn giữ được đến bây giờ!
Vợ con tôi ra Hà Nội thăm mẹ con chị Hải Đường (bên phải) trong thời gian tôi bị tù
Vợ tôi là một người lao động bình thường (công nhân cơ khí sửa máy khâu ở nhà máy Giầy da Thuỵ Khuê rồi nhân viên giữ kho của công ty Thiết bị Bộ Giáo dục), không được học đến hết bậc phổ thông. Theo tôi vào Sài Gòn ở tuổi 24, em hoàn toàn bỡ ngỡ, lạc lõng, nay lại gặp cảnh tai ương giữa một thành phố xa lạ, khó mà hình dung hết sự vất vả khổ cực của em trong những tháng năm này!
Nhưng em đã rất vững vàng, bản lĩnh! Ngay trong lần đối đầu với nhóm công an vào lục soát nhà, em đã đủ lý lẽ để bảo vệ những tài sản của gia đình mà họ mưu toan chiếm đoạt: những chỉ vàng giành dụm (mà họ ghi trong biên bản thu giữ là “kim loại màu vàng”), những bộ sách quí về hội hoạ mà tôi sưu tầm được… (Riêng cuốn “Vĩnh biệt tình em” là bản dịch “Doctor Zhivago” của Nguyễn Hữu Hiệu trước 1975 mà tôi mua tặng em nhân sinh nhật với lời đề tặng “Tặng em cuốn sách mà anh yêu” thì viên sĩ quan (hình như anh tên là Tú) cười nhạt khi đọc lời đề tặng và tịch thu mất). Rồi suốt 1 ngày “làm việc” ở văn phòng phía Nam của Bộ Công an, em đã vượt qua hết các truy vấn đầy cạm bẫy của họ để bảo vệ chồng mình!
Cũng muốn nói thêm là: tuy em không được học hành đến nơi đến chốn, nhưng lại có một trực cảm khá tốt về văn nghệ. Chẳng hạn như đọc thơ Đặng Đình Hưng, phần lớn các nhà thơ đương thời không “xực” nổi, có nhà thơ nổi tiếng còn kêu lên: “Thế mà gọi là thơ à?” thì em lại cảm nhận được, thích ngay! Có lẽ vì thế mà em đồng cảm và ủng hộ mọi việc làm dù có thể nguy hại cho sự an toàn của gia đình, tha thứ cho mọi lỗi lầm của người chồng này!
Thương em thương con mà không biết nói gì được! Chỉ lặng lẽ nắm chặt tay em!
Sáng hôm sau nữa, khi mọi người đã về, sĩ quan phụ trách công tác quản giáo trong ban giám thị trại, hình như cấp đại uý, gọi tôi lên “làm việc” thay vì đi lao động.
Rất tiếc là tôi không nhớ tên anh.
Anh cho biết: Từ hôm nay, tôi sẽ không đi lao động nữa, mà được giao phụ trách văn hoá của trại! Thay thế một người miền Nam (cựu nhân viên Phủ Đặc uỷ trung ương tình báo Sài Gòn). Như vậy tôi sẽ là 1 trong 3 người của “ban đại diện cải tạo viên” (1 người phụ tách an ninh – là cựu sĩ quan công an phạm tội, 1 người phụ trách lao động – là cựu nhân viên Phủ Đặc uỷ trung ương tình báo SG).
Trên danh nghĩa, phụ trách văn hoá là “trưởng ban đại diện” tù nhân, tức “trại trưởng”.
Có một chuyện vui vui liên quan đến “chức vụ” mới này của tôi.
Ở Sài Gòn, trước khi tôi bị bắt và Hà Thúc Sinh vượt biên, anh đưa tôi và Phan Đan đi xem tử vi tướng số. Ông thầy Thiên Sơn mù, nổi tiếng, ở trong một con hẻm đường Lý Thái Tổ. Vừa nghe tôi khai ngày tháng năm sinh, ông thầy nói ngay: “Mấy người đi với ông ra ngoài hết, tôi muốn nói riêng với ông”. Tôi cười bảo cứ để họ nghe, không sao đâu.
Ông ngước đôi mắt mù nhìn tôi rất nghiêm trọng: “Theo lá số này, ông có mệnh phất cờ khởi nghĩa, lên làm vua nhưng bạo phát bạo tàn”. (Ông nói về các sao chiếu mệnh, hình như Thái Tuế, Thất Sát… gì đó). Ba chúng tôi đều cười, coi là chuyện bói toán vớ vẩn.
Khi kể chuyện này cho các anh ở đội “chính trị Nam” nghe, các anh ấy cười lớn và bảo: “Thì câu bói đã nghiệm đúng còn gì? Anh bây giờ là Trại trưởng, tức là Vua rồi đấy!”
Nhưng thực tế, người phụ trách an ninh mới có quyền cao nhất, còn phụ trách văn hoá chỉ làm vài việc đơn giản: Hàng ngày, đọc báo Nhân Dân mỗi sáng cho toàn thể trại viên tập trung ngoài sân trại, trước khi trại viên xuất trại đi lao động; sau đó đi từng dãy lán để kiểm tra vệ sinh (mỗi ngày từng dãy lán cắt 2 người ở lại làm vệ sinh lán), “nội vụ” (tù nhân phải sắp xếp chăn màn gọn ghẽ vuông vắn ở đầu giường giống như trong doanh trại quân đội). Sau đó, tập trung đội văn nghệ tập đàn hát và tổ làm báo tường để sẵn sàng cho các ngày lễ.
Thì ra chuyến thăm của anh tôi làm ra chuyển biến căn bản đối với chế độ “cải tạo” của tôi.
Anh Sơn của tôi, TS Y khoa, thuộc lớp chuyên ngành xét nghiệm sinh hoá đầu tiên của miền Bắc. Anh từng là Trưởng khoa Xét nghiệm Sinh hoá của Bệnh viện Việt Xô, nơi điều trị cho các cán bộ trung cao cấp, kể cả cấp cao nhất. Các mẫu xét nghiệm của bộ chính trị, ban bí thư Trung ương Đảng đều qua tay anh, tất nhiên đều mang bí số. Khi lên trại thăm tôi, anh là Trưởng khoa Xét nghiệm của Viện Nhi. Anh đã đem theo dụng cụ xét nghiệm máu và rất nhiều thuốc men. Anh tổ chức xét nghiệm và phát thuốc cho tất cả cán bộ chiến sĩ công an của trại. Anh còn cho họ xem bức hình bố chúng tôi, bác sĩ Hoàng Thuỵ Ba, thay mặt nhân dân thủ đô tặng hoa cho Hồ Chủ tịch trong buổi họp Quốc hội đầu tiên sau khi Việt Minh tiếp quản Hà Nội 1954. Chắc anh cũng cho họ biết là Bố đã từ chối lời mời của Ông Ngô Đình Diệm vào Sài Gòn làm Tổng trưởng Y tế của chính phủ do ông thành lập, để ở lại Hà Nội đón Chủ tịch Hồ Chí Minh. (PGS TS Y học Hoàng Văn Sơn là ủy viên Ban chấp hành Tổng hội Y học Việt Nam, đại diện Hội hóa sinh y học Việt Nam tại Liên đoàn xét nghiệm y học thế giới).
Khi tôi bị bắt thì anh đang tu nghiệp tại Hà Lan. Vợ tôi có viết một lá thư kể về tình cảnh gia đình, nhờ cô Như Phi, em họ của tôi chuyển cho anh khi cô từ Việt Nam trở về Paris. Như Phi là một “Việt kiều yêu nước” đã giúp đỡ đoàn Việt Nam thời hội nghị Paris, đặc biệt là bà Nguyễn Thị Bình – Bộ trưởng Ngoại giao Chính phủ lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam. Vậy mà an ninh theo dõi ráo riết đến mức khi cô ra sân bay Tân Sơn Nhút, họ đã đòi xem lá thư. Cô nổi giận, nói: “Đây là thư gia đình của tôi. Các anh không cho mang ra thì tôi xé trước mặt các anh”.
Xong khoá tu nghiệp, trở về nước là anh thu xếp đi thăm tôi ngay. May mà có các đệ tử ngành sinh hoá của anh ở Thanh Hoá giúp cho mọi thông tin về cách thức đi lại, nếu không thì tìm lên được xứ khỉ ho cò gáy Thanh Cẩm cũng không dễ!
Anh Hoàng Văn Sơn vào Sài Gòn thăm Hoàng Hưng (năm 2000)
Sĩ quan quản giáo chuyện trò với tôi rất thân mật. Anh tự giới thiệu mình nguyên là giáo viên Văn, tức cựu đồng nghiệp với tôi. Anh cũng cho biết là nhiều năm trước đây, trại cũng từng có một người tù phụ trách văn hoá nguyên là nhà báo, tên là Nguyễn Tuân! Ồ! Hoá ra nhà thơ – phóng viên Đài Tiếng Nói Việt Nam với bút hiệu Tuân Nguyễn (anh dùng bút hiệu này vì tên khai sinh của anh trùng với tên nhà văn Nguyễn Tuân) đã ở đúng trại Thanh Cẩm này! Chợt nhớ, hồi đi cùng Phùng Quán đến thăm anh khi anh mới ra tù, ở với vợ là nhà thơ Phương Thuý (con gái ông Hoài Chân, đồng tác giả cuốn “Thi nhân Việt Nam”) trong một căn phòng nhỏ xíu trong ngõ Trần Hưng Đạo gần Ga Hàng Cỏ, anh có kể về cái trại cải tạo mà anh đã ở có kế hoạch làm thuỷ điện trên sông, làm mãi không xong, khiến cho nhiều người tù đến hạn được về vẫn phải ở lại! Đúng là câu chuyện tôi được nghe các tù nhân lâu năm ở đây kể! Dấu tích của “trạm thuỷ điện” bất thành vẫn còn ở gần trại, bên sông Mã!
Sau 1975, anh Tuân Nguyễn vào Sài Gòn dạy học, xuất bản cuốn truyện dịch “Con chó Bim trắng tai đen” từ tiếng Nga, anh cho biết đó là kết quả tự học trong thời gian ở tù. Thì tôi cũng vậy: sau khi ra tù, tôi cũng sốnng bằng việc dịch sách báo tiếng Anh nhờ tự học trong tù, tác phẩm dịch tiếng Anh xuất bản đầu tiên của tôi cũng là một… con thú nhưng là người-thú: “Mowgli người sói” (NXB Trẻ 1988). Tôi thường đến chơi với anh ở cư xá Thanh Đa.
Anh chết vì tai nạn giao thông, bị ô tô đâm lúc đạp xe đạp từ trường về nhà.
Mấy tháng sau, ngày tôi được trả tự do, người sĩ quan đáng mến này đã chủ động mời tôi về nhà ăn bữa trưa rồi đưa tôi ra bến xe ca thị trấn Cẩm Thuỷ để về thị xã Thanh Hoá. Trong bữa ăn, được biết bà vợ của anh bị bệnh phụ khoa, vậy là sau đó tôi đã gửi gắm chị với chị dâu tôi là Dược sĩ Dương Thị Nguyệt Minh ở Bệnh viện C (chuyên phụ sản) Hà Nội. Được biết chị có về Hà Nội chữa trị theo lời giới thiệu của tôi.
Ít ngày sau khi tôi “nhậm chức”, trại bố trí cho tôi ra ở một phòng riêng, nhưng tôi xin cứ ở chung trong lán của đội “chính trị Bắc”.
Một trong những lý do tôi không muốn ra “ở riêng” chính là: chỉ trong mấy ngày làm “trưởng trại”, tôi đã “được” các quản giáo liên tục “nhờ” lên “Khu Vatican” xin thuốc men, mì tôm, trà sâm… đến phát mệt. Nay mà ra ở một mình một buồng thì khả năng bị “nhờ” chắc sẽ lên rất cao!
Cũng như tôi đã mấy lần từ chối lời gợi ý ngọt ngào của họ là đưa tôi ra ngoài, vào làng, ra thị trấn… chơi ngày chủ nhật! Tôi không ham! Chơi vui gì khi sẽ phải hầu hạ họ trong lúc chơi kia chứ?
Tóm lại là trong mấy tháng làm chân “văn hoá” của trại, tôi không hề lợi dụng “chức vụ” để mưu lợi gì cho riêng mình, cũng không phục vụ gì cho trại hay các cán bộ trại ngoài những việc phải làm đúng bổn phận.
Trong đó, có 2 việc rất quen thuộc và cũng thú vị mà tôi từng làm nhiều năm khi dạy học cho sĩ quan quân đội ở Tây Bắc (Quân y viện 6) và trường phổ thông (cấp 3 An Dương Hải Phòng).
Việc thứ nhất: Làm bích báo! Tổ làm bích báo chỉ có tôi và 2 người khác lo viết chữ và trình bày, tôi là “Tổng biên tập”; bài vở thì tiếng là vận động trại viên viết, nhưng thực tế… chủ yếu là tôi viết, ký các tên khác nhau. Tôi đặt tên báo là “Sông Mã”. Chỉ nhớ có 1 số báo chào mừng Cách mạng tháng 8 và Quốc khánh 2/9/1985!
Việc thứ hai: Lập đội văn nghệ chuẩn bị biểu diễn dịp Cách mạng Tháng 8 và Quốc khánh 2/9. Một viên trung uý tôi không nhớ tên làm “quản giáo” của đội, có hiểu biết chút về âm nhạc. Anh đưa cho tôi bản chép nhạc bài “Mặt trời bé con” của Trần Tiến, bảo là nó đang rất phổ biến (theo ngôn ngữ bây giờ là “hot”) ở ngoài xã hội, và nói tôi tập để đơn ca. Tôi xướng âm thấy khá hay và dễ hát. Với trình độ thanh nhạc và giọng tenor biểu cảm của tôi, “Mặt trời bé con” sẽ là bài “tủ” được hâm mộ trong chương trình biểu diễn của đội. Tôi còn được giao 1 cây đàn mandoline để đệm cho đồng ca (tôi học chơi mandoline từ năm 5-6 tuổi ở Vân Đình, người dạy tôi là ông Thuật “hói”, bán thuốc tây, sau về Hà Nội mở hiệu sách nổi tiếng).
Tôi nhớ mãi 2 đêm diễn rất thành công chào mừng Quốc khánh 2/9 cho trại viên của trại và bà con thị trấn Cẩm Thuỷ.
Anh quản giáo đội trở nên thân thiết với tôi. Anh khoe là mình có tập sáng tác ca khúc, và muốn tôi góp ý. Tôi nảy ra ý tưởng xui anh mạnh dạn gửi bài cho tạp chí Văn nghệ Quân đội, nói sẽ viết thư giới thiệu anh với nhà văn Hồ Phương TBT Tạp chí. Anh nghe lời tôi, gửi bài về Hà Nội kèm thư của tôi. Nhưng không thấy anh nói có hồi âm.
Ngày về bất ngờ
Khoảng giữa tháng 10/1985, một buổi sáng trại viên tập hợp trước khi đi lao động, tôi chuẩn bị lên đọc báo Nhân Dân như thường lệ, thì Giám thị trại xuất hiện, ra lệnh cho tất cả trại viên là sĩ quan công chức Sài Gòn về lán thu xếp nội vụ để… được về nhà!
Sau khi về lại xã hội, tôi mới biết đó là đợt trả tự do cuối cùng cho sĩ quan công chức cao cấp Sài Gòn gồm khoảng 60.000 người, cũng là lúc rục rịch cho đường lối “Đổi mới” năm 1986 khi đất nước sắp lâm vào đường cùng về kinh tế!
Tiếng xôn xao náo động trong ít giây, rồi ào ào những con người mừng rỡ chạy rất nhanh về các lán.
Tôi phải đi kiểm tra vệ sinh các lán tù hình sự, không được chứng kiến cảnh họ ra về như thế nào. Nhưng tối hôm ấy, trong lán “chính trị Bắc”, một không khí u trầm khác hẳn ngày thường. Mọi người, trong đó có tôi, đều thao thức: Không biết bao giờ đến lượt mình?
Khoảng nửa tháng sau, buổi sáng trại viên tập trung trước giờ lao động, tôi chuẩn bị đọc báo Nhân Dân thì bỗng nghe tiếng loa: “Hoàng Thuỵ Hưng về lán thu xếp nội vụ!”. Choáng! Vứt ngay tờ báo xuống đất và bỏ chạy một hơi về lán!
Lên phòng trực ban, nhận tờ “Giấy ra trại”, chắc là tay có run run!
Giấy ghi:
“… Thi hành án văn, quyết định tha số 185 ngày 7 tháng 10 năm 85… Nay cấp giấy tha cho anh, chị có tên sau đây: Hoàng Thuỵ Hưng sinh năm 1942… Can tội: Tuyên truyền văn hoá phẩm đồi truỵ [!!!] Bị bắt ngày 20/8/82 [ngày bị bắt chính xác là 17/8/1982] Án phạt: 3 năm TTCT Theo quyết định, án văn số 230 ngày 30 tháng 1 năm 84 của Bộ nội vụ…”
Thắc mắc đầu tiên của tôi khi đọc tờ giấy này: Tại sao họ chuyển tôi từ tội “lưu truyền văn hoá phẩm phản động” trong lệnh bắt thành “tuyên truyền văn hoá phẩm đồi truỵ” trong lệnh tha! Hay là họ không muốn lan truyền một bằng chứng là Việt Nam có tù nhân chính trị (rõ ràng với hai chữ “phản động”)! Suy nghĩ này được củng cố khi tôi trò chuyện với các anh bị bắt và tập trung cải tạo trong vụ án “xét lại” những năm 1960: khi ra trại, các anh thậm chí không được trao cho một giấy tờ gì giắt lưng! Bác sĩ nha khoa Phan Thế Vấn, một nạn nhân trong vụ này, kể với tôi rằng: Sau 1975, anh vào Sài Gòn; được người bạn lúc đó làm giám đốc Sở Y tế (BS Dương Quang Trung) đưa vào làm việc trong ngành, nhưng đến lúc khai lý lịch thì không ai chứng nhận cho thời gian 5 năm đi cải tạo và cũng không có giấy tờ gì để chứng minh, như vậy bị coi là “lý lịch không rõ ràng”, nên không được “tổ chức” chấp nhận!!!
Điều nữa đáng ghi nhận: theo đúng “luật”, án phạt của tôi là “3 năm”, thì đúng ra tôi phải được về vào 17 hoặc 20/8/1985, nhưng hệ thống hành chính quan liêu đã khiến tôi phải chịu thêm hơn 3 tháng trong tù, tức hơn 39 tháng thay vì 36 tháng!
*
Chuyến xe ca đưa tôi từ thị trấn Cẩm Thuỷ về đến nhà ga Thanh Hoá thì trời đã tối. Không hiểu sao một bản năng xui tôi chen vào giữa đám trẻ bụi đời trong sân ga. Hình như dáng vẻ nhếch nhác, khổ sở của một thằng tù thích hợp hơn với đám trẻ ấy hơn là với những người đang đợi chuyến tàu sáng mai trong nhà ga! Và thật kỳ lạ! Đêm hôm ấy tôi đã ngủ ngon hơn bất kỳ đêm nào trong suốt 39 tháng qua!
Chuyến tàu sáng 31/10/1985 từ Thanh Hoá mãi tới tối mới đưa tôi về đến Hà Nội!
HẬU VỤ ÁN VỀ KINH BẮC
Sau khi được trả tự do, tôi ở lại Hà Nội cùng vợ ít ngày trước khi trở về Sài Gòn.
Việc đầu tiên là đi thăm và cảm ơn cơ quan cũ đã dành cho mình những tình cảm đặc biệt trong thời gian mình gặp nạn: Báo Người Giáo viên Nhân dân và Bộ Giáo dục.
Chuyện được coi là hy hữu trong thời “toàn trị”: Báo Người Giáo viên Nhân dân đã trả lương đều đặn và gửi quà cho tôi trong suốt 2 năm tôi ở tù (người đem quà cho tôi là Thư ký công đoàn cơ quan, chị Trần Thị Nhâm), bất chấp lời phàn nàn của Công an. Thậm chí CA gửi đến báo lệnh tập trung cải tạo đối với tôi (23/1/1984), mà đến 20/10/1984 Bộ Giáo dục mới ra quyết định “cho ông Hoàng Hưng thôi việc vì vi phạm pháp luật bị tập trung cải tạo” (chứ không “buộc thôi việc” như thường thấy trong các vụ tương tự). Và còn cho tôi “được trợ cấp 2 tháng lương kể cả các khoản phụ cấp nếu có”.
Người có vai trò lớn trong chuyện này là nhà báo Trường Giang (Nguyễn Trường Thuỵ), Bí thư Chi bộ Đảng, Thư ký Toà soạn báo NGVND. Anh kể với tôi: Công an trách là họ đang “đấu tranh” với tôi mà sao báo lại ưu ái, khiến công việc của họ gặp khó khăn. Anh đã trả lời: “Chúng tôi không biết anh Hưng bị bắt vì tội gì, nhưng ở cơ quan anh là một người gương mẫu, được anh chị em trong cơ quan quí mến”.
Hai vợ chồng nhà báo Trường Giang vào Sài Gòn đến chơi nhà vài năm sau khi ra tù
Đến Bộ Giáo dục, tôi tìm gặp GS Nguyễn Văn Hạnh, Thứ trưởng, người thầy dạy tôi ở Khoa Văn Đại học Sư phạm Hà Nội khi mới tốt nghiệp Phó Tiến sĩ ở Liên Xô về. Tôi là cán sự bộ môn Lý luận văn học của thầy (và còn là cán sự bộ môn của vài môn khác: Văn học phương Tây, Ngôn ngữ học, Văn học Việt Nam hiện đại… Lý do là: trình độ của sinh viên Văn thời đó rất không đồng đều, gần nửa là cựu giáo viên cấp 2 vùng nông thôn, miền núi, không có điều kiện đọc sách, mở mang kiến thức. Tôi thường phải tập trung lớp vào buổi tối, “giảng” lại những bài giảng của các thầy trên hội trường). Thầy Hạnh rất quí tôi, khi tôi tốt nghiệp thầy đã đề nghị giữ tôi lại làm giảng viên của trường nhưng ông Bí thư Chi bộ dạy Văn học dân gian Đỗ Bình Trị phản đối vì cho là tôi có “lý lịch xấu” (Bố là “tư sản” – Không đúng, bố tôi là bác sĩ mở bệnh viện tư nhưng không bị “cải tạo” mà “được hiến tài sản” cho nhà nước và trở thành viên chức ngành y tế! Chú ruột là sĩ quan cao cấp “nguỵ” Sài Gòn – cái này thì đúng!) Thật ra tôi biết ông ngầm ghét tôi ngay từ năm thứ nhất, khi tôi được ông chỉ định lên thực tập giảng văn bài ca dao “Trèo lên cây bưởi hái hoa…” nhưng đã soạn một bài khác hẳn với những ý mà ông đã dạy trước đó!
Thầy Hạnh bất ngờ và vui mừng khi tôi đến chào. Sau một hồi trò chuyện, thầy bất ngờ đưa ra một đề nghị: tôi về Bộ làm chuyên viên theo dõi chuyên môn ở trường phổ thông! Nhưng, với một “tiền án” về văn chương, tôi không thể chuyên trách môn Văn, mà sẽ theo dõi môn… Thể dục!
Tôi cảm ơn thầy, nhưng tỏ ý muốn về sống trở lại ở Sài Gòn với vợ con (và chắc chắn SG là nơi dễ sống hơn Hà Nội, nhất là với một người có thân phận cựu tù nhân như tôi – tất nhiên đó là điều tôi không nói ra).
Trong những người bạn thân quí mà tôi gặp lại ngay sau khi ra tù là anh Nguyễn Kiến Giang, cựu tù nhân vụ án “Xét lại”, vợ chồng nhạc sĩ Đỗ Cường Chi, người đã “mai mối” cho tôi và người vợ tương lai.
Nhà thơ Nguyễn Thuỵ Kha gặp tôi ở báo NGVND, đã cho tôi biết một việc: Báo Văn nghệ đã chuẩn bị một trang thơ in lại những bài thơ được giải thưởng của báo, trong đó có bài Gửi anh của tôi (năm 1965), nhưng ngay sau hôm tôi bị bắt, có người hộc tốc đến báo tin, thế là báo vội bỏ bài của tôi!
Sau này, nhà văn Trần Hoài Dương còn kể: An ninh nói với anh rằng, khi bắt tôi, họ có đến Hội Nhà văn hỏi ý kiến, thì được nhà thơ Chế Lan Viên trả lời: “Các đồng chí cứ xử lý nghiêm theo pháp luật, không có gì phải nương tay hay chiếu cố!”.
Cũng có vài bạn văn chương ở Hà Nội không giấu nổi vẻ mặt sửng sốt và lúng túng, thậm chí hơi sợ hãi khi tôi bước vào cửa (một sự thật mà tôi đã đưa vào bài thơ “Người về”: “Người về từ cõi ấy/ Bước vào cửa người quen tái mặt”).
Ở Sài Gòn thì có khác.
Tôi nhớ một hôm đang đạp xe trên phố thì gặp nhà văn Nguyễn Khải đạp ngược chiều. Anh phanh ngay xe lại và giơ tay chào tôi. Rồi tiến đến vui vẻ chúc mừng tôi đã trở về! Cũng có lần gặp thầy dạy cũ ở Đại học Sư phạm Hà Nội, thầy Trần Thanh Đạm lúc đó là Hiệu trưởng ĐHSP TPHCM. Thầy cũng dừng xe đạp thân ái hỏi thăm và chân tình khuyên: “Cậu nên đi thanh niên xung phong một thời gian” (ý là để rèn luyện tư tưởng thêm, hoặc là để có công việc sinh sống?)
Trong các bạn văn nghệ, thì Trần Hoài Dương (NXB Trẻ) và hai vợ chồng Nhật Tuấn (NXB Văn học) – Thu Hồng (báo Thể Thao Văn hoá) là những người đầu tiên đến thăm và cho quà! Đó cũng là hai người bạn tận tình đi lại giúp đỡ vợ tôi trong thời gian tôi đi tù. Trần Hoài Dương (tên thật là Trần Bắc Quỳ) là nhà văn chuyên viết cho thiếu nhi, quen và thân thiết với tôi từ những năm 1960 khi chúng tôi cùng là cộng tác viên của nhà thơ Phạm Hổ ở báo Văn Nghệ (anh Phạm Hổ phụ trách trang Thơ của báo, đồng thời là nhà thơ nổi tiếng về mảng thơ thiếu nhi). Trần Hoài Dương là con người sống rất lý tưởng. Sau này, Trần Hoài Dương làm biên tập viên của tạp chí Cộng Sản, là người dìu dắt Nguyễn Phú Trọng trong thời gian người này tập sự. Cuối đời, anh chán ngán sự đời, xa vợ con, sống cô độc và chết một mình không ai biết sau một trận say rượu bia, vài ngày sau mới được phát hiện.
Trần Hoài Dương và Hoàng Hưng tại Hà Nội những năm 1960
Nhật Tuấn sau đó đã mời tôi cùng làm tập san “Văn học và dư luận” (do nhà văn Nhật Tiến ở Mỹ về cho tiền) được mấy số thì bị đình bản vì đăng bài thơ “Con chó” của hoạ sĩ Tường Vân (Hải Phòng):
Bảo ra đường
Ra đường
Bảo nằm gầm giường
Nằm gầm giường
Bảo sủa
Sủa
Bảo im
Im
Cứ thế triền miên
Một đời con chó!
Hoàng Hưng-Nhật Tuấn tại Sài Gòn những năm 1990
Tôi được an ủi khi biết rằng trong thời gian tôi đi tù, gia đình tôi đã nhận được sự thông cảm yêu thương của tất cả bà con khu phố, kể cả anh cảnh sát khu vực, của ông tổ trưởng dân phố, của các thầy cô gíao dạy cháu Hoàng Ly. Anh Cảnh sát khu vực (đến tận hôm nay vợ tôi vẫn nhớ tên anh, anh Khen) hôm đưa nhóm công an Hà Nội đến khám nhà tôi, đã nhắc khéo họ là “em trai anh Hưng là liệt sĩ chống Mỹ”. Các thầy cô giáo dạy cháu Ly ở trường cấp 1 Ngô Sĩ Liên, những chiều tan học mà vợ tôi đi làm ăn chưa kịp tới đón, đã tự ý đèo cháu về nhà. Vợ tôi bơ vơ và ngây thơ bước chân bươn chải vào chợ đời được nhiều người cảm thương và giúp đỡ vô tư. Em được nhà văn Nhật Tuấn và nhà văn Hoàng Lại Giang nhận vào làm công việc hành chính ở Chi nhánh NXB Văn học tại TPHCM.
Và lúc này mới được nghe vợ kể một ít về những gian lao vất vả mà em đã phải lặng lẽ vượt qua trong hơn ngàn ngày đêm một mình cáng đáng gánh nặng nuôi chồng tù, con dại, và bà mẹ chồng già yếu; những thách thức trong công việc và quan hệ ở nơi làm việc mới. Tính em kín đáo, có những chuyện buồn mà thậm chí mãi đến 40 năm sau, khi tôi viết những dòng này, em mới kể cho nghe.
Tâm sự đôi lứa nhiều năm sau đã được ghi lại phần nào sau một đêm mưa lớn trong bài thơ được nhiều người chia sẻ:
Mùi mưa hay bài thơ của M.
Tất cả nước mắt loài người bao vây nhà ta
Nằm bên anh em kể câu chuyện buồn
Chôn sâu trong lòng giờ mới nói ra
Gợi ý của trận mưa chưa từng thấy
Đã một nghìn đêm mưa trắng đêm
Điên cuồng nhớ mùi anh như con bò cái nhớ mùi phân rác
Anh đánh mất mùi anh trên những sàn đá lạ
Chỉ còn mưa mùi nước mắt đêm
Em còn yêu anh không yêu đến đâu giận ghét đến đâu
Mười lăm năm lòng mình chưa hiểu hết
Mưa mưa ngập tầng trệt
Đưa nhau lên gác xép nằm nghe mưa sập mái tôn
Ước nằm nghe mưa rồi chết
Đêm 25/6/1992
Sau vài ngày nghỉ ngơi, bắt đầu lo tính chuyện sinh sống.
Khi bàn bạc với vợ, tôi nêu ra ý tưởng bán phở gánh như lời khuyên của ông bạn trong tù, nhưng vợ tôi kiên quyết gạt đi, nói không thể phí phạm vốn kiến thức tôi đã tích luỹ được bao nhiêu năm trời!
Có một chuyện vui đáng kể lại xung quanh chuyện sinh sống của tôi lúc ấy. Về nhà chẳng bao lâu thì có cô công an tên Lạng đến chơi. Tôi đã gặp cô ở nhà anh cả tôi ở Hà Nội sau khi ra tù, sau mới biết cô là sĩ quan an ninh theo dõi y tế! Cô đề nghị tôi “hợp tác” với an ninh, đổi lại tôi sẽ được giao cho 1 kiosque ở đường Nguyễn Huệ để buôn bán phim, giấy ảnh! Tôi hỏi: “Hợp tác” cụ thể là làm gì? Nếu là cho biết ý kiến của mình về những vấn đề văn hoá, văn nghệ mà an ninh quan tâm thì tôi sẵn sàng! Nhưng cô nói: Cụ thể là như thế này: Anh là người giao du thân mật với nhà thơ Nguyễn Duy (Đúng thế! Hai chúng tôi đều từng được giải thưởng Thơ của báo Văn Nghệ, anh đã đến chơi với tôi ở Hà Nội, và vào Sài Gòn thì tôi rất hay lui tới nhà anh ở nhà tập thể văn nghệ sĩ đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa; chúng tôi quí nhau, thậm chí tôi còn rủ anh… buôn chung, có lần còn cùng mất tiền toi vì bị lừa mua “bạch kim” từ xác máy bay!). Gần đây Nguyễn Duy hay tiếp khách là Việt kiều ở trụ sở chi nhánh của báo Văn Nghệ trên đường Đồng Khởi mà Duy là trưởng chi nhánh, chúng tôi biết chỉ có anh có thể tham dự những buổi như thế… Tôi lập tức đáp thẳng cánh: “Xin lỗi! Gia đình tôi không có ai táng vào mả chó!” Từ đó không còn gặp lại cô, nhưng vài năm sau thì đọc báo thấy tin cô cùng vài đồng sự bị bắt vì một vụ làm ăn phi pháp gì đó!
(Không “dụ” được tôi, sau đó an ninh đã có được “cộng tác viên” là một nhà nghiên cứu văn học làm hợp đồng ở chi nhánh báo Văn Nghệ. Nhưng bị phát hiện, anh này được nghỉ việc. Khi biết chuyện tôi đã từng từ chối “lời đề nghị khiếm nhã” của an ninh, Nguyễn Duy càng quí mến tôi).
May mắn là lúc ấy, báo chí Việt Nam bắt đầu “mở ra” khi rục rịch công cuộc Đổi mới! Một số báo, tạp chí tiếng Pháp, tiếng Anh được bán trên lề đường Đồng Khởi (chắc là hàng “xách tay” của du khách nước ngoài). Tôi mua và tìm những bài thích hợp để dịch và gửi cho mấy tờ báo ở Sài Gòn. Sau này, khi có internet, công việc dịch thuật các bài vở mới trên các báo mạng để bán cho các báo đã là phần quan trọng trong thu nhập thường xuyên của tôi.
Cuốn sách dịch đầu tiên được xuất bản của tôi là cuốn “Mowgli người sói” dịch từ 2 tập Jungle Book của Rudyard Kipling, do bạn tôi là Trần Hoài Dương của NXB Trẻ đặt hàng năm 1987. Đó là kết quả không thể tốt đẹp hơn của thời gian tự học tiếng Anh trong tù. Sách đã được tái bản liên tục đến lần thứ 3. Nó cũng mở đầu cho nghề dịch và xuất bản sách (tự mua giấy phép, tự in, tự phát hành) kéo dài nhiều năm sau, cũng cho tôi một khoản thu nhập thường xuyên quan trọng.
Khoảng đầu năm 1986, tôi được bạn học cũ là Đặng Ngọc Long, một dịch giả tiếng Nga, giới thiệu với anh Nguyễn Minh Đức, trưởng phòng Phát minh Sáng chế của Uỷ ban Khoa học Kỹ thuật TPHCM. Anh là con người rất năng động và cởi mở, đã cho xuất bản một tập san mang tên “Sáng tạo” để công bố các phát minh sáng chế nhưng cũng mở rộng ra chân trời kiến thức khoa học kỹ thuật. Anh nhận ngay tôi vào làm biên tập viên, và chẳng bao lâu thì phụ trách công việc thư ký toà soạn. Công việc này khiến tôi gắn bó với hoạ sĩ Hoàng Ngọc Biên, người mà tôi mời trình bày tập san, và từ đó học được rất nhiều kỹ năng của nghề báo từ biên tập đến sửa morasse, theo dõi in ấn! Tờ tập san này có lẽ là sản phẩm báo chí duy nhất không được bao cấp mà tự phát hành được ra thị trường.
Anh Biên nguyên là Giám đốc Trung tâm Học liệu của Bộ Giáo dục VNCH, đã được đào tạo nghề mỹ thuật ấn loát ở Nhật Bản. Anh chính là người đã cùng người em trai là TS kinh tế Hoàng Ngọc Nguyên thiết kế ra tờ báo Thanh Niên của Huỳnh Tấn Mẫm năm 1986.
Hai năm làm tập san “Sáng tạo” sau khi ra tù rất có ý nghĩa với tôi. Nó là bước đầu tiên tích luỹ kinh nghiệm cho “nghiệp” làm báo thực sự của tôi từ lúc ấy đến cuối đời, từ tập san Seaprodex rồi báo Lao Động thời Đổi mới đến các báo mạng “lề trái” talawas, bauxite Vietnam, vanviet…
Điều khá thú vị là hai tờ Seaprodex của Tổng công ty Xuất nhập khẩu Thuỷ sản và Lao Động Chủ Nhật của Tổng Liên đoàn Lao Động đã mời tôi về làm việc, có phần vì các vị lãnh đạo (Phó Tổng giám đốc Seaprodex là Trương Thanh Hà nguyên trong Ban Tuyên huấn Khu V thời chống Mỹ; Tống Văn Công TBT báo Lao Động, Hữu Tính Phụ trách cơ quan thường trú báo Lao Động tại TPHCM) ngấm ngầm “khoái” cái tiền sử tù oan của tôi! Họ nhanh chóng trao cho tôi trọng trách: Thư ký toà soạn rồi Phó TBT thường trực có toàn quyền của tạp chí Seaprodex, sau đó về phụ trách trang Văn hoá của báo Lao Động Chủ nhật, rồi làm Trưởng ban Văn hoá của báo Lao Động hàng ngày!
Có chuyện thú vị khi tôi tới gặp anh Hà Seaprodex để anh “phỏng vấn”theo lời giới thiệu của anh Thanh, người phụ trách tạp chí Seaprodex. Anh đề nghị tôi đọc một số báo và góp ý. Đọc nhanh, tôi nói thẳng: “Đây là kiểu báo bao cấp, lưu hành nội bộ, rất yếu về nghiệp vụ”. Anh ngạc nhiên: “Tôi chưa thấy ai đi xin việc mà nói thẳng như anh!” Anh tỏ ra khoái chí và tuyên bố nhận ngay tôi về báo. “Nhưng có cái hơi khó nghĩ: dù sao anh cũng bị coi như bắt đầu vào biên chế, vậy không biết nên trả lương anh sao cho phù hợp”. Tôi đáp: “Các anh muốn sử dụng năng lực của tôi đến mức nào thì trả lương mức ấy!” Anh Hà lại một lần nữa ngạc nhiên (chắc anh chưa từng thấy ai dám ăn nói như thế với lãnh đạo một công ty giàu có, quyền lực lớn hàng nhất nước! Seaprodex lúc đó là tổng công ty độc quyền xuất nhập khẩu mọi mặt hàng, không riêng thuỷ sản). Anh bỏ sang phòng kế toán hội ý, ít phút sau quay lại nói: “Thôi trước mắt anh vui lòng nhận mức lương chuyên viên 1 vậy nhé!” (cấp chuyên viên là trên 6 cấp cán sự, người tốt nghiệp đại học được hưởng 85% mức lương cán sự 3).
Ngựa biển là tập thơ đầu tiên của tôi sau khi ra tù được xuất bản vào năm 1988, bao gồm hầu hết những bài thơ trong tập bản thảo của tôi bị CA tịch thu năm 1982. Hoạ sĩ Hoàng Ngọc Biên đã thiết kế tập thơ rất công phu. Anh cho biết đã phác thảo 40 lần hình con ngựa chồm lên trên sóng mới có được tấm hình ưng ý để làm bìa sách. Năm 2017 khi tôi sang Mỹ, đến thăm anh ở San Jose, anh khoe bức vẽ được anh mang sang bày trang trọng trên bàn làm việc. Đó là tập thơ “ngoài luồng” đầu tiên tự xuất bản ở nước ta sau “Đổi mới”, nhờ được anh Trương Văn Khuê, Giám đốc NXB Trẻ cương quyết bảo vệ. Khi an ninh biết tin về việc tôi đăng ký xuất bản, đòi anh cho xem bản thảo, anh đã từ chối và nói: “Là giám đốc NXB, tôi có quyền quyết định. Sau khi sách in ra, các anh tha hồ có ý kiến”. Ngựa Biển đã trở thành một hiện tượng xuất bản hồi ấy, nó được “đánh hội đồng” trên hầu hết các tờ báo, kể cả tạp chí Cộng Sản! Nhưng nhờ thế mà bán hết veo 2000 bản.
Hoàng Hưng thăm Hoàng Ngọc Biên, San Jose 2017
Từ đó tôi in thơ bình thường. Riêng tập thơ Ác mộng viết về những trải nghiệm tù đầy thì đến nay vẫn bị các nhà xuất bản từ chối. Nhà thơ Ngô Văn Phú, Giám đốc NXB Hội Nhà văn không dám cho in “Ác Mộng”. Ông bảo: “Tập thơ hay quá nhưng lúc này chưa in được”. Sau khi về hưu, ông đã viết một bài chân thành khen nó. Tuy nhiên một số bài trong đó đã được công bố nhờ sự “chịu chơi” của nhà thơ Quang Huy, Giám đốc NXB Văn hoá – Thông tin. Khi tôi gửi cho anh bản thảo tập “Người đi tìm mặt”, có viết thư nhắc anh: “Nếu thấy bài nào khó anh cứ bỏ đi”. Anh trả lời ngay: “Không việc gì phải bỏ!” và anh cho in hết! Anh đã bị an ninh làm khó, may mà thân thiết với bộ trưởng Nguyễn Khoa Điềm và cũng phải… “chạy” thật lực mới thoát nạn. An ninh cũng đến làm việc với ông Nguyễn Văn Tư, Chủ tịch Tổng liên đoàn Lao Động (cơ quan chủ quản báo Lao Động); ông Tư gọi anh Tống Văn Công TBT báo, hạch: “Tay này mà anh để làm Trưởng ban Văn hoá của báo?”. Anh Công ngại không cho tôi biết, mà “tâm sự” với Trần Trung Chính, con rể anh Nguyễn Kiến Giang, người mà tôi giới thiệu về báo. Nghe Chính nói lại, ngay lập tức tôi viết đơn xin từ nhiệm để tránh rắc rối cho báo! Lá đơn đột ngột khiến Ban Biên tập lúng túng, mãi đến 6 tháng sau mới tìm được người thay tôi!
Trong những bài thơ tù, đặc biệt là bài “Người về” đã có tác động mạnh mẽ đến giới làm thơ và công chúng thơ.
Còn nhớ, nhạc sĩ Trần Tiến đọc bài thơ này giữa sân báo Lao Động đã bật ngửa sững sờ! Nhà thơ Thanh Tùng nói với các bạn thơ Hải Phòng: “Đây là bài thơ có tầm quốc tế!”. Năm 2000, đến chơi hoạ sĩ Lê Bá Đảng ở Paris, tôi đọc cho ông nghe. Ông kêu lên: “Tôi sẽ vẽ một tấm carte in bài thơ này!”
Người về
Người về từ cõi ấy
Vợ khóc một đêm con lạ một ngày
Người về từ cõi ấy
Bước vào cửa người quen tái mặt
Người về từ cõi ấy
Giữa phố đông nhồn nhột sau gáy
Một năm sau còn nghẹn giữa cuộc vui
Hai năm còn mộng toát mồ hôi
Ba năm còn nhớ một con thạch thùng
Mười năm còn quen ngồi một mình trong tối
Một hôm có kẻ nhìn trân trối
Một đêm có tiếng bâng quơ hỏi
Giật mình một cái vỗ vai
Tôi viết bài này năm 1992, tức là 7 năm sau khi ra tù. Lúc đó tôi cũng đã quen với vị thế nhà báo của mình đã được phục hồi. Nhưng trong một buổi tiệc ở Hội Mỹ thuật TPHCM, có một người lạ mặt đến gần tôi, nhìn tôi trừng trừng và hỏi: “Anh từ nơi ấy trở về chứ gì?” Rồi bỏ đi. Tôi đứng sững như trời trồng, và lặng lẽ ra về. Sự việc ám ảnh tôi suốt đêm hôm ấy. Nó làm tôi nhận thức được một thân phận khác của mình trong xã hội. Vài ngày sau thì bài thơ ra đời.
Bài thơ này được đưa vào những tuyển thơ quan trọng như, “100 bài thơ hay nhất thế kỷ XX” của NXB Giáo Dục, các tuyển thơ của NXB Hội Nhà Văn; được dịch và đăng trên nhiều tạp chí tiếng Pháp, tiếng Anh; bản tiếng Anh của nó (Nguyễn Đỗ và Paul Hoover dịch) được đưa vào dự án Tổng tập văn học thế giới của một tập đoàn xuất bản quốc tế danh tiếng; có không ít nhà thơ, nhà nghiên cứu Việt Nam và Mỹ đã viết bài bình luận về nó. Một số bài khác trong Ác mộng được dịch và in ở nhiều tạp chí văn chương Pháp, Mỹ. Đến năm 2006, lần đầu tiên cả 30 bài Ác mộng được công bố trên báo mạng talawas của nhà văn Phạm Thị Hoài ở Đức, rồi năm 2018 được in song ngữ ở NXB Văn học ở Hoa Kỳ với lời bình thay lời tựa của nhà thơ Ellen Bass, thành viên Ban Tư vấn Hội Các Nhà Thơ Hoa Kỳ (Chancellor of the Academy of American Poets) và những nhận định của các nhà thơ Việt Nam và Mỹ, Pháp như Nguyễn Hữu Đang, Hoàng Cầm, Allen Ginsberg, Robert Creeley, Marie Étienne… (bản tiếng Anh của Trịnh Y Thư ở Mỹ và Nguyễn Đức Tùng ở Canada).
Bìa tập thơ rất ấn tượng: theo gợi ý của tôi, nhà thiết kế bìa Bùi Nam lấy tấm ảnh mà hoạ sĩ Hà Thế Hiển bạn học Mỹ thuật của con gái tôi chụp cảnh tôi ngồi đọc thơ trong bóng đêm. Đó là cảnh trong đêm thơ “Cha và con và thơ” của hai bố con tôi ở Viện Pháp Hà Nội năm 2008, tiết mục trình diễn bài “Một ngày” đã gây ấn tượng rất mạnh mẽ cho khán giả: con gái tôi đã đạo diễn tắt hết đèn, âm thanh, tôi ngồi giữa sân khấu, trên một chiếc ghế, tay cầm tờ giấy in bài thơ; con gái tôi đứng bên ngoài rèm, chiếu đèn pin vào tờ giấy. Cả khán phòng gần 200 người im phăng phắc nghe bài thơ! Nhiều tờ báo chính thống đã tường thuật đêm thơ ấy một cách thật ưu ái!
Anh đã rất thông minh thể hiện tên tập thơ song ngữ “Ác mộng-Nightmares” như một cây thập giá!
(còn nữa)
Hoàng Hưng
Không có nhận xét nào