Header Ads

  • Breaking News

    Vụ án “Về Kinh Bắc” (1982–1985)

    Kỳ 4

    Hoàng Hưng

    August 28, 2026

    Không ảnh B14 (Google map)

    Các buổi “lấy cung”

    Sau vài buổi đầu do Trưởng phòng Điều tra xét hỏi Sở Nội vụ (tức Công an) Hà Nội tên Nhạ thẩm vấn, nội dung chung chung về tiểu sử, quan hệ… thì chuyển qua Phòng An ninh Tư tưởng văn hoá của Bộ (A25). Người thẩm vấn chính là Hoàng Phước Thuận, người trợ lý ngồi cùng với Trưởng phòng Khổng Minh Dụ trong quán nhà ông Trần Thiếu Bảo hôm tôi bị bắt.

    Anh Thuận người hơi thấp và chắc nịch, “làm việc” khá gắt; mà tôi thì trông hiền lành thế thôi nhưng thực ra là khá… lì.

    Anh “làm việc” với tôi đến mấy buổi, chủ yếu là bắt tôi khai những mối quan hệ “phức tạp” với các văn nghệ sĩ trong nước và hải ngoại (miền Nam di tản, vượt biên) nhưng vẫn không có được những “thông tin” mà anh ấy mong muốn, nên một hôm anh ấy tỏ ra bực bội!

    Anh nói: “Anh có nghe ở các phòng bên, cán bộ quát tháo phạm nhân thế nào không, trong khi tôi vẫn đối xử tử tế với anh. Còn để cho anh bắt chân chữ ngũ thế kia! Thế mà anh không hợp tác!”

    Tôi đáp: “Cán bộ [những buổi “đi cung” đầu tiên tôi quen miệng gọi người thẩm vấn là “anh”, liền được chấn chỉnh ngay, bắt gọi là “cán bộ”] không bằng lòng thì tôi bỏ chân xuống!”

    Anh không nén được giận, đập bàn đánh xầm!

    Tôi nghiêm mặt: “Cán bộ đừng đập bàn! Tôi đau đầu, tôi không “làm việc” nữa!”

    Không chịu được nữa, anh bỏ ra ngoài và xập cửa cái rầm!

    Đại khái những buổi “lấy cung” cứ như thế, không đi đến đâu hết!

    Một nội dung quan trọng trong các buổi thẩm vấn là ép tôi công nhận tập thơ Về Kinh Bắc  của Hoàng Cầm có nội dung “phản động”. Tôi dứt khoát trả lời không thấy nó “phản động” gì hết.

    Xin mời quí bạn đọc tham khảo bài thơ được xem là “phản động” tiêu biểu trong tập Về Kinh Bắc, cũng là bài nổi tiếng nhất của đời thơ Hoàng Cầm (sau bài Bên kia sông Đuống viết trong kháng chiến chống Pháp) chính vì nó gắn với vụ án Về Kinh Bắc ! Đã có 3 ca khúc liên quan đến bài thơ này, 2 bản phổ nhạc cả bài thơ là của Phạm Duy, Hữu Xuân, 1 bản là ca khúc nổi tiếng Sao em nỡ vội lấy chồng của Trần Tiến đã lấy cảm hứng và dựa theo một câu thơ trong đó “… Ru em thời thiếu nữ kiêu sa, em đố ai tìm được lá diêu bông, em xin lấy làm chồng”.

    Lá Diêu bông 

    Váy Đình Bảng buông chùng cửa võng 
    Chị thẩn thơ đi tìm 
    Đồng chiều 
                 Cuống rạ 

    Chị bảo 
    Đứa nào tìm được lá Diêu bông 
    Từ nay ta gọi là chồng 

    Hai ngày Em tìm thấy lá 
    Chị chau mày 
                   Đâu phải lá Diêu bông 

    Mùa đông sau Em tìm thấy lá 
    Chị lắc đầu 
                 trông nắng vãn bên sông 

    Ngày cưới Chị 
                   Em tìm thấy lá 
    Chị cười xe chỉ ấm trôn kim 

    Chị ba con 
                  Em tìm thấy lá 
    Xoè tay phủ mặt Chị không nhìn 

    Từ thuở ấy 
                Em cầm chiếc lá 
                đi đầu non cuối bể 
    Gió quê vi vút gọi 
           Diêu bông hời… 
           … ới Diêu bông…! 

    Trong những ấn phẩm đã xuất bản sau “Đổi mới”, Hoàng Cầm tâm sự rằng bài thơ viết về mối tình “chị-em” đơn phương vô vọng của tác giả lúc 12 tuổi với cô gái cùng làng tên là Vinh 20 tuổi. Nghe nói, năm 1988 Hoàng Cầm vào Sài Gòn lần đầu tiên sau khi ra tù, bà Vinh có đến dự đêm Thơ Hoàng Cầm ở Nhà Văn hoá Quận 1 nhưng không ai biết (?). Tác giả cũng khẳng định “Diêu bông” là thứ lá huyền thoại mà mình sáng tạo ra.

    Có một chi tiết khá thú vị trong bài thơ này: “Váy Đình Bảng buông chùng cửa võng”. Ngay mới đây, một nhà thơ ở Sài Gòn nhắn tin hỏi tôi nghĩa của câu này, và anh tỏ ra không tin khi tôi giải thích: Tác giả tả chiếc váy làng Đình Bảng là “mốt thời trang” của con gái Bắc Ninh xưa, nó “buông chùng” xuống hai bên giống như cái “cửa võng” (thứ rèm che bằng gỗ trên ban thờ ở đình, chùa hay nhà thờ tổ…)! Sau khi tác giả bị bắt, đã có lời xì xầm rằng: ông bị “thánh” phạt chính vì sự ví von báng bổ trong câu thơ trên!!!

    Sau “Đổi mới”, khi giới thiệu chùm thơ này trên báo Lao Động năm 1991, tôi đã viết:

    “… Đến hôm nay, thoát khỏi mọi vướng víu thời cuộc, bộ ba cây-lá-quả vẫn cứ ngây ngây men erotic của những ẩn ức ấu thơ sực mùi ổ rơm tóc ấm trộn với một liều lượng đắng cay của tuổi trẻ thất vọng đượm một nỗi u ẩn thế sự, vẫn nguyên sức cám dỗ của thứ rượu lâu năm nhấp môi thì ngọt, nuốt vào thì đắng, uống rồi thì chuếnh choáng ngậm ngùi”.

    Và về ý nghĩa của cái “lá diêu bông”: “Theo tôi, cái tên đã hình thành một cách vô thức từ những liên tưởng do hai âm “diêu” và “bông” gợi lên. “Diêu” gợi nghĩa “phiêu diêu”, “bông” gợi nghĩa “bông lông” hoặc “nhẹ như bông”. Lá Diêu Bông là một cái lá bay phiêu diêu, vô định” (báo Phụ nữ TPHCM, năm 2001).

    Đến hôm nay, chắc không ai hình dung nổi một bài thơ như thế “phản động” ở chỗ nào? Thế mà 43 năm trước đây, nó đã khiến 2 nhà thơ một già một trẻ đi tù!!!

    Nhưng hồi ấy, có một luồng suy diễn (không biết xuất phát đầu tiên từ an ninh văn hoá Việt Nam hay từ hải ngoại truyền về), cho rằng bài thơ ngụ ý: người nghệ sĩ/người dân (em) yêu Đảng (chị); chị vẽ ra một tương lai đẹp đẽ nhưng không có thật (“lá diêu bông” = chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản) để “em” đi tìm; nhưng “em” tìm mãi không thấy, trong khi đó “chị” bỏ đi lấy chồng (Đảng toạ hưởng lạc thú một mình) từ lúc nào! Để cho “em” cứ suốt đời bơ vơ gọi “Diêu bông hời, ới diêu bông!”.

    Lối suy diễn này đã thành thói quen đầy ám ảnh ở miền Bắc kể từ khi có cuộc “đấu tranh chống Nhân Văn-Giai Phẩm”, khái niệm “biểu tượng hai mặt” (symbole équivoque) đã được ông Hoài Thanh dùng để “lật tẩy” những tác phẩm mang ẩn ý chống chế độ như “cái bình vôi” của Lê Đạt, “con ngựa già” của Phùng Cung… “Lá diêu bông”, “cây tam cúc”, “quả vườn ổi” trong Về Kinh Bắc  cũng bị “soi” kiểu ấy!

    Tôi nhớ có lần viên sĩ quan điều tra xét hỏi cho tôi biết mấy bài thơ “Cây, lá quả” đã được in bên Pháp với những lời bình mang tính chính trị rõ rệt, đả kích vào sự lãnh đạo của Đảng! Anh kết luận: “Nhưng các anh không thể làm được một vụ Nhân Văn thứ hai đâu!”

    Theo sư cô Chân Không ở Làng Mai bên Pháp, chính là người mang danh “Cần Thơ” đã được Hoàng Cầm gửi thư và thơ cho, thì Phạm Duy với lời bình chùm ca khúc “Cầm ca” đã góp phần khiến cho Hoàng Cầm mang vạ!

    “Nhưng nhìn kỹ lại tình hình lúc đó, tôi thấy vào khoảng tháng 3 năm 1982 nhạc sĩ Phạm Duy đã cho ra đời hai băng cassettes: 1. Ngục ca, phổ biến 10 bài thơ của Nguyễn Chí Thiện do Phạm Duy phổ nhạc, những bài như: Từ vượn lên người, Từ người xuống vượn, Cái lầm to thế kỷ… 2, (Hoàng) Cầm ca, trong đó có bốn bài thơ của Hoàng Cầm là Lá Diêu Bông, Qua vườn ổi, Cỗ bài tam cúc, Đôi cá đòng đong. Trong băng nhạc này, trước khi Thái Hiền hát, Phạm Duy đã nói tới các bài thơ này như những lời buộc tội chế độ Cộng sản của thi sĩ. Theo Phạm Duy, thi sĩ Hoàng Cầm đã ví Cộng sản như một người chị, một người đàn bà rất xấu mà muốn cho mình có một bộ mặt xinh đẹp nên đã dỗ dành bao nhiêu người em đi tìm cho mình những chiếc lá tô son điểm phấn cho chế độ và hứa hẹn sẽ thưởng khi tìm ra lá Diêu Bông, và dù cho có em nào đã tìm ra lá, cô chị vẫn xoè tay phủ mặt không nhìn. Phạm Duy lại viết trong tác phẩm Ngàn lời ca rằng Lá Diêu Bông là một loại lá đặc biệt ở làng Đình Bảng Bắc Ninh, phụ nữ Việt Nam thời xưa đã vắt nước lá này để bôi lên mặt cho da thịt thêm hồng hào tươi đẹp. Theo Phạm Duy, nhà thơ Hoàng Cầm đã cho rằng không ai có thể làm cho chế độ Cộng sản Việt Nam này tốt đẹp được. Trong khi đó, lời chú giải về Lá Diêu Bông của chính Hoàng Cầm viết cho tôi là: “Còn lá Diêu Bông không thể ai tìm thấy tên trong bất cứ một sách vở tài liệu nào về khoa học tự nhiên. Tự người đọc, nếu yêu thơ sẽ hình dung ra cái lá ấy. Một cái lá anh đặt tên để làm symbole (biểu tượng) thế thôi. Symbole của những mối tình cao đẹp, của những lý tưởng trong sáng, của những gì là Thật, là Lành, là Đẹp vốn có trong mỗi con người. Nhưng rồi cuộc sống lắm khi tàn nhẫn vì xâu xé vật lộn, vì ngu si tham lam nên lắm khi cái lá ấy ở ngay trong mình mà mình không thấy, và đến khi nhận ra thì cuộc đời đã tàn!

    (Hồi ký “Cần Thơ về Kinh Bắc”)

    Tôi đã tìm đọc kỹ Hồi ký của Phạm Duy, phần nói về Hoàng Cầm ca, tuy có vài ý như trên, nhưng chốt lại, ông nhận định:

    “Thế là sau khi quá mệt mỏi với loại ngục ca, tị nạn ca hay tủi nhục ca vì phải lên gân trước thời cuộc, những bài thơ ẩn dụ của Hoàng Cầm mà tôi soạn thành Hoàng Cầm Ca vào đầu thập niên 80 này làm cho tâm hồn tôi lắng xuống. Sau khi thấy dường như đã mất quê hương, tôi bỗng nhiên gặp lại quê hương qua những câu chuyện mà tôi cho là rất kỳ diệu, ảo huyền, lung linh và đầy thi vị…

    … Đó là chuyện lá diêu bông, vườn ổi, cỗ bài tam cúc, chuyện tâm tình của những con bê vàng, con chim cu, con chào mào, con phù du, con chim vành khuyên… Quê hương mờ nhạt hay rực rỡ, êm đềm hay chua xót của tôi hiện ra, quả rằng còn quá nhiều cái đẹp, chứ không phải chỉ có ác mộng, ngục tù, hận thù và tuyệt vọng!

    Những bài thơ trong tập Đường Về Kinh Bắc của Hoàng Cầm được phổ nhạc thành Hoàng Cầm Ca vẫn còn buồn rười rượi vì nó phản ảnh một miền của đất nước Việt Nam vào những năm 60-70 nhưng nó chứa đựng quá nhiều hương vị quê hương nên nó là liều thuốc an thần cho bản thân tôi sau khi tôi bị đắm chìm vào không khí chết chóc gây nên bởi thơ Nguyễn Chí Thiện (ngục ca) hay nhạc Hà Thúc Sinh (tủi nhục ca). Tôi cũng nghĩ rằng: là một người luôn luôn có phản ứng trước nghịch cảnh, tôi không nên tự đầy đọa tôi hay khuyến khích người nghe đi vào ngõ bí là sự thù hận, oán ghét, chửi rủa. Chắc chắn Đường Về Kinh Bắc (nghĩa là đường về quê cũ) giúp tôi có một lối thoát”.

    Đến một hôm, được gọi ra “làm việc”, nhưng vào phòng thì chẳng có ai. Trên bàn có một xấp giấy có chữ của… Hoàng Cầm. Tôi tò mò giở ra đọc, thì trời ơi! Đó là mười mấy trang tự kiểm điểm của Hoàng Cầm! Nhà thơ thú nhận những bài thơ trong Về Kinh Bắc  mang tư tưởng chống Đảng, chống chế độ!!! Tôi không tin vào mắt mình! Nhưng rõ ràng là chữ viết tay rất đẹp của Hoàng Cầm như trong tập Về Kinh Bắc  mà ông đã chép cho tôi!

    Đợi đủ thời gian cho tôi đọc xong bản “tự kiểm điểm”, công an đưa tôi về phòng giam. Đến trước cửa sắt ngăn 2 khu thẩm vấn và giam giữ, tôi thấy Hoàng Cầm đang ngồi ủ rũ trên ghế đá. Không nhịn được, tôi xông đến bên ông, hỏi gay gắt: “Anh nhận tội phản động thật à? Sao lại thế?” Hoàng Cầm cúi đầu xuống, không nói gì, từ khóe mắt ông lăn ra những giọt nước mắt. Đến tận hôm nay, nhớ lại những giọt lệ tủi nhục của nhà thơ đàn anh, lòng tôi vẫn còn đau.

    Viên công an rõ ràng cố tình làm ngơ để tôi tiếp cận Hoàng Cầm không đầy 1 phút, đủ để ông xác nhận với tôi bản kiểm điểm của mình, rồi mới hô lên: “Hai anh không được nói chuyện” (theo đúng nguyên tắc không bao giờ công an để cho các phạm nhân cùng vụ tiếp xúc, liên lạc, sợ “thông cung”)! Rồi đẩy tôi vào khu giam giữ.

    Sau này, Hoàng Cầm kể lại với tôi: ông bị giam vài tháng là không thể chịu đựng được những phản ứng của người nghiện đói thuốc, đặc biệt là bị ỉa chảy liên tục. Đến lúc ấy, công an dỗ dành nếu chịu nhận tội thì sẽ cho về ăn Tết! Thế là ông chấp nhận “nhận tội”. Không những viết thành văn bản, ông còn được đọc bản nhận tội ấy vào máy ghi âm. Vốn là một kịch sĩ và người chuyên ngâm thơ trên đài phát thanh, ông “diễn” đạt đến nỗi công an Nhạ rất khoái chí, khen hết lời và khẳng định ông sẽ được về nhà ăn Tết! Nhưng rồi ông đã không được về như lời hứa, mà bị đưa về Trung tâm thẩm vấn quốc gia (Xà lim Bộ) giống như tôi!

    Theo lời Hoàng Cầm thì ông được chính công an cho biết: Đúng thời điểm ấy, Thiền sư Thích Nhất Hạnh ở Pháp có vận động các trí thức Pháp kiến nghị trả tự do cho ông, trong đó có nhà toán học nổi tiếng Laurent Schwartz. Ông Lê Đức Thọ nhận được kiến nghị, trao lại cho Tố Hữu – phó Thủ tướng, người vẫn đặc trách về văn hoá văn nghệ lâu nay. Tố Hữu bực mình gọi công an lên phán: “Nước ngoài can thiệp hả? Thế thì giam thêm 1 năm nữa cho biết!”.    

    Sau buổi “làm việc” chỉ để đọc bản kiểm điểm của Hoàng Cầm, tôi lại được gọi ra thẩm vấn về nội dung “phản động” của tập thơ Về Kinh Bắc! Thì chính tác giả đã nhận sờ sờ kia! Nhưng tôi vẫn không chịu, và hỏi ngược lại: “Nếu nó phản động, vì sao an ninh để nó lưu hành tự do suốt hơn 20 năm – tập thơ hoàn thành về căn bản vào cuối năm 1959 – tính đến hôm nay đã có cả trăm người được ông Hoàng Cầm chép tặng mà không sao, đến lượt tôi lại bị bắt?”. Họ không trả lời được, tất nhiên. Và tôi được để yên khoảng 2 tháng không ai hỏi đến.

    Cho đến một hôm, lại được gọi ra. Lần này là đích thân Trưởng phòng An ninh Văn hoá Khổng Minh Dụ. Ông hể hả nói: “Anh lúc mào cũng cãi thơ Hoàng Cầm không có gì phản động! Đúng rồi! So với những bài thơ của anh để ở trong Nam, thì thơ anh phản động gấp 100 lần!”

    Và ông đọc:

    “… Các anh bảo chúng tôi
    Đi chiến đấu cho ngày mai tươi đẹp…”

    “… Chúng tôi cứ khoanh tay nhắm mắt ngồi nhìn
    Sự nặng nề ngu độn của các anh
    Cứ chầm chậm dìm con tàu xuống biển”

    Trời! Tôi không biết họ lấy đâu ra những đoạn văn vần trong nhật ký của mình từ những năm 1970 ấy!

    Lúc ra tù mới được vợ kể cho nghe: Thẩm vấn tôi không có kết quả như ý, công an đã vào Sài Gòn lục soát nhà tôi. Mới biết cãi bướng với công an thật vô cùng nguy hiểm!

    Họ lục tung cả nhà mà không thấy gì có thể kết tội tôi! Vì mấy hôm trước, hai người bạn văn thân thiết là Trần Hoài Dương và Nhật Tuấn đã chủ động đến nhà xem kỹ và mang đi hết những sách báo, tài liệu có thể nguy hiểm cho tôi. Nhưng có hai thứ họ tìm ra không ngờ! Một là lá thư của bà chị ruột Hoàng Ngọc Bích gửi vào, cho biết một quan chức cấp cao nói sẽ xem xét để có thể thả tôi ra sau 4 tháng tạm giam nếu không có gì nghiêm trọng! Vợ tôi đã giữ lá thư này như một lá “bùa hộ mệnh” trong cảnh cô đơn đau khổ giữa Sài Gòn rất ít bà con họ hàng để nương tựa! Thế là một lối thoát có thể có đã bị bịt lại! Hai là mươi trang giấy chép lại những đoạn văn vần suy tư về chính trị mà tôi rút từ nhật ký những năm 1970. Các cuốn nhật ký này, khi cưới vợ (đầu 1975), tôi quyết định đốt hết để “giã từ dĩ vãng” làm cuộc đời mới, nhưng lại tiếc rẻ những dòng tâm tư thầm kín về tư tưởng chính trị nên chép lại và cất vào đâu lâu ngày cũng quên mất. Không ngờ, sau 1 ngày lục soát, công an đã tìm thấy trong ngăn kéo tủ áo, chìm dưới đống… túi nilon mà tôi tích trữ phục vụ cho… việc buôn bán phim giấy ảnh!!!

    Đời người có những bước ngoặt từ một sự cố ngẫu nhiên như thế! Nhưng trong trường hợp của tôi, đó là cái “ngẫu nhiên tất yếu” hay nôm na là “đi đêm sẽ có ngày gặp ma”!

    Tôi đáp lời ông họ Khổng: “Đây là những dòng nhật ký tôi để trong ngăn kéo, không lưu truyền, vì sao lại bắt tội?”

    Ông tuyên ráo hoảnh: “Nếu anh lưu truyền thì… đi tù không có ngày về!”

    Thế là xong!

    Vài tháng sau là Tết!

    *

    Những chiều gần Tết, cả phòng như nín thở chờ nghe gọi tên mình… được thả, vì thường lệ dịp này là dịp thả những người tù hết hạn tạm giam mà không bị truy tố ra toà! Tôi cũng hồi hộp, vì đã quá hạn tạm giam 4 tháng, mà lâu không bị gọi ra thẩm vấn nữa!                     

    Nhưng tôi đã được ăn cái Tết đầu tiên trong tù ở Hoả Lò! Cái Tết không để lại ấn tượng nào ngoài vài miếng thịt bèo nhèo và một góc bánh chưng được phát!

    Ít ngày sau Tết, tôi được gọi “mang hết “nội vụ” (chỉ có khăn mặt, bàn chải răng, vài món thức ăn được tiếp tế còn sót lại) ra.

    Một chiếc xe command car với người áp giải, đưa tôi đi. Anh cán bộ áp giải (hình như tên Tú) nói với tôi, giọng cười cợt: “Anh được về gần nhà đấy!”

    Xe chạy ra ngoại thành… vào Trung tâm Thẩm vấn Quốc gia (gọi tắt là “Xà lim Bộ”, bí danh là B14)!

    HAI NĂM Ở XÀ LIM BỘ

    Nằm trong địa phận xã Thanh Liệt, huyện Thanh Trì Hà Nội, bên con sông Tô Lịch nước đen ngòm và hôi thối.      

    Nguyên là “Trại an trí” của chính quyền Quốc gia (Bảo Đại) giam giữ các nhà hoạt động của Việt Minh. (Bạn Bùi Xuân Bách ở Boston, Mỹ cho tôi biết đó dường như từng là dinh cơ của họ Bùi, có thời từng là nơi tụ họp văn nhân Hà Thành làm báo trước 1945).

    Sau 1954, nó là trại tạm giam của Cục An ninh điều Bộ Nội vụ (Công an). Bị đưa về đây là những người sau thời gian tạm giam ở cấp tỉnh, thành, được xếp vào những vụ thuộc hàng “trọng án về an ninh quốc gia”. Các “nhân vật” cộm cán của các trọng án đều từng ở đây. Khi đi “cung”, tôi thấy có chiếc xe command-car cũ kỹ trong sân khu vực nhà “làm việc”. Sau được cậu “tự giác” nói đó là xe của Tướng Đặng Kim Giang trong vụ án “Xét lại” năm 1967. Cũng có lần tôi trông thấy một ông già to béo thâm thấp mặc quần áo nâu đi cung, sau được cậu “tự giác” mách cho biết đó là Giám mục Nguyễn Văn Thuận đi gặp dại diện của Toà Thánh Vatican. Những năm 2000, nhà văn Dương Thu Hương và Tiến sĩ Sinh học Hà Sĩ Phu cũng bị giam ở đây.   

    Vụ án Về Kinh Bắc  vậy là được xếp vào loại “trọng án”! Thật vinh dự không ngờ! Hai người “chủ mưu” và “đồng phạm” là Hoàng Cầm và tôi được chuyển về đây cùng lúc. Sau đó ít lâu, tôi được người “tù tự giác” đưa cơm hàng ngày mách cho biết Hoàng Cầm ở dãy… (tôi đã quên tên dãy) và có nhà thơ Phan Đan cũng mới bị đưa về trại này. Vậy là vụ này đã được mở rộng ra với những đối tượng có liên quan đến việc chuyển tác phẩm ra nước ngoài & liên lạc với các nhà văn hải ngoại chứ không chỉ riêng Về Kinh Bắc  của Hoàng Cầm. Phan Đan là một “nhà thơ chui” ở Hà Nội, vốn đã bị công an Hà Nội “làm việc” vì viết và lưu hành những bản thảo thơ “ngoài luồng” của chính mình, sau 1975 lại liên lạc thân thiết với nhà văn Nguyễn Hữu Hiệu khi ông này ở Sài Gòn và sau này khi ông ta đã vượt biên sang Mỹ; anh cũng chơi với nhà thơ Hà Thúc Sinh thông qua tôi. Thơ Phan Đan sau này được biết đến ở chương “Thơ của nhà thơ F.” trong tiểu thuyết Thiên sứ của Phạm Thị Hoài (xuất bản năm 1988), nhân vật bé Hon trong tiểu thuyết mang đúng tên con gái của Phan Đan, chắc là ghi dấu mối quan hệ tình cảm đặc biệt của hai người. Anh quan hệ với tôi từ khoảng đầu năm 1980 khi đưa vợ con vào sống tại Sài Gòn, tôi đã giúp đỡ anh ít nhiều về vật chất. Tuy chỉ học trung cấp Xây dựng, nhưng anh say mê văn học, rất chịu đọc sách và có thiên phú biến những ý tưởng trong sách thành ra của mình và rao giảng một cách rất thuyết phục cho các văn nghệ sĩ trẻ vốn… lười đọc! Có lần anh phỏng vấn tôi vài câu về quan điểm viết lách, nói là sẽ gửi cho một tờ báo tiếng Việt ở Mỹ, và cũng có lần thổ lộ sẽ tìm đường vượt biên.

    Nhà thơ Phan Đan

    Phan Đan được trả tự do đúng ngày tôi bị đưa đi trai cải tạo Thanh Cẩm, có lẽ vì được ông chú vợ là tướng Dương Thông Tổng cục trưởng An ninh bảo lãnh. Sau “Đổi mới”, anh lại đem vợ con vào Sài Gòn. Khi đó tôi đang phụ trách tạp chí Seaprodex của Bộ Thuỷ sản, tôi đã đưa anh vào làm chân sửa bài, rồi mạnh dạn gợi ý anh thử viết bài về kinh tế. Anh nói chưa từng có kinh nghiệm về lĩnh vực này! Biết anh cực thông minh, tôi giao cho anh 2 tuần lễ đọc các bài viết về kinh tế của báo Tuổi Trẻ để “học”. Thật bất ngờ! Ngay khi bài đầu tiên của anh đăng trên tạp chí Seaprodex, trưởng ban kinh tế báo Tuổi Trẻ là Trần Trọng Thức gọi điện tới hỏi: “Phan Đan là ai mà có bài viết hay quá?”. Vậy là tôi yên tâm bố trí anh là cây bút chủ lực của tạp chí. Khi tôi chuyển qua báo Lao Động, tôi đã cử anh thay mình phụ trách tạp chí. Cuối đời, anh sang Mỹ sống với con gái là bác sĩ, giảng viên một trường đại học lớn của bang Washington.      

    Gần đây đọc được cuốn hồi ký Tắm máu đen của Võ Đại Tôn, người đã từ Úc xâm nhập vào Việt Nam qua đường Thái, Lào để “làm cách mạng”, có nhiều năm nằm ở B14, tôi mới biết được sơ đồ trại này, gồm 4 khu buồng giam đánh số A,B,C,D. Vậy là tôi đã được chuyển qua đủ 4 khu.

    Sơ đồ B14 theo hồi ký của Võ Đại Tôn

    Tuy gọi là “xà lim” (từ tiếng Pháp “cellule”, nghĩa là “buồng giam riêng”) nhưng phải nói các buồng giam ở Xà lim Bộ không đến nỗi đen tối ngột ngạt như ta thường hình dung (như ở Hoả Lò). Thời gian phải đi “làm việc” dài khoảng hơn một năm, tôi được ở trong khu “sang” nhất: hai dãy đối diện nhau qua một lối đi nhỏ gồm những căn liền kề khoảng 10m2, gồm một sân nhỏ và một phòng giam nhỏ xíu. Ban ngày cửa phòng được mở để người tù có thể ra sân rửa ráy, tắm giặt ở bể nước; mỗi ngày có tù “tự giác” vào thay bô vệ sinh, đưa cơm hai bữa trưa và chiều; hết giờ hành chính thì cửa bị khoá lại. Căn bên phải tôi là một cô gái, chỉ nghe tiếng nói, không bao giờ thấy mặt. It lâu sau căn đối diện có một cô gái mới vào, một cô người Tàu. Có lần tình cờ ra sân đúng lúc cô quản giáo mở cửa căn ấy, tôi thoáng thấy cô và nghe quản giáo nói chuyện khá thân mật với cô. Cậu “tự giác” cho tôi biết cô người Phòng Thành, Quảng Tây, bị bắt khi thâm nhập vào nước ta có lẽ làm gián điệp. Cô thường nghêu ngao hát tiếng Tàu.

    Tôi có một bài thơ viết về người “bạn tù” này:

    Cô em mới đến

    Em ở đâu vào?
    Em từ dãy nào qua?
    Em tội gì?
    Em ở đây đã bao lâu?

    Không có tiếng trả lời

    Lát sau em hát
    Bài hát tiếng Tàu

    Tiếng Tàu ta đã quên từ lâu

    Có cô quản giáo
    Chuyện trò với em
    Bảo hạt đậu của em đã mọc thành giá
    Dặn em chải chấy
    Mỗi ngày

    Lát sau em bắt đầu
    Hỏi gióng lên trời những câu vớ vẩn
    Rồi tự trả lời
    Rồi em lại nghêu ngao
    Bài hát tiếng Tàu

    Nhà ta xa xôi lắm
    Nhà em còn xa hơn
    Đường về hai đứa cùng mù mịt
    Thôi thì cùng hát lên

    Tiếng Tàu ta quên
    Nhưng bài hát Tàu ta nhớ

    Hát đến mệt nhoài thì đi ngủ

    Nửa đêm chợt tỉnh
    Nghe tiếng khóc tỉ tê

    Ta ngồi như chết
    Tường cao bốn bề

    Tôi đến đây đã hai tuần lễ mà không có tiếp tế của gia đình. Cơm tù ở đây khá hơn Hoả Lò nhiều, gạo không đến nỗi hẩm, lượng cơm với tôi là hơi thừa (nghe cậu “tự giác” nói tiêu chuẩn của tôi 15kg gạo/tháng tức là còn hơn tiêu chuẩn 13kg của người bên ngoài), thức ăn chủ yếu là lạc rang tẩm muối và có hơi nước mắm, đếm được khoảng 50 hột mỗi bữa; và 1 bát canh với cọng rau muống già và chút váng dầu thực vật. Nhưng không hiểu sao sau 10 ngày thì chân tay tôi bắt đầu run! Cậu “tự giác” nói là do thiếu muối! Cũng lạ, nhà tù làm gì đến nỗi thiếu muối, hay là họ cố tình cho thiếu để “hành” tù nhân mới đến cho “biết thế nào là lễ độ”?

    Đến lúc tôi run bắn, mệt đến không chịu nổi nữa thì nhận được “quả tắc” của gia đình. Quả nhiên, với muối vừng, ruốc thịt của nhà gửi vào, chỉ sau mấy bữa là tôi hết run, tỉnh người ngay!

    Và, vô cùng quý báu là bức thư của vợ, và bài thơ của con gái Hoàng Ly viết cho bố (khi con 7 tuổi). Đó là lần duy nhất tôi khóc trong cả thời gian tù.

    Trong đêm thơ mang tên “Cha và con và… Thơ” mà Viện Pháp (Institut de France) ở Hà Nội (còn có tên là l’Espace) tổ chức cho 2 cha con tôi vào ngày Các Nhà Thơ Quốc tế năm 2008, lần đầu tiên bài thơ ấy được công bố qua giọng đọc của con gái.

    Khi bố đi công tác
    Hẹn mấy tháng sẽ về
    Nhưng dã qua ngày hẹn
    Mà bố vẫn chưa về
    Trước lúc bố đi xa
    Con chúc bố mạnh khoẻ
    Giờ chưa thấy bố về
    Sao chưa về hả bố
    Giờ sắp đến tết rồi
    Bố không về trước tết
    Thì cả nhà không vui
    Con mong chờ bố
    Về nhanh mau nhanh
    Con rất thương nhớ bố
    Khi bố đi vắng nhà
    Trên đường xa đường dài
    Chắc bố mệt lắm đấy…

    Hoàn cảnh sống trong B14:

    Về chế độ ăn uống, như đã nói, nếu có gia đình tiếp tế đều đặn thì sống được, nếu không thì chắc chắn sẽ phù nề vì thiếu vitamin và kiệt sức vì thiếu muối! Nước nôi thì trong thời gian thảm vấn, ở khu A có bể nước riêng ở ngoài sân từng căn, tha hồ ra tắm giặt trong giờ hành chính. Khi hết cung, chuyển qua dãy xà lim đúng nghĩa thì mỗi tuần được ra tắm một lần ở bể nước chung cuối dãy (Hoàng Cầm kể đã có lần toan đâm đầu xuống bể này tự tử).

    Hai mùa đông ở đây, tôi không bị cái rét hành hạ, vì nằm trên bệ cao, tôi lấy hết chăn, quần áo rét mà gia đình gửi cho rải lên chiếu. Nhưng mùa hè thì nóng phát sợ! Lúc nào cũng mồ hôi đầm đìa ướt nhẹp quần áo, quạt tay phành phạch hết cả ngủ. Nhiều đêm tôi phải cởi trần truồng ra ngủ, được một lúc thì bị lính gác đi tuần gọi dậy bắt mặc lại quần áo!      

     Bạn tù

    Tôi ở một mình được khoảng một tháng thì họ đưa một người vào ở chung phòng. Phòng luôn có 2 cái chõng tre nhỏ dành cho 2 người. Cậu thanh niên trông thông minh, nhanh nhẹn, khoẻ mạnh. Ít phút sau là hai người chúng tôi biết rõ “lý lịch” nhau. Hoá ra cậu là người không xa lạ với giới văn học Hà Nội. Cậu tên Hùng, con của nhà báo Lữ Giang, báo Chính Nghĩa của Uỷ ban Đoàn kết Công giáo Yêu nước. Cậu biết rõ các nhà thơ Trần Lê Văn, Vân Long… là bạn của bố. Cậu bị bắt vì tham gia một vụ lừa đảo gì đó; đã có án, vì ông bố quen Tướng Dương Thông Tổng cục trưởng An ninh nên cậu không phải đi “bọp” (trại cải tạo) mà được thi hành án gần nhà.

    Cậu được tiếp tế khá giả, cung cấp cho tôi thuốc lá hút thoải mái, chia sẻ thức ăn cho tôi khá tươm tất.  

    Từ khi cậu vào, bắt đầu có sự liên lạc giữa cậu với cô gái ở căn bên cạnh (không biết tội gì, chắc cũng một kiểu “gián điệp”?). Không được phép chuyện trò, họ toàn bày tỏ “tình cảm” với nhau bằng những cú gõ, “xạt” tay vào tường, một kiểu “đánh morse” không lời! Những buổi trưa cô gái ra sân tắm, cậu cũng ra sân, nghe ngóng từng âm thanh bên kia tường một cách mê mẩn! Tôi đã ghi lại mối “tình tù câm” này trong một bài thơ:

    Một ngày

    Nhớ đôi bạn tù trẻ tuổi ở T. L.

    Buổi sáng lanh canh
    Em ca cốc rộn ràng
    Lại bắt đầu một ngày bên nhau
    Chào em cô hàng xóm vô hình

    Rồi mở cửa
    Thay bô
    Đóng cửa
    Rồi mở cửa
    Đi cung
    Giữa hỏi đáp
    Ú tim
    Mèo chuột
    Vẫn lởn vởn một bóng dáng vô hình.
    Rồi về phòng
    Mở cửa
    Đóng cửa.
    Rồi mở cửa
    Cơm
    Đóng cửa
    Mời nhau bằng lanh canh bát đũa
    Ta cùng ăn qua vách bữa cơm tù

    Sau tiếng nước rửa bát phút im lặng thiêng liêng trước giờ em tắm.
    Rồi róc rách dè dặt em kỳ cọ cố nhẹ nhàng như xấu hổ anh hết nóng bừng lại lạnh toát trong ngừng thở
    Em phơi áo vù con chim bay lên

    Rồi mở cửa
    Tự khai
    Sa mạc giấy
    Lạc đà chữ
    Chỉ vẩn vơ một bóng dáng vô hình.
    Rồi về phòng
    Mở cửa
    Đóng cửa
    Rồi mở cửa
    Cơm
    Đóng cửa
    Mời nhau bằng lanh canh bát đũa
    Ta lại cùng ăn qua vách bữa cơm tù

    Rồi nôn nao chờ bóng tối
    Giờ của thông linh giờ của chúng mình.
    Anh gõ trước nhé cạch cạch cạch em cạch cạch cạch anh cạch cạch/ cạch cạch cạch em cạch cạch/ cạch cạch cạch rồi anh xoa xạt xạt em xạt xạt anh xạt xạt xạt em xạt xạt xạt những tín hiệu không lời ríu rít dồn dập xoắn xuýt cuống quít.
    Bức tường bốc cháy
    Đêm bốc cháy
    Những mảnh đêm rơi
    Lả tả
    Rã rời

    Tiếng khóc nửa đêm
    Là nhận dạng của em

    (Năm 2008, trong đêm Thơ mang tên “Cha và con và thơ” do Viện Pháp ở Hà Nội tổ chức cho tôi và con gái Ly Hoàng Ly, lần đầu tiên tôi công bố bài thơ này qua màn trình diễn rất ấn tượng trước hơn 200 khán giả, và được báo chí tường thuật, kể cả báo của Công an Hà Nội).

    Vì cùng quen các nhà văn, nhà thơ nên hai chúng tôi nhanh chóng thân tình, tâm sự chuyện gia đình và văn chương nghệ thuật không phải giữ kẽ. Tôi hay kể và giảng cho cậu nghe những tác phẩm triết học, văn học Mỹ mà tôi mới được đọc ở Sài Gòn.

    Một buổi sáng, trong khi cậu được gọi ra ngoài, anh “tự giác” vào thay bô nói nhỏ với tôi: “Nó là “dích” [tay sai, chỉ điểm của công an] đấy! Sáng nào sau khi anh đi cung là nó cũng đi “báo cáo” đấy!”

    Tôi hơi trờn trợn, cảm giác giống như biết rằng hoá ra hàng ngày mình vẫn sống với một con rắn! Nhưng nghĩ lại thì cũng chẳng sợ quái gì, vì mình có gì đâu mà phải giấu giếm!

    Sau hơn một năm liên tục đi “cung”, chắc cũng chẳng còn gì để nói, tôi được chuyển vào một khu có mái che kín, chia thành các “xà lim” đúng nghĩa, tức là một căn phòng giam bé tí chỉ có một ô cửa sổ nhỏ xíu, một bệ xi măng cao để nằm, nền xi măng bên dưới chỉ rộng đủ cho cái bô vệ sinh và nhận cơm. Cửa bằng gỗ bịt kín phần dưới, phần trên là hàng chấn song.

    Mỗi tuần một lần, tù nhân được quản giáo đưa ra bể nước to ngoài sân đầu hành lang để tắm rửa, tất nhiên chỉ có nước lạnh bất kể mùa hạ hay mùa đông. 

    Trong xà lim mà tôi chuyển đến đã có sẵn một người thanh niên tuổi chạc cậu Hùng nhưng đen và rắn rỏi hơn.

    Cậu nhắc tôi mới nhớ là đã từng có thời gian ngắn ở cùng phòng 18 Hoả Lò. Cậu tên Tuấn, người Hải Phòng. Vốn là thợ máy tàu Hải quân, cậu phục viên ít lâu thì bị bắt vì làm máy trưởng con tàu vượt biên nổi tiếng có đến 200 người, mua bãi của Giám đốc Công an Hải Phòng. Không may là tàu sắp ra đến phao số Không (bắt đầu hải phận quốc tế) thì accu bị hư. Có mấy chiếc tàu đánh cá gần đó chạy đến chào bán accu, hoá ra họ làm chỉ điểm cho lính Biên phòng bờ biển!

    Đang bị giam trong trại giam Trần Phú (Hải Phòng) thì cậu bị đau ruột thừa, được đưa ra bệnh viện Việt-Tiệp mổ. Vừa mổ xong, đang đêm cậu trèo đường ống nước trốn, nhưng sức yếu nên mới chạy được một đoạn thì bị bắt lại và chuyển lên Hà Nội. Cậu đã có án, nhưng gia đình “chạy” cho không phải đi “bọp” (trại cải tạo) mà vào đây! Đồ tiếp tế của cậu rất phong phú! Cậu chia sẻ cho tôi thoải mái. Cậu dạy tôi cách đun nấu trong xà lim: dùng bao nilon làm nhiên liệu, tha hồ đun nước hãm trà, luộc lại bánh chưng! Lạ một cái là cai ngục coi như không biết (mùi nilon cháy khét lẹt, sao giấu được?) vì không thấy ai đến ngăn cấm. Ngày Tết, chúng tôi còn chia quà cho các xà lim bên cạnh bằng cách: buộc túi quà vào một sợi dây, quăng ra hành lang chênh chếch sang phía xà lim bên. Người bên đó dùng cây đũa kéo dây vào là lấy được quà.

    Tuấn thường say sưa kể về các chiến công “sát gái” của mình từ các cô gái trẻ ngây thơ chưa biết mùi đời đến các bà chủ nạ dòng vớ được trai tân! Cậu rất tự hào về của quí của mình, lại còn ra sức thuyết phục tôi dùi lỗ ở chỗ da quy đầu để “xỏ mắt dê” nhằm tăng cường hiệu quả chiến đấu “khiến các cô các bà không thể nào quên!”

    Có một chi tiết khiến tôi thắc mắc: Đêm đêm, tôi ngủ ngon lành, nhưng lần nào mở mắt cũng thấy Tuấn ngồi đó, lấy lưỡi lam liên tục phi vào cánh cửa gỗ! Hình như cậu rất khó ngủ.

    Cho đến một hôm, cậu hỏi tôi: “Anh còn gì chưa khai với công an không?” Tôi đáp chả còn gì! Cậu có vẻ băn khoăn lắm! Sau tôi mới nghĩ ra: cậu cũng được “gài” vào để tiếp tục “khai thác” tôi. Kế sách này của công an rất thâm độc! Biết được nỗi cô đơn là căn bệnh nặng nhất của người tù, họ dùng ngay những người cùng cảnh ngộ để người tù “dốc bầu tâm sự”! Nghe kể có những phạm nhân nguyên là sĩ quan công an cấp tá, cũng chết vì ngón đòn này của chính công an!

    Tuy nhiên tôi rất quý Tuấn! Đúng tính cách người của đất Cảng thật thà, mạnh mẽ, nghĩa tình! Khi cậu chuyển phòng sang khu khác, tôi dặn phòng hờ là nếu thấy Phan Đan ở đó, hãy chia sẻ tiếp tế cho anh ta vì gia đình Phan Đan khá khó khăn! Sau này gặp lại Phan Đan, anh cho biết là đã được Tuấn chia sẻ đồ ăn!

    Ra tù, tôi nhiều lần đi tìm Tuấn ở Hải Phòng, Hòn Gai (nghe nói cậu ra đó làm lò gạch), nhưng không có manh mối! Hay là cậu đã lại vượt biên?

    Nhân vật thứ 3 cùng giam trong xà lim là một cậu người ở Truồi, gần Huế. Con gia đình cách mạng, đi xuất khẩu lao động ở Tiệp nhưng lại trốn sang Tây Đức! Bị bắt về đây, cậu mang theo một cây thuốc lá đầu lọc hiệu Dunhill. Vì thế luôn luôn được các cai tù… đến “thăm hỏi”, cho đến khi số thuốc lá đầu lọc hết sạch thì mới thôi! Tôi chia sẻ cho cậu mọi đồ ăn gia đình gửi vào trong các bữa cơm tù. Ít lâu sau cậu chuyển buồng. Chẳng bao lâu, theo tin của “tự giác”, cậu bị phù vì thiếu vitamin, do không có ai tiếp tế!

    Nhân vật thứ tư là một anh chàng người Hong Kong mà tôi đã biết tên tuổi qua báo chí từ trước khi vào tù: Lý Hải Hoa (tức Toàn), bị bắt ở sông Sài Gòn khi chở mấy người Việt chống Cộng thâm nhập vào Việt Nam! Vụ này nổi tiếng, tôi từng đọc báo tường thuật rất li kỳ! Cậu nói được tiếng Việt. Cậu kể là mình có một con tàu cao tốc nhỏ, công việc chủ yếu là chở hàng lậu vào các nước Cộng Sản, và từng bị bắt ở Liên Xô, Bắc Triều Tiên. Cậu cho biết nhà tù ở hai nước ấy sướng hơn ở Việt Nam!

    Tôi cũng chia sẻ với cậu tất cả đồ ăn của gia đình gửi vào. Cậu cho tôi một ví dụ tiêu biểu về sự “kham nhẫn” của người Tàu: Mỗi bữa ăn, cậu liếm sạch sẽ như rửa bát, không để lại một chút xíu váng dầu mỡ; cậu cắn chắt tất cả những hạt thóc lẫn trong cơm mà tôi thải ra; cậu nhai sạch các vỏ chuối, vỏ khoai lang mà tôi bỏ. Cậu tình nguyện “tẩm quất” cho tôi mỗi ngày cả tiếng đồng hồ. Cậu tình nguyện dạy tôi tiếng Tàu mỗi ngày vài chục chữ! Tôi đã học tiếng Tàu trong 3 năm đại học, nhưng lâu không dùng nên quên sạch; nay học lại với cậu cũng được khoảng nghìn chữ, rồi ra tù không dùng đến, lại quên sạch!

    Cậu kể là gia đình đã sống ở đại lục thời Cộng sản rồi mới chạy sang Hong Kong. Cậu rất phục “Mao chủ xỉ”, coi ông như một Hoàng đế có quyền hưởng một “hậu cung” hùng hậu!

    Điều thú vị là cậu luôn nhắc đi nhắc lại: “Bao giờ có dịp sang Hong Kong, xin mời chú đến nhà cháu. Nhà cháu rất giàu có. Gia đình sẽ hậu tạ. Nhà cháu ở số… đường…”. Năm 2007, sang Hong Kong dự Hội nghị Văn bút Quốc tế khu vực châu Á – Thái Bình Dương, tôi thử tìm địa chỉ ấy, thì… không hề có thật!

    Cậu ở với tôi vài tháng thì chuyển đi đâu, từ đó tôi không biết số phận cậu ra sao.  

    Trong cùng dãy xà lim của tôi còn có 3 nhân vật đáng nhớ:

    Hai nhân vật ở sát xà lim của tôi, vẫn được tôi “quăng dây” chia sẻ mỗi khi nhận “tắc” của gia đình.

    Một cựu sĩ quan Việt Nam Cộng Hoà, thấy tôi biết tiếng Pháp nên xưng tên là “Diamant” (Kim Cương), an ninh quân đội. Số cựu sĩ quan VNCH bị đưa về trại này chắc hẳn là “thứ dữ” nhưng đến nay tôi vẫn chưa tra cứu được ai có tên Kim Cương!

    Một cựu sĩ quan Quân đội Nhân dân Việt Nam. Bị bắt trong một vụ án “tổ chức lật đổ chính quyền” mà ông là đầu xỏ của nhóm chỉ có 3 người, người thứ hai là… một thợ xây, người thứ ba là… một thợ cắt tóc! Ông khuyên tôi khi ra tù nên kiếm sống bằng việc… bán phở gánh, mỗi ngày bán được 50 bát là sống khoẻ! Và ông truyền cho tôi “bí quyết” để có nước phở ngon: mỗi thùng nước phở cho vào 2 con cóc, sẽ rất ngọt nước và nhiều đạm! Nghe cũng có lý, vì tôi nhớ ở Hải Phòng, có ông lang nổi tiếng về “cao cóc” – cao dán chữa mọi thứ ung nhọt chính là bố đẻ nhà thơ-nhà biên kịch điện ảnh Đào Trọng Khánh. Ở Sài Gòn có cao cóc ông lang Tạ (Chợ Ông Tạ) do bác sĩ Trương Thìn, Viện trưởng Viện Y học dân tộc thành phố giới thiệu, đã giúp con trai tôi là Hoàng Quân dứt được chứng viêm phổi mạn tính mà Tây y bó tay (cứ nửa tháng cháu phải đi bệnh viện một lần, uống kháng sinh đến xanh xao gày mòn mà không dứt).

    Điều thú vị là sau “Đổi mới”, một hôm ông “đảng trưởng” tìm đến nhà tôi chơi, ông mặc quân phục với quân hàm đại tá, và tự giới thiệu là giám đốc một công ty kinh doanh của Hội Cựu Chiến binh! Ông lại đang sống như chồng của bà mẹ (goá phụ) của cậu Hùng – người được cài vào giam chung với tôi thời gian đầu ở B14.

    Cách xà lim tôi vài căn, là một bác sĩ, con rể (hay cháu rể) của tướng Chu Văn Tấn, Bí thư Quân khu uỷ Quân khu Việt Bắc (người bị bắt năm 1980 vì toan “vượt biên sang Trung Quốc”). Cứ chiều tối là từ xà lim ấy vọng lên tiếng hát buồn thê thiết! Chỉ hát đi hát lại một bài hát, tôi nghe mãi đến thuộc lòng:

    “Chiều biên giới em ơi/ Có nơi nào cao hơn/ Như đầu sông đầu suối/ Như đầu mây đầu gió/ Như trời xanh quê ta…”

    Ít lâu sau, đang giữa đêm có tiếng xôn xao từ phía ấy, rồi rầm rập bước chân cai tù: người tù miền biên giới đã chết! Xác anh được đưa đi ngay trong đêm.

    Hoàng Hưng


    Không có nhận xét nào