Header Ads

  • Breaking News

    Giải ảo: TRONG SỬ LIỆU XƯA BẰNG CHỮ HÁN, GHI "QUỐC" (KHÔNG dùng danh từ ghép "Quốc Gia"?)

    Nguyễn Chương-Mt

    23/10/2026

    “…"Quốc gia", trong các dẫn chứng trên, luôn gắn liền với quyền lực hoàng gia, là đất nước ("quốc") của vua, thuộc gia tộc ("gia") của vua. 

    "Quốc gia" ở đây mang nghĩa là "Clannish Nation".

    Còn "QUỐC GIA" mang nghĩa là "State/État", gồm "lãnh thổ + chính quyền + công dân", vào những thập niên cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 mới xuất hiện. 

    Trước hết, trên mặt báo viết bằng chữ Quốc ngữ như "Gia Định báo", trong Đại Nam quấc âm tự vị (viết bằng chữ Quốc ngữ và chữ Nôm, chữ Hán) năm 1895. 

    Đặc biệt, khái niệm QUỐC GIA (State/État; KHÔNG phải "Clannish Nation": đất nước thuộc dòng tộc) được thúc đẩy bởi phong trào Duy Tân của Phan Châu Trinh, trong "Việt Nam vong quốc sử" của Phan Bội Châu (1905)... 

    Từ đây, đánh dấu sự khai phóng của danh xưng "QUỐC GIA" khỏi tư tưởng quân chủ để chuyển sang tư tưởng chính trị hiện đại”.


    Hình ảnh Lễ kỷ niệm 200 năm quốc hiệu VIỆT NAM (1804-2004) tại Huế.

    * Cách ghi "Quốc", rồi "Gia" thời xưa mang ý nghĩa KHÁC với danh từ ghép "Quốc Gia" mà hiện nay chúng ta đang hiểu (đồng nghĩa với "State" trong tiếng Anh, "État" trong tiếng Pháp, "der Staat" trong tiếng Đức - theo hệ thống thuật ngữ chính trị phương Tây hiện đại). 

    /I/ "Nam QUỐC sơn hà", sông núi nước Nam... Trong tiếng Hán cổ đại và trung đại, khái niệm đất nước, được đại diện bằng một chữ đơn là "QUỐC" (國).

    Thời quân chủ, "Quốc" là đất phong của các chư hầu, hoặc giang sơn của một vương triều độc lập. Người xưa gọi nước sở tại là "bổn quốc" (bản quốc), nước láng giềng là "lân quốc", nước ngoài là "ngoại quốc"...

    /2/ Còn "GIA" (家)? là gia tộc, gia phong của các khanh đại phu. Khái niệm này xuất hiện từ thời Tiên Tần, như trong sách Mạnh Tử: "Thiên hạ chi bản tại quốc; quốc chi bản tại gia; gia chi bản tại thân" 天下之本在國,國之本在家, 家之本在身. 

    Nghĩa là "Cái gốc của thiên hạ là ở nước, cái gốc của nước là ở nhà, cái gốc của nhà là ở bản thân."

    /3/ Đến thế kỷ 19 - đầu thế kỷ 20, khi trào lưu tân học và các tư tưởng chính trị phương Tây như "State", "État", "der Staat" tràn vào Đông Á, các học giả thời cận đại - đặc biệt là các trí thức Nhựt Bổn thời Minh Trị, sau đó là các nhà cải cách Trung Hoa như Lương Khải Siêu, Khang Hữu Vi đã tìm cách chuyển ngữ...

    Họ đã mượn danh từ "Quốc", danh từ "Gia", đem ghép lại thành "QUỐC GIA" (國家) để chuyển ngữ cho các khái niệm pháp lý - chính trị phương Tây. Theo đó, "Quốc Gia" mang hàm nghĩa gòm "lãnh thổ hiến định + chính quyền + công dân" (State, État, der Staat). 

    Nghĩa của "QUỐC GIA", thành hình trong thế kỷ 19-20, là như vậy; hoàn toàn KHÁC, thoát khỏi nghĩa cũ là đất nước của vua, thuộc sở hữu của một gia tộc, dòng họ.

    /4/ Ồ, có phải ngày xưa từng có câu "Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách", ở đây "QUỐC GIA" gắn liền với nhau kia mà?

    Thực ra, về nguyên gốc, KHÔNG PHẢI CÂU TRÊN. Mà câu đúng là "Thiên hạ hưng vong, thất phu hữu trách" (天下興亡,匹夫有責).

    Câu nói này có gốc tích từ bộ sử liệu "Nhựt tri lục" (日知錄) của nhà sử học cuối đời Minh đầu đời Thanh – là Cố Viêm Võ (顧炎武). Ông đưa ra quan điểm "Hữu vong quốc, hữu vong thiên hạ (,,,) thất phu chi tiện, dữ hữu trách..." - dài 69 chữ. 

    Nhà cải cách Lương Khải Siêu (đầu thế kỷ 20) đã khái quát, cô đọng toàn bộ đoạn văn dài trên thành 8 chữ ngắn gọn: "Thiên hạ hưng vong, thất phu hữu trách"!

    *&*

    Chính vì có sự dịch chuyển khái niệm "QUỐC GIA" trong THỜI CẬN ĐẠI, câu nói "Thiên hạ hưng vong" đã dần hồi được chuyển thành "Quốc gia hưng vong" để phù hợp với tư duy chính trị thời đại.

    * Trên đây vẫn là thiển ý lượm lặt mà thôi, quí bạn giúp cho biết hai chữ "quốc gia" (國家) - ghép với nhau - có từng xuất hiện trong thư tịch chữ Hán nào ở nước Việt? mang ý nghĩa ra sao, có giống với khái niệm "quốc gia" dùng chuyển ngữ tương đương với State, État không?

    * Bài ghi chú của NGUYỄN CHƯƠNG 

    ------------------------------------------------------

    Tên gọi VIỆT NAM, bắt đầu vào đầu thế kỷ 19 (1804); sau đó tên gọi ĐẠI NAM, tồn tại đến gần giữa thế kỷ 20 (năm 1945).

    Nguyễn Chương-Mt

    O͏c͏t͏o͏b͏e͏r͏ ͏2͏4͏ /2026

    "Quốc gia" mà... không phải "QUỐC GIA"!

    Trong bài trước, "TRONG SỬ LIỆU XƯA BẰNG CHỮ HÁN, GHI CHỮ ĐƠN "QUỐC" (國) để chỉ đất nước (*), chẳng hạn Nam quốc tức nước Nam. Vậy, cách gọi "quốc gia" có hay không, trong sử liệu xưa, nếu có thì mang nghĩa gì?

    /1/ Trong "Quân trung từ mệnh tập" (軍中詞命集) do Nguyễn Trãi soạn thảo (thế kỷ 15), có dùng cụm chữ "quốc gia đại sự" (國家大事). 

    * Trong "Lịch triều hiến chương loại chí" (歷朝憲章類誌) của Phan Huy Chú, đầu thế kỷ 19, phần "Bang giao chí" có ghi câu nói của Ngô Thì Sĩ:

    " 臣 雖 知 識 淺 陋, 不敢 溷 國 家大事。然 既 奉 問, 敢不 竭 愚"

    (âm HV: "Thần tuy tri thức thiển lậu, bất cảm hỗn QUỐC GIA đại sự. Nhiên ký phụng vấn, cảm bất kiệt ngu")

    Dịch nghĩa:

    "Thần tuy kiến thức nông cạn kém cỏi, không dám bàn can dự vào việc lớn của quốc gia. Song đã được hỏi đến, há lại không dốc hết lòng ngu muội này". 

    * Nhà vua Minh Mạng ban chỉ dụ lập ra Viện Cơ Mật, năm 1834 (gần giữa thế kỷ 19):

    朕 惟 樞 密 之 防, 最 關 國 家 武力。茲 設 機 密 院, 專司軍國重事。

    (âm HV: "Trẫm duy xu mật chi phòng, tối quan QUỐC GIA võ lực. Tư thiết Cơ mật viện, chuyên ti quân quốc trọng sự")

    Dịch nghĩa:

    "Trẫm nghĩ việc phòng thủ then chốt và cơ mật, liên quan tối cao đến võ lực quốc gia. Nay lập ra Viện Cơ Mật, chuyên trách các việc trọng đại của quân đội và đất nước". 

    /2/ "Quốc gia", trong các dẫn chứng trên, luôn gắn liền với quyền lực hoàng gia, là đất nước ("quốc") của vua, thuộc gia tộc ("gia") của vua. 

    "Quốc gia" ở đây mang nghĩa là "Clannish Nation".

    Còn "QUỐC GIA" mang nghĩa là "State/État", gồm "lãnh thổ + chính quyền + công dân", vào những thập niên cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 mới xuất hiện. 

    Trước hết, trên mặt báo viết bằng chữ Quốc ngữ như "Gia Định báo", trong Đại Nam quấc âm tự vị (viết bằng chữ Quốc ngữ và chữ Nôm, chữ Hán) năm 1895. 

    Đặc biệt, khái niệm QUỐC GIA (State/État; KHÔNG phải "Clannish Nation": đất nước thuộc dòng tộc) được thúc đẩy bởi phong trào Duy Tân của Phan Châu Trinh, trong "Việt Nam vong quốc sử" của Phan Bội Châu (1905)... 

    Từ đây, đánh dấu sự khai phóng của danh xưng "QUỐC GIA" khỏi tư tưởng quân chủ để chuyển sang tư tưởng chính trị hiện đại./.

    * Bài ghi chú của NGUYỄN CHƯƠNG 

    -------------------------------------------------

    (*) Bài TRONG SỬ LIỆU XƯA BẰNG CHỮ HÁN, GHI "QUỐC"... https://www.facebook.com/nguyenchuong158/posts/pfbid0yZ155vhbrRoYnARxB3AzYWYPXUp5LJ2keT4JXE5obdf8UDMVf3d4uz253QdQ3FUyl


    Không có nhận xét nào