Nhân “Ngày quốc tế người cao tuổi 1.10.2026”, xin nhắc lại một bài viết xưa
Lê Nguyễn
01/10/2026
Không thấy có tài liệu nào nói rõ vào thời phong kiến, tuổi thọ bình quân của người dân nước ta là bao nhiêu, nhưng cứ nhìn vào tuổi thọ bình quân của người Việt trong khoảng 40-50 tuổi cách nay không bao lâu thì hẳn biết là ngày xưa, tuổi thọ của ông bà ta còn thấp lắm. Chả thế mà các vua chúa mới đến 40 là đã làm lễ tứ tuần đại khánh để mừng thọ rồi (trường hợp vua Khải Định vào năm 1924). Đó cũng là lý do các triều đại xưa tỏ ra rất quý trọng những người có tuổi thọ cao. Riêng triều Nguyễn đã đặt ra lệ thưởng các người sống thọ trong hàng ngũ quan lại hay dân chúng.
***
Ngày xưa, khi một bậc phụ lão đến 70 tuổi thì con cháu thường tổ chức lễ mừng thượng thọ và ngưỡng tuổi này đã được xếp vào hạng “xưa nay hiếm” (Nhân sinh thất thập cổ lai hy). Theo cụ Đào Duy Anh, tác giả Việt Nam văn hóa sử cương, trong ngày lễ mừng, con cháu người được mừng thọ mang lễ vật ra đình lễ thần, tạ ơn thần đã phù hộ cho cha mẹ mình sống lâu. Sau đó, họ rước cha hay mẹ ăn mặc chỉnh tề, lên ngồi thọ tịch đặt ở giữa nhà, con cháu lạy rồi mỗi người dâng một chén rượu hay một quả đào chúc thọ. Sau đó thì bày tiệc mừng mời thân thích, bằng hữu cùng làng mạc đến ăn, có khi năm bảy ngày mới xong.
Dân đã thế, đến vua quan còn phải hơn như thế nhiều. Năm 1924, vua Khải Định tổ chức lễ mừng tứ tuần đại khánh (mừng thọ 40 tuổi – nhà vua sinh năm 1885, đến năm 1924, tính theo tuổi ta là 40 tuổi). Và đấy là lễ mừng thọ duy nhất của nhà vua vì đến ngày 6.11.1925, ông thăng hà, ngai vàng về tay Hoàng thái tử Vĩnh Thụy tức vua Bảo Đại (1926-1945), vị vua cuối cùng của triều Nguyễn.
Một trong những đặc điểm đáng ghi nhận trong chính sách của triều Nguyễn là sự trân trọng đối với người cao tuổi. Điều này không có gì đáng ngạc nhiên, vì tinh thần “kính lão đắc thọ” từ lâu đã ăn sâu trong nếp sinh hoạt của người Việt thời xưa. Năm 1823, vua Minh Mạng dụ Bộ Lễ rằng:”Người đời xưa đều lấy số trăm tuổi làm kỳ hạn. Nhưng từ xưa đến nay, người nào thọ đến 70 tuổi đã xưng là ít có. Huống chi lên đến ngoài trăm tuổi, như thế là kỳ gi (người sống lâu trăm tuổi-LN), thật là điềm tốt lành của người trong thời thái bình, đều được cấp bạc lụa, biển ngạch để làm tinh biểu”.
Theo thể lệ do nhà vua đặt ra lúc bấy giờ, các quan tam phẩm trở lên sống đến 100 tuổi, được thưởng 100 lạng bạc, 10 tấm lụa; quan tứ, ngũ phẩm (cũng ở hạng tuổi trên) giảm 2/10; các quan thất, bát, cửu phẩm giảm 4/10. Các quan được 110 tuổi, được thưởng thêm 50 mươi lạng bạc, 5 tấm lụa; thêm 10 tuổi nữa, được số bạc và số lụa thêm gấp đôi.
Đó là về thọ quan, còn về thọ dân, lệ định rằng những đàn ông sống lâu trăm tuổi được thưởng 30 lạng bạc, vải, lụa mỗi thứ ba tấm; đàn bà thì 20 lạng bạc, vải, lụa mỗi thứ hai tấm. Mỗi người đều được cấp biển treo nơi nhà ở. Mỗi dịp đầu năm mới, các quan phủ huyện sở tại phải sai người mang rượu thịt đến biếu cho những người sống lâu trăm tuổi trở lên. Ít lâu sau, các địa phương trên cả nước lập danh sách được hơn 100 người sống từ 100 tuổi trở lên. Các địa phương Quảng Đức, Quảng Nam, Quảng Bình lập danh sách và tâu về kinh chậm trễ, khiến 8 thọ dân chết trước khi nhận phần thưởng, nhà vua ban dụ khiển trách và hạ lệnh giáng một cấp những quan lại chịu trách nhiệm về sự chậm trễ này.
Năm 1826, vua Minh Mạng định rằng gia đình nào ở các địa phương mà năm đời cùng ở một nhà (ngũ đại đồng đường), chứng tỏ gia đình đó có nhiều thọ dân thì quan sở tại phải tâu lên để nhà vua thưởng cho mỗi gia đình 20 lạng bạc, 20 tấm vải, 10 tấm lụa, 1 tấm đoạn. Trong số bạc trên, quan lại địa phương trích ra mười lạng dựng một cái nhà nhỏ gọi là phường, nhà xây hình vuông, treo một tấm biển vàng chạm bốn chữ “Dịch thế diễn tường” (mấy đời kế tiếp nhau hưởng sự tốt lành). Trên vách nhà khắc những hàng chữ ghi họ tên tất cả thành viên trong gia đình, nêu rõ sự kiện năm đời cùng ở chung trong một nhà và lý do ban thưởng của nhà vua.
Sau khi lệnh ban ra, Bắc Thành và tỉnh Nghệ An tâu lên có 6 gia đình ngũ đại đồng đường, nhà vua lấy làm sung sướng, cho rằng như thế chứng tỏ đời thái bình thịnh trị, bèn hậu thưởng cho mỗi nhà gồm bạc, vải, lụa và một tấm biển đề như trên. Trong số những người cao tuổi vào thời kỳ này, có ông Trần Công Yến, 98 tuổi, người làng Mỹ Lộc, trấn Nam Định, có 11 người con, 35 cháu, 15 chắt (cháu bốn đời) và 1 chút (cháu 5 đời); ông Nguyễn Trọng Bỉnh 88 tuổi ở Sơn Nam; ông Nguyễn Duy Phiên, 100 tuổi, ở Nghệ An…..
Năm 1832, vua Minh Mạng lại định rằng những quan văn từ tứ phẩm, quan võ từ tam phẩm trở lên, ai thọ đến 80 tuổi sẽ được ban thưởng. Còn quan văn từ ngũ phẩm, quan võ từ tứ phẩm trở xuống phải thọ đến 90 tuổi mới được ban thưởng. Kể từ năm 1838, quan văn từ tứ phẩm, quan võ từ tam phẩm trở lên, ai đi làm quan nơi xa mà có cha mẹ già ở lại quê nhà thì các quan lại ở địa phương phải định kỳ đến thăm hỏi, gặp khi đau ốm thì phải cử thầy thuốc đến điều trị.
Lệ khen thưởng người cao tuổi sống thọ thời Minh Mạng được tiếp nối đến các đời sau. Tháng tư năm Ất Vị (Ất Mùi- 1847) vua Thiệu Trị cũng tỏ rõ tấm lòng trân trọng đối với người cao tuổi:”Các quan văn tại Kinh và ngoài các tỉnh từ tam phẩm trở lên, ai còn cha mẹ tuổi đến 70, Ngài đều ban cho sâm quế, bạc, lụa: cả thảy được 12 người. Ngài dụ rằng:’Triều đình phép lớn dạy hiếu làm trung. Nhơn tử lòng vui còn thân hưởng lộc. Năm ngoái gặp lễ Tôn sùng là lễ lớn, không phải như lễ tầm thường. Vậy nên ban ơn không nệ cách thường, để tỏ nước nhà dùng “hiếu” mà trị thiên hạ’” (Quốc triều chính biên).
Đời vua Tự Đức cũng thế, cho dù phải trải qua nhiều khó khăn, “thù trong giặc ngoài”, nhà vua vẫn không quên tiếp nối chính sách tôn vinh người cao tuổi do tiên đế truyền lại. Năm 1862, Cần chính điện đại học sĩ Trương Đăng Quế đến thất thập thọ (70 tuổi), ông làm tặng một bài thơ và ban cho nhiều đồ phẩm hạng “để dưỡng già, coi sách” (QTCB).
Đến đời vua Khải Định, ngày 14 tháng 9 năm Nhâm Tuất, tức ngày 23.10.1922, cụ Cao Xuân Dục, Phụ chánh đại thần, Thái tử Thiếu bảo, Đông các đại học sĩ, nguyên Học Bộ thượng thư, được con cháu tổ chức lễ mừng thượng thọ 80 tuổi tại Phủ Diễn, Nghệ An. Trước đó mấy ngày, nhà vua đã cử một Tứ đẳng thị vệ (viên chức phụ trách việc nội cung) cùng Án sát Nghệ An mang đến nhà ban tặng Kim Khánh bội tinh, một bài thơ do nhà vua làm và đích thân chép trên giấy Long tiên màu vàng. Các quan lại địa phương và báo Trung Bắc Tân Văn cũng gửi quà mừng và những câu đối ca ngợi công lao và phẩm hạnh của vị đại thần này.
Xem như thế đủ thấy rằng trong truyền thống “kính lão” của tổ tiên ta, người sống thọ luôn có chỗ đứng trang trọng trong sinh hoạt của xã hội thời phong kiến, biết kính trọng người cao tuổi là thể hiện một trong những truyền thống tốt đẹp truyền lại từ ngàn xưa.
Lê Nguyễn
1.10.2026
Trích từ quyển “Nhà Nguyễn và những vấn đề lịch sử” tác giả LN - NXB Công an Nhân dân tái bản lần thứ 3 năm 2018
Không có nhận xét nào