Header Ads

  • Breaking News

    Ghi chép về chủ nghĩa dân tộc (Lược dịch và phân tích)

    Nguồn: Orwell, G. (1945). “Notes on nationalism.” The Orwell Foundation.

    Người dịch: Lê Lam Kiều

    08/10/2026

    Ghi chép về Chủ nghĩa Dân tộc (Notes on Nationalism, 1945) của George Orwell phân tích tác động của tư duy phe phái đối với nhận thức khách quan, giúp nhận diện các cơ chế tâm lý đứng sau xu hướng cuồng nhiệt ý thức hệ và ham muốn quyền lực tập thể.

    Image

    Trong Ghi chép về Chủ nghĩa Dân tộc (1945), George Orwell định nghĩa "chủ nghĩa dân tộc" là một thói quen tư duy gắn liền với ham muốn quyền lực tập thể, thay vì chỉ giới hạn ở phạm vi địa lý - (C): VSF/Canva

    Vì chuyển ngữ từ tiếng Anh sang tiếng Việt nên tài liệu này khó tránh khỏi những hạn chế về cách thức biểu đạt ngôn từ. VSF và người dịch khuyến khích bạn đọc tham khảo bản tiếng Việt có đối chiếu với tiếng Anh để có góc nhìn đầy đủ và chính xác hơn.

    “Chủ nghĩa dân tộc” theo Orwell

    Trong bài tiểu luận “Ghi chép về Chủ nghĩa Dân tộc”, George Orwell khởi đầu lập luận bằng việc nhắc đến việc nhà thơ Byron từng mượn từ tiếng Pháp longueur để miêu tả sự lê thê, dài dòng, gây nhàm chán cho người tiếp nhận – một hiện tượng vô cùng phổ biến trong đời sống nhưng lại thiếu vắng một từ ngữ tương đương trong tiếng Anh. Tương tự, Orwell nhận thấy trong đời sống chính trị và trí thức đương đại đang tồn tại một thói quen tư duy cực kỳ nguy hại, chi phối nhận thức của con người về hầu hết mọi vấn đề, nhưng lại chưa từng được định danh chính xác. Để lấp đầy khoảng trống khái niệm này, ông chọn “chủ nghĩa dân tộc” (nationalism).

    Tuy nhiên, Orwell chỉ rõ rằng ông không sử dụng thuật ngữ này theo nghĩa truyền thống gắn liền với một quốc gia, sắc tộc hay ranh giới địa lý cụ thể. Theo cách hiểu của ông, cảm xúc dân tộc chủ nghĩa hoàn toàn có thể bám chặt vào một tổ chức giáo hội, một giai cấp, hoặc vận hành theo một cơ chế hoàn toàn tiêu cực là chống lại một đối tượng nhất định mà không cần bất kỳ một lý tưởng trung thành tích cực nào làm chỗ dựa.

    Sự phân tích khái niệm của Orwell đi sâu vào bản chất tâm lý của thói quen tư duy này, bao gồm hai biểu hiện căn bản. Thứ nhất, đó là xu hướng mặc định phân loại toàn bộ nhân loại như những loài côn trùng, tự cho mình quyền dán nhãn “tốt” hay “xấu” cho những tập thể hàng chục triệu con người. Thứ hai, và nguy hiểm hơn cả, đó là thói quen tự hòa tan bản ngã cá nhân vào một tập thể được chọn, đặt tập thể đó đứng trên mọi chuẩn mực thiện - ác thông thường, đồng thời tuyệt đối hóa nghĩa vụ phục vụ cho lợi ích và uy thế của tập thể ấy.

    Bằng cách mở rộng khái niệm này, Orwell chỉ ra rằng chủ nghĩa dân tộc không chỉ giới hạn trong các phong trào quốc gia hữu hình như ở Đức hay Nhật Bản, mà còn hiện diện trong vô số phong trào tư tưởng đa dạng như Chủ nghĩa Cộng sản, Chủ nghĩa Công giáo Chính trị, Chủ nghĩa Phục quốc Do Thái, Chủ nghĩa Bài Do Thái, Chủ nghĩa Trotsky và cả Chủ nghĩa Hòa bình. Tất cả những hình thái này, dù nhân danh những giá trị khác nhau, đều chia sẻ chung một nền tảng tâm lý là sự khao khát quyền lực và sự tự dối mình.

    Lòng yêu nước và chủ nghĩa dân tộc

    Trong bài viết, Orwell chỉ ra ranh giới giữa lòng yêu nước và chủ nghĩa dân tộc – hai khái niệm vốn mơ hồ và thường xuyên bị đánh đồng. Qua phân tích của Orwell, hai khái niệm này đại diện cho hai trạng thái tinh thần hoàn toàn đối lập, thậm chí triệt tiêu lẫn nhau. Lòng yêu nước (patriotism) được định nghĩa là sự tận tụy chân thành dành cho một địa phương cụ thể, một vùng đất hay một lối sống cụ thể mà một người tin là tốt đẹp nhất trên đời, nhưng hoàn toàn không đi kèm với bất kỳ mong muốn áp đặt lối sống ấy lên các cộng đồng khác. Do đó, lòng yêu nước mang bản chất tự vệ thuần túy, cả trên phương diện quân sự lẫn văn hóa, nhằm bảo vệ những giá trị thân thương trước sự xâm hại từ bên ngoài.

    Trái lại, chủ nghĩa dân tộc (nationalism) không thể tách rời với cơn khát quyền lực và uy thế. Kẻ theo chủ nghĩa dân tộc không bao giờ thỏa mãn với việc bảo tồn lối sống của mình; mục tiêu bất biến của hắn là thâu tóm ngày càng nhiều quyền lực và sự thống trị, không phải cho cá nhân hắn, mà cho tập thể mà hắn đã chọn làm chỗ dựa tâm linh. Nếu như lòng yêu nước lấy tình yêu dành cho cái cụ thể làm gốc rễ, thì chủ nghĩa dân tộc lại lấy khát vọng quyền lực và thái độ tranh chấp làm động cơ chủ đạo. Kẻ theo chủ nghĩa dân tộc nhìn nhận thế giới như một đấu trường sinh tử giữa các khối quyền lực, nơi mọi sự kiện lịch sử đều phải được diễn giải như một minh chứng cho sự vươn lên của phe mình và sự suy tàn của đối thủ. Hắn tự thuyết phục bản thân rằng phe mình là phe mạnh nhất và đúng đắn nhất, sẵn sàng duy trì niềm tin ấy bằng mọi giá ngay cả khi thực tế phũ phàng hoàn toàn chống lại hắn.

    Ba căn bệnh tâm lý của tư duy dân tộc chủ nghĩa (*)

    Đi sâu vào cơ chế vận hành tâm lý của kẻ theo chủ nghĩa dân tộc, Orwell nhận diện ba đặc trưng cốt lõi chi phối toàn bộ tiến trình tư duy của họ, đầu tiên là sự ám ảnh tột độ (obsession). Kẻ mang tư tưởng dân tộc chủ nghĩa hầu như không thể suy nghĩ, nói năng hay viết lách về bất cứ chủ đề nào mà không liên tục quy về tính ưu việt của tập thể mà mình thuộc về. Hắn hoàn toàn không có khu vực tư duy trung lập; bất kỳ một lời chỉ trích nhỏ nhặt nào nhắm vào phe mình hay một lời khen ngợi vô tư dành cho phe đối lập đều khiến hắn bồn chồn, khó chịu và buộc phải đưa ra phản ứng gay gắt. Hắn không chỉ tuyên bố phe mình ưu việt về quân sự hay chính trị, mà còn khuếch đại sự vượt trội đó sang mọi lĩnh vực từ nghệ thuật, văn học, thể thao, vẻ đẹp thể chất cho đến cả khí hậu và ẩm thực. Sự ám ảnh này còn thể hiện qua sự nhạy cảm thái quá đối với danh xưng, ngôn ngữ, phương ngữ và việc sử dụng các biểu tượng mang tính ma thuật như đốt hình nhân hay dùng ảnh đối thủ làm bia đỡ đạn.

    Đặc trưng thứ hai là tính bất ổn (instability) và khả năng dịch chuyển lòng trung thành (transferred nationalism). Dù thứ cảm xúc dân tộc chủ nghĩa có thể đạt đến mức độ mãnh liệt cuồng tín, nó lại không hề cố định mà hoàn toàn có thể bị tháo gỡ khỏi quê hương bản xứ để gắn vào một quốc gia hoặc tập thể ngoại quốc. Bằng chứng là nhiều nhà lãnh đạo hay kẻ sáng lập các phong trào dân tộc chủ nghĩa vĩ đại vốn lại là người ngoại quốc hoặc đến từ các vùng biên giới mù mờ về quốc tịch như Stalin, Hitler, Napoleon hay de Valera. Trong giới trí thức, lòng trung thành này thường xuyên dịch chuyển sang các cường quốc bên ngoài như Nhật Bản, Đức, và đặc biệt là Liên Xô. Sự dịch chuyển này mang lại một lợi ích tâm lý to lớn cho giới trí thức: nó cho phép họ thỏa sức đắm mình vào những cảm xúc dung tục, ngớ ngẩn, độc hại và thiếu trung thực nhất dưới danh nghĩa một đất nước xa lạ – những điều mà bối cảnh dư luận tại quê nhà không cho phép họ thể hiện đối với chính đất nước mình. Nhờ đó, họ tìm thấy một hình thức “cứu rỗi” tâm linh dễ dãi mà không cần phải thay đổi hành vi đạo đức của bản thân.

    Đặc trưng thứ ba, và cũng là đặc trưng nguy hại nhất, chính là sự thờ ơ tuyệt đối với thực tại khách quan (indifference to reality). Kẻ theo chủ nghĩa dân tộc không bao giờ đánh giá các hành vi dựa trên bản chất đạo đức của chính chúng, mà hoàn toàn dựa vào danh tính của kẻ thực hiện. Mọi hành vi bạo ngược tàn bạo nhất – từ tra tấn, bắt con tin, lao động cưỡng bức, trục xuất hàng loạt cho đến ném bom dân thường –đều lập tức thay đổi màu sắc đạo đức và trở nên đáng biểu dương khi chúng được thực hiện bởi phe “chúng ta”. Kẻ theo chủ nghĩa dân tộc sở hữu một khả năng kỳ lạ là hoàn toàn không nghe, không thấy và không biết đến các tội ác do phe mình gây ra, như việc những người Anh hâm mộ Hitler phớt lờ các trại tập trung, hay những người cuồng Nga hoàn toàn không hay biết về nạn đói thảm khốc tại Ukraine năm 1933 làm chết hàng triệu người. Hơn nữa, họ bị ám ảnh bởi niềm tin rằng quá khứ có thể được sửa đổi, khiến báo chí và lịch sử trở thành công cụ ngụy tạo trắng trợn, nơi các sự thật bị che đậy, ngày tháng bị bóp méo và lịch sử được viết lại liên tục để phục vụ cho nhu cầu tuyên truyền đương thời.

    Các biến thể chủ nghĩa dân tộc trong giới trí thức

    Nhằm làm rõ quy mô ảnh hưởng của thứ ma lực này, Orwell tiến hành phân loại chi tiết các hình thái chủ nghĩa dân tộc đang hoành hành trong giới trí thức Anh – nơi mà lòng yêu nước truyền thống đã suy yếu và tạo khoảng trống cho chủ nghĩa dân tộc phát triển dưới dạng nguyên chất nhất. Ông chia các biến thể này thành ba nhóm lớn gồm Tích cực (Positive), Dịch chuyển (Transferred) và Tiêu cực (Negative).

    Trong nhóm Chủ nghĩa Dân tộc Tích cực (Positive Nationalism), Orwell chỉ ra Chủ nghĩa Bảo thủ Mới (Neo-Toryism) với động lực cốt lõi là sự chối bỏ thực tế rằng quyền lực của nước Anh đã suy giảm, từ đó cố bám chấp vào ảo tưởng thống trị thế giới bằng “những tư tưởng Anh” (English ideas). Cùng nhóm này là Chủ nghĩa dân tộc Xen-tơ (Celtic Nationalism) [1] (với các phong trào ở Scotland, Wales, Ireland) mang đậm màu sắc chống Anh và ảo tưởng về sự ưu việt chủng tộc bẩm sinh, cùng với Chủ nghĩa Phục quốc Do Thái (Zionism). [2]

    Nhóm thứ hai là Chủ nghĩa Dân tộc Dịch chuyển, nơi sự lệch lạc trí tuệ bộc lộ rõ nét nhất. Dẫn đầu nhóm này là Chủ nghĩa Cộng sản (Communism), nơi giới trí thức coi Liên Xô là Tổ quốc thực sự và xem việc bào chữa cho mọi chính sách của Nga là nghĩa vụ thiêng liêng. Tương tự là Chủ nghĩa Công giáo Chính trị (Political Catholicism) mà Orwell lấy nhà văn G. K. Chesterton làm điển hình: một người vốn đấu tranh cho dân chủ tại Anh nhưng lại đè nén sự trung thực trí tuệ để lý tưởng hóa mù quáng nước Pháp và ngợi ca Mussolini chỉ vì ông ta làm nước Ý mạnh lên. Nhóm này cũng bao gồm việc đảo ngược thái độ về màu da và giai cấp – nơi trí thức tự ti biến sự tôn sùng thành niềm tin vào sự ưu việt của các chủng tộc da màu hay giai cấp vô sản. Đáng chú ý nhất trong nhóm này là Chủ nghĩa Hòa bình (Pacifism) của một bộ phận trí thức trẻ; Orwell bóc tách rằng động cơ ngầm của họ không phải là lòng nhân đạo thuần túy mà là sự căm thù nền dân chủ phương Tây và sự ngưỡng mộ ngầm đối với quyền lực toàn trị cùng tính tàn bạo thành công của những kẻ như Hitler hay Stalin.

    Nhóm thứ ba là Chủ nghĩa Dân tộc Tiêu cực (Negative Nationalism), vận hành hoàn toàn dựa trên sự thù hận và phản ứng chống đối. Biểu hiện đầu tiên là thái độ bài Anh (Anglophobia) vốn trở thành một thứ mốt bắt buộc trong giới trí thức cánh tả, khiến họ rơi vào chủ nghĩa hàng bại, cảm thấy phấn khích một cách bệnh thành tích khi đất nước mình gặp thất bại quân sự và luôn tuân theo nguyên tắc rằng bất kỳ phe nào được Anh chống lưng đều phải là phe sai trái. Tiếp theo là Chủ nghĩa bài Do Thái (Anti-Semitism) [3] luôn âm thầm chảy ngầm bất chấp sự lên án công khai. Cuối cùng là Chủ nghĩa Trotsky (Trotskyism) –một dạng Mác-xít giáo điều mà động cơ cốt lõi không phải là cải tạo thế giới mà chỉ thuần túy là thái độ thù hận đối với chế độ Stalin, biến mọi cuộc thảo luận thành sự ám ảnh cố chấp vào việc đánh bại đối thủ trong cuộc chiến tranh giành uy thế.

    Sự sụp đổ của nhận thức thực tại, lý trí và chuẩn mực đạo đức

    Thông qua việc phân tích các hình thái trên, Orwell kết luận chua chát về sự sụp đổ của lý trí, khả năng dự báo và ý thức đạo đức khi tư duy con người bị tiêm nhiễm bởi chủ nghĩa dân tộc. Ông chỉ ra sự thất bại thảm hại của các chuyên gia và giới trí thức trong việc dự đoán các sự kiện lớn của Thế chiến II –chẳng hạn như không một ai dự báo được Hiệp ước Xô-Đức năm 1939 hay việc các trí thức cánh tả liên tục đưa ra những dự đoán sai lầm về sự sụp đổ của Anh, Ai Cập hay thất bại của đợt ném bom liên quân. Nguyên nhân sâu xa của sự mù lòa này là do giới trí thức bị chi phối bởi cảm xúc phe phái mạnh mẽ hơn nhiều so với quần chúng bình thường; sự căm thù tầng lớp cai trị Anh hay sự sùng bái một cường quốc ngoại quốc đã ngăn cấm họ nhìn nhận các sự kiện dựa trên nghiên cứu xác suất thực tế.

    Chủ nghĩa dân tộc làm vỡ vụn và lệch lạc cả ý thức về thực tại lẫn ý thức về đúng sai. Khi nỗi sợ hãi, lòng đố kỵ, sự thù hận và lòng sùng bái quyền lực can thiệp, lý trí hoàn toàn bị vô hiệu hóa. Mỗi kiểu người theo chủ nghĩa dân tộc đều nuôi dưỡng một “vết đau” tâm lý và sở hữu một sự thật hiển nhiên mà họ tuyệt đối không thể dung thứ hay chấp nhận trong tư duy. Người Bảo thủ Anh không thể chấp nhận sự suy giảm uy thế của quốc gia; người Cộng sản không thể thừa nhận Nga sẽ gục ngã nếu không có sự viện trợ của Anh-Mỹ; người Ireland không thể chấp nhận độc lập của mình nhờ sự bảo hộ của Anh; người theo chủ nghĩa Trotsky không thể chấp nhận việc chế độ Stalin được quần chúng Nga ủng hộ; và người theo chủ nghĩa Hòa bình không thể thừa nhận sự từ bỏ bạo lực của mình chỉ khả thi nhờ có kẻ khác đang dùng bạo lực bảo vệ họ. Bởi vì những sự thật này quá phũ phàng, họ buộc phải phủ nhận chúng và dựng lên cả một hệ thống lý thuyết ngụy biện dựa trên sự phủ nhận đó. Khi lòng trung thành đã can thiệp, lòng trắc ẩn ngừng hoạt động và không một tội ác nào lại không thể được dung thứ.

    Lối thoát duy nhất cho trí thức trước ma lực của phe phái

    Ở phần kết của bài tiểu luận, Orwell truy tìm nguyên nhân sâu xa của việc chủ nghĩa dân tộc lan rộng, xem đó là phản ánh méo mó của các cuộc chiến quyền lực khốc liệt ở thế giới bên ngoài, được tạo điều kiện bởi sự sụp đổ của lòng yêu nước truyền thống và niềm tin tôn giáo. Tuy nhiên, ông kịch liệt cảnh báo rằng việc nhận thức được thực trạng này không nên dẫn người ta đến chủ nghĩa bảo thủ thoái lùi hay chủ nghĩa tĩnh lặng chính trị (political quietism) – tức thái độ buông xuôi, đứng ngoài chính trị với lý do mọi phe phái đều dối trá và tàn bạo như nhau. Orwell khẳng định rằng trong thế giới hiện đại, không một ai được coi là trí thức lại có thể đứng ngoài chính trị. Con người bắt buộc phải dấn thân, phải có sự ưu tiên và nhận thức rõ ràng rằng một số chính nghĩa khách quan là tốt đẹp hơn những cái khác, ngay cả khi chúng được thúc đẩy bởi những phương tiện tồi tệ như nhau.

    Giải pháp cốt lõi mà Orwell đề xuất cho căn bệnh dân tộc chủ nghĩa không nằm ở các công thức lý thuyết suông mà nằm ở một nỗ lực mang tính đạo đức cá nhân. Ông thừa nhận rằng những tình yêu, sự thù hận, lòng đố kỵ hay cảm giác tự ti mang tính dân tộc chủ nghĩa là một phần bản tính tự nhiên của hầu hết chúng ta, vốn không thể xóa bỏ đơn thuần bằng cách suy nghĩ. Tuy nhiên, con người hoàn toàn có thể đấu tranh chống lại chúng. Tiến trình này bắt đầu bằng việc dũng cảm khám phá ra bản chất thực sự của chính mình, gọi tên những cảm xúc thù hận hay đố kỵ mà mình đang nuôi dưỡng (dù là với Nga, Mỹ, người Do Thái hay giai cấp cai trị), và rồi chủ động tính đến những thiên kiến không thể tránh khỏi đó trong tiến trình tư duy. Những thôi thúc cảm xúc vốn là nền tảng cho hành động chính trị cần phải được kiểm soát để tồn tại song hành với việc chấp nhận thực tại khách quan. Orwell khép lại bài viết bằng một nhận định chua chát nhưng đầy tính cảnh tỉnh: đòi hỏi này cần một nỗ lực đạo đức (moral) vô cùng lớn lao, nhưng nền văn học và giới trí thức đương thời lại cho thấy có quá ít người sẵn sàng thực hiện nỗ lực đó.

    (*) Để bổ sung cho ba cơ chế tâm lý (hoặc ba căn bệnh theo ngôn ngữ của Orwell), chúng ta có thể quy chiếu về học thuyết cô độc (loneliness) trong nhà nước toàn trị của Hannah Arendt. Theo Arendt, khi rơi vào sự cô độc, cá nhân bị ngắt kết nối với thế giới chung và đánh mất cảm thức chung, khiến cá nhân mất đi khả năng kiểm chứng sự thật qua tương tác xã hội, khiến thực tại khách quan trở nên vô nghĩa và dễ dàng bị phủ nhận (bởi vì cá nhân ấy thiếu đi sự tương tác và các hệ quy chiếu đa chiều để tự kiểm chứng tìm ra sự thật đúng nhất). Để lấp đầy khoảng trống hiện sinh ấy, tâm trí bám chặt vào tính nhất quán siêu logic của ý thức hệ như một điểm tựa tuyệt đối chống lại cảm giác thừa thãi của một tâm trí cô độc. Cuối cùng, chính vì mục tiêu cốt lõi là mượn quyền lực tập thể để giải tỏa sự cô đơn, đối tượng của quyền lực đó là ai hoàn toàn không quan trọng. Điều này giải thích hoàn hảo cho tính dịch chuyển lòng trung thành ở Orwell: Kẻ cô đơn có thể hôm nay cuồng nhiệt theo chủ nghĩa giáo hội, ngày mai chuyển sang chủ nghĩa cộng sản, ngày kia trở thành kẻ bài Do Thái... miễn là tập thể mới đó cung cấp cho họ một liều thuốc đủ mạnh để đè bẹp cảm giác cô đơn và cho họ cảm giác thuộc về một bộ máy quyền lực vĩ đại.

    [1] Chủ nghĩa dân tộc Xen-tơ (Celtic Nationalism): phong trào dân tộc chủ nghĩa tại Scotland, Wales và Ireland, mang màu sắc chủng tộc luận khi tin rằng người Celt vốn thuần khiết và cao quý hơn người Saxon; danh nghĩa là chống Anh nhưng Orwell chỉ ra bản chất vẫn là cùng một cơn khát quyền lực, thể hiện rõ nhất qua ảo tưởng rằng các vùng này có thể tự lập mà không cần bảo hộ của Anh.

    [2] Chủ nghĩa Phục quốc Do Thái (Zionism) là phong trào chính trị - dân tộc xuất hiện từ cuối thế kỷ 19 ở châu Âu, với mục tiêu cốt lõi là xây dựng và bảo vệ một quê hương (homeland) cho người Do Thái tại vùng đất mà Kinh Thánh gọi là “Đất Canaan” hay “Đất Israel” (Eretz Israel) – cội nguồn tâm linh và lịch sử của dân tộc Do Thái, sau này được người La Mã đổi tên thành “Palestine” vào thế kỷ thứ 2 sau Công nguyên. Phong trào ra đời trong bối cảnh người Do Thái phải chịu nạn phân biệt đối xử và bức hại kéo dài (đặc biệt ở Đông Âu và Nga), nên chủ trương rằng chỉ khi có một nhà nước riêng, người Do Thái mới thực sự an toàn và có thể tự quyết vận mệnh của mình. Zionism đã dẫn đến việc thành lập Nhà nước Israel năm 1948, và hiện vẫn là một khái niệm chính trị gây tranh cãi, đặc biệt liên quan đến xung đột Israel - Palestine.

    [3] Chủ nghĩa bài Do Thái (Anti-Semitism) là thái độ thù ghét, kỳ thị hoặc phân biệt đối xử nhắm vào người Do Thái – có thể biểu hiện qua định kiến cá nhân, diễn ngôn thù hận, chính sách phân biệt của nhà nước, cho đến bạo lực có tổ chức. Đây là một trong những hình thức phân biệt chủng tộc/tôn giáo lâu đời và dai dẳng nhất trong lịch sử phương Tây, với các đỉnh điểm bi thảm như các cuộc thảm sát (pogrom) ở châu Âu thời Trung Cổ và cận đại, và tột cùng là cuộc diệt chủng Holocaust do Đức Quốc xã thực hiện trong Thế chiến II, khiến khoảng 6 triệu người Do Thái thiệt mạng.

    Lê Lam Kiều là sinh viên của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh. Lĩnh vực nghiên cứu của Lam Kiều là triết học chính trị, kinh tế học thể chế, và an ninh hàng hải.


    Không có nhận xét nào