Header Ads

  • Breaking News

    Hồ sơ phỏng vấn hồi chánh viên – Đại úy Phan Văn Xướng

    Phần I

    Tác giả: JUSPAO 

    29/10/2026

    BẢN DỊCH TIẾNG VIỆT
    HỒ SƠ PHỎNG VẤN ĐẠI ÚY PHAN VĂN XƯỚNG (1968)

    Nguồn: JUSPAO, Field Development Division / Special Projects. Họp báo và phỏng vấn ngày 2-7-1968.

    Lưu ý về bản dịch: Bản PDF là bản sao microfilm, nhiều trang trắng xen kẽ và một số chữ bị mờ. Bản dịch dưới đây giữ nguyên cấu trúc hỏi–đáp và nội dung của tài liệu; không hiệu chỉnh các khẳng định lịch sử theo kiến thức bên ngoài. Những chỗ không thể đọc chắc chắn được đánh dấu [không đọc rõ]. Các chữ viết tắt được chuyển sang tiếng Việt khi xác định được: ARVN = Quân lực Việt Nam Cộng hòa; GVN = Chính phủ Việt Nam Cộng hòa; NLF = Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam; NVN = Bắc Việt/miền Bắc; SVN = Nam Việt Nam/miền Nam.

    Hình minh họa: AI

    BẢN DỊCH TIẾNG VIỆT
    HỒ SƠ PHỎNG VẤN ĐẠI ÚY PHAN VĂN XƯỚNG (1968)

    Nguồn: JUSPAO, Field Development Division / Special Projects. Họp báo và phỏng vấn ngày 2-7-1968.

    Lưu ý về bản dịch: Bản PDF là bản sao microfilm, nhiều trang trắng xen kẽ và một số chữ bị mờ. Bản dịch dưới đây giữ nguyên cấu trúc hỏi–đáp và nội dung của tài liệu; không hiệu chỉnh các khẳng định lịch sử theo kiến thức bên ngoài. Những chỗ không thể đọc chắc chắn được đánh dấu [không đọc rõ]. Các chữ viết tắt được chuyển sang tiếng Việt khi xác định được: ARVN = Quân lực Việt Nam Cộng hòa; GVN = Chính phủ Việt Nam Cộng hòa; NLF = Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam; NVN = Bắc Việt/miền Bắc; SVN = Nam Việt Nam/miền Nam.

    I. BIÊN BẢN HỌP BÁO VỚI ĐẠI ÚY PHAN VĂN XƯỚNG

    Đại úy Phan Văn Xướng, Quân đội Bắc Việt
    Họp báo tổ chức ngày 2 tháng 7 năm 1968 tại Trung tâm Báo chí Quốc gia, Sài Gòn.
    Đơn vị phát hành: Field Development Division, JUSPAO, Sài Gòn.

    Lời giới thiệu và phần hỏi bà Nguyễn Thị Ba

    (Lời giới thiệu của một viên chức Chính phủ Việt Nam Cộng hòa): Đại úy Phan Văn Xướng nguyên là sĩ quan phó chỉ huy Trung đoàn Quyết Thắng thuộc Việt Cộng. Đại úy Xướng đã cắt đứt quan hệ với cộng sản và về với Chính nghĩa Quốc gia của Chính phủ Việt Nam. Trong đợt tấn công thứ hai, sau khi hồi chánh, Đại úy Xướng đã kêu gọi các cán bộ và binh sĩ trước đây thuộc quyền ông trong Trung đoàn Quyết Thắng trở về với Chính nghĩa Quốc gia. Nhiều người trong số họ đã hồi chánh ở Gia Định.

    Hôm nay chúng tôi cũng có bà Xướng ở đây. Bà vừa từ quê lên thăm Đại úy. Ông bà Xướng có mặt ở đây trước hết để gặp quý vị và thứ hai là để có dịp trò chuyện với quý vị. Bây giờ chúng tôi xin để báo chí đặt câu hỏi.

    Hỏi: Thưa bà Xướng, xin bà cho biết tên?

    Đáp: Tôi tên Nguyễn Thị Ba.

    Hỏi: Bà bao nhiêu tuổi?

    Đáp: Tôi 40 tuổi.

    Hỏi: Bà có mấy người con?

    Đáp: Tôi có ba người con.

    Hỏi: Người con lớn nhất bao nhiêu tuổi?

    Đáp: Người lớn nhất 14 tuổi.

    Hỏi: Bà có thể cho biết bà bao nhiêu tuổi khi gặp Đại úy?

    Đáp: Đó là năm 1952. Tôi 24 tuổi.

    Hỏi: Năm 1952? Bà sinh ở đâu?

    Đáp: Dong Phuong Tan [nguyên văn không dấu; chưa xác minh chắc chắn cách viết tiếng Việt].

    Hỏi: Bà có thể kể về việc bà gặp Đại úy như thế nào không? Đó là một cuộc quen biết tình cờ hay hai người được giới thiệu qua quan hệ gia đình? Hai người đã tiến tới hôn nhân như thế nào?

    Đáp: Ông hỏi quá chi tiết, tôi nghĩ tôi không thể trả lời. Có lẽ chồng tôi có thể trả lời những câu hỏi đó.

    Hỏi: Sở dĩ chúng tôi hỏi như vậy là vì chúng tôi là phóng viên và muốn tìm hiểu vấn đề thật chi tiết; đó là lý do chúng tôi tò mò. Khi chồng bà tập kết ra Bắc, bà bao nhiêu tuổi?

    Đáp: Hai mươi sáu. Đó là năm 1954.

    Hỏi: Từ 1954 đến 1968, bà có dịp nào gặp lại chồng không? Bà có biết chồng bà đã trở lại miền Nam không?

    Đáp: Tôi không biết gì về chồng tôi kể từ khi ông ấy tập kết ra Bắc. Tôi chưa gặp ông ấy từ năm 1954.

    Hỏi: Từ năm 1954 đến nay bà làm gì?

    Đáp: Tôi dạy học.

    Hỏi: Trong 14 năm xa cách, bà có liên lạc gì với ông ấy không?

    Đáp: Không.

    Hỏi: Khi chồng bà rời nhà đi ra Bắc, phản ứng đầu tiên của bà là gì; gia đình bà và gia đình chồng bà phản ứng ra sao?

    Đáp: Hai gia đình, cả gia đình tôi lẫn gia đình chồng tôi, đều không biết gì về việc ông ấy đi ra Bắc. Chúng tôi biết ông ấy rời nhà nhưng không biết đã đi đâu.

    Hỏi: Nói cách khác, bà không biết chồng mình đã tập kết ra Bắc?

    Đáp: Không. Tôi sinh một đứa con khoảng hai tháng trước khi ông ấy rời chúng tôi.

    Hỏi: Trong thời gian đó, bà nghĩ chồng mình đã đi đâu?

    Đáp: Tôi nghĩ ông ấy vào quân đội hay làm việc gì đó tương tự.

    Hỏi: Vậy sau đó bà biết việc chồng bà tập kết ra Bắc bằng cách nào?

    Đáp: Tôi biết khi báo chí nhắc đến chuyện đó.

    Hỏi: Báo chí nói gì, xin bà cho biết?

    Đáp: Trong trận đánh gần đây, vào khoảng giữa tháng 6-1968, báo chí nhắc đến cuộc giao tranh ở ngã tư Cây Thị.

    Hỏi: Từ ngày chồng bà trở về với chính phủ, bà đã gặp ông ấy mấy lần?

    Đáp: Tôi đã gặp ông ấy một lần.

    Hỏi: Xin cảm ơn bà rất nhiều.

    Phần hỏi Đại úy Phan Văn Xướng

    Hỏi: Đại úy Xướng, ông có tiếp xúc nhiều với các cán bộ cấp cao không?

    Đáp: Trong thời gian ở ngoài đó, tôi đi học. Tôi có nhiều dịp tiếp xúc với cán bộ cùng cấp. Thỉnh thoảng chúng tôi được các cán bộ cấp cao đến thăm. Có vài lần tướng Nguyễn Chí Thanh, tướng Võ Nguyên Giáp và Chủ tịch Hồ đến nói chuyện với chúng tôi. Họ nói về động cơ và sự cần thiết phải tiếp tục học tập, nâng cao trình độ. Trong hoàn cảnh của chúng tôi, họ nói phải thực sự cố gắng xây dựng quân đội; vì chúng tôi là những cán bộ trưởng thành từ chiến tranh du kích nên vẫn phải học các phương pháp mới và trang bị hiện đại. Họ thực sự khuyến khích cán bộ nỗ lực nhiều trong nhà trường.

    Hỏi: Đại úy, ông vào đây bằng đường nào?

    Đáp: Tôi rất khó chỉ cho các ông con đường đã đi. Khi vào Nam chúng tôi không mang bản đồ; dọc đường được những người liên lạc dẫn đi. Trong rừng chúng tôi dùng la bàn, chuyến đi rất cực khổ. Chúng tôi phải đi bộ, đi hành quân. Không có xe hơi hay xe tải. Chúng tôi vượt dãy Trường Sơn. Thỉnh thoảng chúng tôi vượt qua rồi lại quay sang bên kia biên giới Lào – Việt Nam. Không thể nói chính xác chúng tôi đã đi con đường nào.

    Hỏi: Ông có thể nói về những việc ông làm trong quân đội trước khi tập kết ra Bắc không?

    Đáp: Trước khi ra Bắc tôi là đại đội trưởng đại đội Bon Mo [nguyên văn; chưa xác minh chắc chắn cách viết tiếng Việt]. Khi ra Bắc họ phong tôi cấp đại úy. Ở ngoài đó tôi đi học cho đến năm 1965. Tôi vào Nam và được bổ nhiệm làm phó trưởng ngành Cơ giới. Sau đó họ điều tôi sang Trung đoàn Quyết Thắng làm sĩ quan điều hành/phó chỉ huy. Rồi chúng tôi chuyển xuống Gia Định.

    Hỏi: Từ năm 1954 đến 1965 ông làm gì và học những gì?

    Đáp: Như tôi đã nói, tôi tập kết ra Bắc năm 1954. Từ 1954 đến 1958 tôi ở trong quân đội và làm sĩ quan tham mưu của quân khu. Tôi đi học để học những điều mới, và năm 1961 tôi sang Trung Quốc học. Ở Trung Quốc tôi học về lực lượng thiết giáp tại Quảng Tây.

    Hỏi: Ông ở Trung Quốc bao lâu?

    Đáp: Ba năm, từ 1961 đến 1964. Năm 1964 tôi trở lại Bắc Việt Nam và năm 1965 tôi được đưa vào Nam.

    Hỏi: Trong thời gian ở miền Bắc, ông có gặp Hồ Chí Minh không?

    Đáp: Không. Nhưng các lãnh đạo cấp cao có đến thăm chúng tôi và nói chuyện. Chúng tôi không trực tiếp trao đổi với họ.

    Hỏi: Đại úy, trước khi gia nhập Đảng Cộng sản ông làm nghề gì?

    Đáp: Năm 1945 tôi gia nhập quân đội Việt Minh và ở lại chiến đấu chống Pháp đến năm 1954. Sau đó có đình chiến. Khoảng thời gian ấy tôi tập kết ra Bắc.

    Hỏi: Trước khi ra Bắc, ông có báo cho gia đình không?

    Đáp: Có. Gia đình tôi biết tôi đi, nhưng họ không thể đến tiễn vì tôi đã lên Cao Lãnh. Chúng tôi rất vội, vì đã đi một quãng đường dài và khi tới đó chỉ có hai ngày chuẩn bị lên đường. Tôi đã báo cho gia đình, nhưng họ không đến kịp.

    Hỏi: Lần cuối ông gặp gia đình trước khi ra Bắc là khi nào?

    Đáp: Năm 1954, tôi không nhớ chính xác ngày.

    Hỏi: Khi ông nói với gia đình về chuyến đi ra Bắc, họ phản ứng ra sao?

    Đáp: Tôi không gặp được cả gia đình. Lần cuối tôi chỉ gặp vợ tôi, và chỉ gặp cô ấy chưa đầy hai giờ. Quyết định đi ra Bắc do cấp trên đưa ra; dù tôi muốn hay không tôi cũng phải đi. Nếu tôi xin phép ở lại, tôi không nghĩ họ sẽ cho phép. Vợ tôi vừa sinh con. Nói thật, tôi không muốn đi. Tôi muốn ở lại. [Đoạn tiếp theo của bản gốc rất mờ.] Ý của đoạn này là tôi đang ở trong quân đội và không còn có thể tự ý ở lại; vì vậy tôi phải đi. Tôi bị buộc phải ra Bắc.

    Hỏi: Trong thời gian ở miền Bắc ông có gia nhập Đảng không?

    Đáp: Tôi đã là đảng viên Đảng Cộng sản từ năm 1946, khi tôi còn ở miền Nam.

    Hỏi: Nếu ông vào Đảng năm 1946 thì đến nay ông có 22 năm trong Đảng.

    Đáp: Năm 1946 tôi là đảng viên dự bị. Năm 1947 tôi được công nhận là đảng viên chính thức. Như vậy tôi có 21 năm trong Đảng.

    Hỏi: Trong thời gian ở miền Bắc, ông có viết thư cho gia đình không?

    Đáp: Không.

    Hỏi: Sau khi từ Trung Quốc trở về, ông đã làm gì?

    Đáp: Năm 1964 tôi ở Bộ Tham mưu Trung ương. Tại đó tôi nghiên cứu các báo và tài liệu gửi từ miền Nam, nói về chiến lược và chiến thuật được sử dụng ở miền Nam. Tôi cũng tìm hiểu chính sách và kế hoạch của Mặt trận Dân tộc Giải phóng. Đó là thời kỳ chuẩn bị cho một chuyến đi vào Nam.

    Hỏi: Trước chuyến đi vào Nam ông có gặp quan chức cấp cao nào không? Và khi mới vào miền Nam ông có gặp được quan chức cấp cao nào không?

    Đáp: Không. Khi chúng tôi muốn việc gì thì phải đi qua các cấp để lên đến lãnh đạo cấp cao. Sau khi hoàn tất huấn luyện và chuẩn bị lên đường, có một chính ủy, một đại tá thuộc Sư đoàn 3, đến nói chuyện với chúng tôi. Ông ấy khuyến khích chúng tôi thực hiện nhiệm vụ. Tôi chỉ gặp quan chức đó.

    Hỏi: Khi mới vào miền Nam, người đầu tiên ông tiếp xúc là ai?

    Đáp: Khi mới vào miền Nam tôi được phân công về ngành Cơ giới [phần chức danh ở bản gốc mờ].

    Hỏi: Khi từ miền Bắc vào đây, ông có được Mặt trận Dân tộc Giải phóng huấn luyện chính trị gì không? Người ta thường giải thích rằng phong trào Mặt trận Dân tộc Giải phóng khác với lực lượng giải phóng của Bắc Việt Nam. Đó là cách giải thích thường được Mặt trận đưa ra. Đại úy có thể cho biết hai phong trào đó thực chất là một hay là hai phong trào khác nhau? Khi ở miền Nam, ông chịu sự chỉ huy của Mặt trận hay trực tiếp dưới quyền chính phủ Hà Nội?

    Đáp: Tôi vào miền Nam không phải để học những điều ấy từ họ, vì tôi đã nghiên cứu nhiều khi còn ở miền Bắc. Chính sách và những vấn đề khác tôi đã biết. Mặt trận Dân tộc Giải phóng là một tổ chức do miền Bắc tạo ra và mọi hoạt động đều được miền Bắc chỉ đạo và hướng dẫn. Ở miền Nam không có chuyện hai tổ chức hoàn toàn tách biệt; tách thành hai tổ chức, một là Mặt trận Dân tộc Giải phóng và một là Hà Nội, là vô lý. Trên thực tế, chúng tôi hoạt động dưới sự lãnh đạo của Mặt trận Dân tộc Giải phóng. Mọi việc đều được báo cáo về Hà Nội qua những kênh thích hợp. Không có chuyện Mặt trận Dân tộc Giải phóng và Hà Nội tách rời nhau.

    Hỏi: Vậy chức năng và quan hệ của ông Nguyễn Hữu Thọ, Chủ tịch Mặt trận Dân tộc Giải phóng, với Đảng ở Hà Nội là gì?

    Đáp: Ông Thọ chắc chắn là Chủ tịch Mặt trận Dân tộc Giải phóng.

    Hỏi: Điều đó thì rõ, nhưng chức năng của ông ấy trong tổ chức ở Hà Nội là gì?

    Đáp: Tôi không biết gì về chức năng của ông ấy trong Đảng ở Hà Nội. Tôi cũng không biết nhiều về ông Thọ. Nhưng khi Mặt trận được thành lập, các đồng chí có giải thích rằng trong chín năm kháng chiến chống Pháp ông hoạt động trong thành phố; ông là một trí thức. Đó là tất cả những gì họ nói với tôi về ông Thọ. Tôi không biết nhiều về ông ấy và cũng không có dịp gặp.

    Hỏi: Khi ông sang Quảng Tây, ông đi một mình hay đi theo đoàn?

    Đáp: Chúng tôi đi theo đoàn. Có hơn một trăm người.

    Hỏi: Đoàn đó gồm những người tập kết hay người miền Bắc?

    Đáp: Đoàn là hỗn hợp. Có người từ miền Bắc và cũng có những người tập kết. Đó không phải đoàn chỉ gồm người miền Nam, cũng không phải chỉ gồm người miền Bắc.

    Hỏi: Khi vào miền Nam, ông nghĩ gì và dự định làm gì?

    Đáp: Theo điều họ nói, tôi được đưa vào miền Nam để giúp giải phóng đất nước, giải phóng dân chúng. Nhưng khi tới miền Nam tôi rất ngạc nhiên, vì trước đó họ đã tuyên truyền rất nhiều theo hướng ấy, còn thực tế lại khác. Đi đến đâu dân chúng dường như cũng không hưởng ứng hay giúp đỡ chúng tôi. Điều đó khiến tôi suy nghĩ. Trong chín năm chúng tôi chiến đấu chống Pháp, đi đâu chúng tôi cũng được dân chúng hoan nghênh, tiếp đón. Chính dân chúng nuôi chúng tôi, chính dân chúng che chở chúng tôi. Nay cũng vẫn là đội quân ấy, nhưng đi đến đâu dân chúng cũng chỉ muốn tránh xa. Vì thế, có thể nói hệ tư tưởng cộng sản không phù hợp với nguyện vọng của dân chúng; đó là lý do thứ nhất. Điểm thứ hai là trong thời gian sống trong hàng ngũ cộng sản, tôi thấy cán bộ cấp dưới và thuộc cấp nhiều lần bị lừa dối; việc kiểm soát và đối xử với cán bộ cấp dưới và chiến sĩ rất chặt chẽ, khắc nghiệt. Như vậy, theo kinh nghiệm của tôi, phong trào cộng sản không được dân chúng ủng hộ. Vì các lý do trên, tôi rời bỏ hàng ngũ của họ.

    Hỏi: Sau khi nảy ra ý định trở về với chúng tôi theo chương trình Chiêu Hồi, ông đã làm cách nào để ra được an toàn?

    Đáp: Trước khi đi tôi phải lập nhiều kế hoạch và suy nghĩ rất kỹ. Tôi không thể tùy hứng nghĩ đến chuyện ra hồi chánh vì ở ngoài đó mọi di chuyển đều bị kiểm soát rất chặt, nên việc bỏ đi rất khó. Sau khi trung đoàn trưởng chết, tôi là người tạm quyền chỉ huy trung đoàn nên có điều kiện thực hiện kế hoạch thoát khỏi sự kiểm soát của họ. Tôi điều quân đi thực hiện kế hoạch tác chiến; sau khi các đơn vị đã vào vị trí, tôi rời sở chỉ huy và tìm đường thoát ra. Tôi đi cách sở chỉ huy khoảng 300 yard (khoảng 274 m), ngủ ở đó, và sáng hôm sau gặp binh sĩ Tiểu đoàn 5 Nhảy dù của Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Họ dẫn tôi về sở chỉ huy tiểu đoàn; ở đó tôi gặp viên đại úy và những binh sĩ khác. Họ báo cáo lên cấp trên rồi cử một số người xuống thẩm vấn. Sau đó tôi có dịp nói chuyện với báo chí tại Sư đoàn 5. Về sau, khi được chuyển đến Bộ Tư lệnh Sư đoàn Nhảy dù, tôi gặp ban tham mưu sư đoàn và vị thiếu tướng. Trong suốt thời gian làm quen, tôi được đối xử tử tế và thân thiện. Khi ra hồi chánh tôi có lo lắng, nhưng sau khi gặp vị tướng và các sĩ quan khác của sư đoàn thì tôi không còn gì phải sợ nữa. Ban đầu tôi có sợ. Sau đó tôi được đưa tới một nơi ở mà tôi không biết địa chỉ. Ở đó tôi bận rộn làm việc cùng những người khác.

    Hỏi: Đại úy, ông nêu hai lý do hồi chánh: thứ nhất là không có sự ủng hộ của dân chúng; thứ hai là cán bộ cấp dưới và chiến sĩ bị cấp trên kiểm soát, áp chế khắc nghiệt khi phạm sai lầm. Ông có thể cho vài ví dụ cụ thể không?

    Đáp: Tôi trở lại miền Nam năm 1965 và suốt thời gian đó ở trong các chiến khu. Có một số dân sống trong chiến khu để kiếm sống, nhưng chúng tôi không tiếp xúc nhiều với dân chúng. Trong đợt tấn công Sài Gòn lần thứ nhất, tôi không có dịp đi lại nhiều. Tôi đã làm một vài nhiệm vụ. Đầu đợt tấn công thứ hai tôi được điều sang Trung đoàn Quyết Thắng. Khi trung đoàn đi qua những khu đông dân, dân chúng tránh xa chúng tôi. Điều đó rất rõ ràng.

    Điểm thứ hai là sự kiểm soát chặt chẽ, khắc nghiệt và cả việc lừa dối. Tôi gặp những khó khăn đó khi ở Trung đoàn Quyết Thắng. Ví dụ, trước khi thực hiện kế hoạch tác chiến, tôi đã hỏi cấp trên về kế hoạch tiếp tế, việc đưa quân tăng viện xuống và việc di tản thương binh. Ba vấn đề đó lẽ ra phải là ba ưu tiên cao nhất nếu muốn một cuộc tấn công vào đối phương vừa thắng lợi vừa kéo dài được. Chúng phải được hoạch định và giải quyết. Họ hứa rằng dân chúng sẽ giúp chúng tôi và sẽ chăm sóc những người lính bị thương. Khi chúng tôi tới nơi thì không có ai cả; họ đã bỏ đi để tránh chúng tôi. Vấn đề thương binh không được giải quyết. Hậu phương cũng không giải quyết việc cung cấp đạn dược, và quân tăng viện không tới. Như vậy họ đã nói dối chúng tôi.

    Đáp (tiếp): Với những người từng phạm lỗi trong đời tư, chẳng hạn dính líu đến một phụ nữ, hồ sơ của họ sẽ bị ghi lỗi đó. Người ta thường nói người ấy bị “ghi sổ đen”. Họ cũng xếp loại anh theo thành tích và tư cách đạo đức. Trong tuyên truyền, họ khuyên chiến sĩ không dính líu vào các chuyện như vậy vì điều đó có hại cho tinh thần. Chiến sĩ phải cư xử đúng. Vì thế, cán bộ cấp thấp rất khó được thăng lên các chức vụ cao hơn, và việc thăng tiến thường diễn ra chậm.

    Hỏi: Ngoài kiểu áp chế ấy còn có ví dụ nào khác không?

    Đáp: Có nhiều ví dụ về áp chế khi vấn đề mang tính chính trị. Thành phần giai cấp là một nguồn gây áp chế. Nếu anh còn quan hệ với phía đối phương, nếu gia đình anh vẫn ở thành phố và thuộc tiểu tư sản hay tư sản, thì vị trí của anh trong quân đội của họ sẽ bị đặt dấu hỏi. Họ sẽ nêu vấn đề và thường sẽ tiến hành điều tra kỹ. Do khó vào thành phố nên nhiều khi cuộc điều tra không đầy đủ, và họ không thật sự tin anh.

    Hỏi: Tôi cho rằng ông đã nghe việc 159 cựu chiến sĩ Trung đoàn Quyết Thắng hồi chánh sau khi nghe lời kêu gọi của ông. Ông nghĩ gì, cảm tưởng của ông ra sao?

    Đáp: Tôi rất phấn khởi khi thấy những đồng đội của mình đã nghe và hưởng ứng lời kêu gọi của tôi, hồi chánh về với Chính nghĩa Quốc gia. Tôi không muốn nói rằng mình có tài ăn nói khiến họ ra hàng; còn nhiều yếu tố và động cơ khác cùng góp phần vào quyết định của họ. Tôi từng là chỉ huy của họ và khi về đây tôi được đối xử tốt. Tôi đã nói cho các đồng đội cũ biết sự thật và phần nào tha thiết kêu gọi họ. Họ đáp lại và hồi chánh. Lời kêu gọi của tôi đã được nghe và tôi góp phần cứu 159 mạng người, bởi nếu họ quyết định ở lại đó chiến đấu thì sớm muộn cũng sẽ bị giết. Vì vậy, phần đóng góp của tôi là cứu khoảng 159 mạng người.

    Hỏi: Đại úy, có người kể rằng lực lượng tham gia tổng công kích trong hai đợt tấn công vừa rồi phần lớn là tân binh từ miền Bắc. Họ chưa dày dạn chiến đấu và không biết nhiều về địa hình quanh đây. Người ấy cũng nói lực lượng tinh nhuệ, những đơn vị dày dạn chiến đấu, vẫn ở quanh Biệt khu Thủ đô và đang sẵn sàng mở một cuộc tấn công lớn. Ông cho rằng lời kể đó có đáng tin không?

    Đáp: Đây là câu hỏi khó. Đơn vị của tôi và các đơn vị khác có tính chất khác nhau. Phương pháp hoạt động, kỹ thuật, chiến thuật và kỷ luật đều khác nhau. Chẳng hạn, những đơn vị thuộc sư đoàn hoạt động khác, còn đơn vị tôi chỉ hoạt động trong khu vực. Chúng tôi vừa phải chiến đấu vừa phải xây dựng lực lượng và tổ chức. Chiến thuật khá khác nhau.

    Nhưng chuyện nhận quân bổ sung từ miền Bắc là có. Họ hầu như mới chỉ được huấn luyện sơ sài, chưa qua trung tâm huấn luyện tân binh tiêu chuẩn của quân đội chính quy. Họ có đưa quân bổ sung vào; họ đưa cả đàn ông và những người rất trẻ vào để bù đắp nhân lực đang hao hụt nhanh chóng. Những người được đưa vào đây không được huấn luyện tại trung tâm huấn luyện quân chính quy, nên khả năng chiến đấu thấp hơn nhiều so với những chiến sĩ dày dạn ở miền Nam.

    Còn về lực lượng đang sẵn sàng ở khu vực chung quanh thành phố thì tình hình không hoàn toàn như câu hỏi. Vào thời điểm đó, tôi chỉ huy các cuộc tấn công ở phía này; mũi tiến công do một phân khu ở Chợ Lớn chỉ huy đã vào được thành phố. Báo cáo về cho chúng tôi cho biết Trung đoàn 2, Sư đoàn 9 đã vào thành phố ở khu số 762, tức khu vực quanh Bảy Hiền. Sư đoàn 9 được gọi là “Sư đoàn Thép”, điều đó cho thấy chủ lực đã vào thành phố. Chủ lực không đứng ngoài vòng mà đã nhảy vào bên trong. Tuy nhiên có một điều rõ ràng: họ không tung toàn bộ lực lượng. Sư đoàn 9 có nhiều trung đoàn nhưng chỉ đưa Trung đoàn 2 vào. Trung đoàn 2 là một bộ phận hữu cơ của Sư đoàn 9; tôi không biết các trung đoàn khác ở đâu. Còn có các đơn vị chủ lực khác và tôi cũng không biết lúc ấy họ ở đâu. Có thể họ hoạt động quanh Biên Hòa, Tây Ninh và Bình Long. Tôi ở khu vực gần thành phố nên không biết họ ở đâu. Tóm lại, tôi muốn nhấn mạnh rằng họ đã dùng chủ lực nhưng không sử dụng toàn bộ sức mạnh.

    Hỏi: Đại úy vào Nam năm 1965. Từ đó đến cuộc tấn công Sài Gòn, ông có tham gia trận nào khác không?

    Đáp: Khi vào miền Nam tôi được bổ nhiệm làm phó cho trưởng ngành Cơ giới. “Ngành Cơ giới” ở đây nghĩa là tổ chức các đơn vị xe tăng. Nhưng thực tế không có xe tăng, cũng không có xe tải; chỉ có người. Đơn vị tôi không tự chiến đấu độc lập, thường được phối thuộc cho các đơn vị khác để hỗ trợ họ trong tác chiến. Chúng tôi thường phối hợp với sư đoàn trong các cuộc hành quân. Khi sư đoàn chiếm được xe tải hay xe hơi của đối phương thì người của chúng tôi có nhiệm vụ lái các xe chiếm được về cùng sư đoàn. Đó là kiểu hỗ trợ của chúng tôi.

    Thực tế chúng tôi chỉ hoạt động chiến đấu hai lần, khi phối hợp với đơn vị S-2 trong trận đánh ở Thủ Đức và trong cuộc tấn công Trung đoàn Thiết giáp số 1 tại Gò Dầu Hạ.

    Hỏi: Trong hai trận đó, bên ông thắng hay Quân lực Việt Nam Cộng hòa thắng?

    Đáp: Chúng tôi không thắng trận nào, vì không hoàn thành mục tiêu được giao. Trận đánh ở Thủ Đức được coi là thất bại hoàn toàn. Trận Gò Dầu Hạ được coi là thành công một phần vì dù không đạt mục tiêu và có khoảng 30 người chết, chúng tôi chiếm được một xe tăng. Nhưng khi cân nhắc việc đổi hơn 30 người lấy một chiếc xe tăng, họ cảm thấy mình đã thua. Xe tăng chỉ là một khối thép, còn chừng ấy con người có thể làm ra chiếc xe đó; thời gian bỏ ra để huấn luyện họ cũng là một yếu tố rất lớn. Cân nhắc đúng tỷ lệ, tôi cho rằng họ đã thua trận ấy.

    Hỏi: Đại úy nói chiến sĩ của ông thường đi cùng sư đoàn trong tác chiến; nếu chiến dịch thành công họ sẽ lái các phương tiện chiếm được về. Trong thời gian ông ở miền Nam, người của ông đã bao nhiêu lần lái được phương tiện chiến lợi phẩm từ trận địa về?

    Đáp: Chỉ một lần. Đó là trận Gò Dầu Hạ, khi chúng tôi đưa được một chiếc xe tăng về tuyến của mình.

    Hỏi: Các ông dùng chiếc xe đó làm gì?

    Đáp: Chúng tôi dùng nó để huấn luyện và tháo rời ra cho các chiến sĩ xem, tìm hiểu. Chúng tôi không dùng nó để yểm trợ lực lượng trong chiến đấu. Bây giờ chiếc xe đã hỏng.

    Hỏi: Đó là loại xe gì?

    Đáp: M-41.

    Hỏi: Đại úy nói rằng ông vào Nam theo dãy Trường Sơn và biên giới Lào. Dọc biên giới có nhiều tiền đồn do lực lượng Đồng minh dựng lên, có Lực lượng Đặc biệt và Lực lượng Dân sự Chiến đấu (CIDG) đóng. Trên đường vào Nam ông có đụng độ với họ không?

    Đáp: Trong chuyến đi vào Nam chúng tôi không phải đối đầu với đơn vị nào, dù là không quân, pháo binh hay bộ binh. Chúng tôi thậm chí không thấy Lực lượng Đặc biệt Việt Nam. Tuyến đi hoàn toàn an toàn.

    Hỏi: Ông có gặp bà Xướng năm 1966 không?

    Đáp: Có, năm 1966.

    Hỏi: Cuộc gặp kéo dài bao lâu và diễn ra ở đâu?

    Đáp: Chỉ khoảng hai giờ. Nơi tôi gặp bà ấy không nằm trong vùng giải phóng. Khu vực đó bị ném bom dữ dội và tôi phải quay về căn cứ tại [mã căn cứ/địa điểm trong bản gốc không đọc rõ]. Tôi không thể ở lại lâu hơn. Nếu ở lại đó…

    Hỏi: Khi ông tập kết năm 1954, vợ ông có bị buộc phải ở lại không?

    Đáp: Vợ tôi không thể nghĩ tới chuyện đi vì vừa sinh con. Bà ấy phải ở lại. Nhưng theo tôi hiểu thì vợ tôi cũng không muốn đi ra đó.

    Hỏi: Bà Xướng nói với chúng tôi rằng bà có một con trai. Từ khi ông hồi chánh về phía chúng tôi, ông có dịp gặp cậu ấy không?

    Đáp: Có. Tôi đã gặp nó.

    Hỏi: Đại úy nói trên đường vào Nam ông có người dẫn đường qua vùng Cao nguyên. Người dẫn đường là người Thượng hay người từ thành phố?

    Đáp: Có cả người Việt và người Thượng. Trong chặng đầu, người dẫn đường là người Việt địa phương. Ở Cao nguyên, người dẫn đường là người bộ tộc. Các trạm giao liên được bố trí cách nhau khoảng một ngày đường. Chúng tôi rời một trạm vào buổi sáng và tới trạm khác vào buổi chiều. Phần lớn người dẫn đường là người Việt, ngoài ra có một số người Thượng.

    Hỏi: Ông nghĩ gì về những người Thượng làm nhiệm vụ dẫn đường? Họ có thuộc tổ chức cộng sản hay bị ép nhận việc?

    Đáp: Khó nói. Chúng tôi lên đường với họ vào buổi sáng và tới trạm khác vào buổi tối. Ngủ ở đó rồi sáng hôm sau lại đi. Chúng tôi không tiếp xúc nhiều với họ nên không biết họ bị ép làm hay là thành viên của tổ chức. Tôi có cảm giác họ nhận được một số giúp đỡ từ dân địa phương ở đó. Tôi dám nói rằng cộng sản đã dùng cả một mức độ cưỡng bức lẫn thuyết phục để khiến họ giúp Việt Cộng.

    Hỏi: Trên đường vào Nam qua dãy Trường Sơn, ông có tiếp xúc với người của FULRO (Mặt trận Thống nhất Đấu tranh của các Sắc tộc bị Áp bức; tên tiếng Pháp thường gặp: Front Uni de Lutte des Races Opprimées), mà câu hỏi cho rằng là một bộ phận của Mặt trận Dân tộc Giải phóng, không?

    Đáp: Nói chung, từ lúc rời miền Bắc cho đến khi tới nơi, chúng tôi không thấy ai. Không thấy đơn vị nào khác. Đoàn của chúng tôi chỉ đi từ trạm này sang trạm khác. Ban ngày đi, ban đêm nghỉ. Chúng tôi không thấy ai ngoài những người giao liên tại các trạm. Chúng tôi nấu ăn ở đó.

    Hỏi: Trên đường vào Nam, ông có được tiếp tế đủ không và có nhận thực phẩm từ dân chúng không?

    Đáp: Chúng tôi chỉ thấy người ở các trạm. Người tại trạm cấp khoảng ba lon gạo mỗi ngày, tức khoảng một lít mỗi ngày, khi chúng tôi hành quân; nếu ở lại trạm thì hai lon, tức khoảng hai phần ba lít mỗi ngày. Với kiểu di chuyển và mức gắng sức như thế thì không đủ, chúng tôi luôn đói.

    Hỏi: Trên đường vào Nam có chiến sĩ nào nản chí hoặc thật sự không muốn chiến đấu không?

    Đáp: Tôi không thấy ai nản trong lúc đi. Nhưng sau khi tới nơi, qua các trận đánh khác nhau làm họ thấy thực tế, thì có một số người nản. Điều đó thể hiện qua phản ứng thụ động của họ. Tôi nghĩ họ nản về tinh thần và tư tưởng.

    Hỏi: Ông có thể cho biết khi nào ông nảy ra ý định trở về, gia nhập Chính nghĩa Quốc gia? Ông đã có ý định từ trước hay chỉ nảy ra khi đánh vào Gia Định?

    Đáp: Tôi sẽ nói điều tôi nghĩ. Tôi tự nguyện xin trở lại miền Nam vì về căn bản tôi là người miền Nam. Tôi không nghĩ mình thích cuộc sống ở miền Bắc. Tôi biết thực tế đời sống ở miền Bắc dưới chế độ xã hội chủ nghĩa và có dịp so sánh đời sống dưới chế độ miền Bắc với đời sống ở miền Nam. Cá nhân tôi nhớ nhà và thấy cuộc sống ở miền Bắc không phù hợp với mong muốn của mình. Tôi muốn sống ở miền Nam.

    Hỏi: Trong một thời gian ở miền Nam ông không tìm được cách thoát ra để về với chính phủ. Ông phải chờ tới khi đến gần Gia Định mới tìm cách về phía chúng tôi?

    Đáp: Đúng. Nhiều người cũng hỏi tôi câu ấy: tại sao tôi không hồi chánh trước các cuộc tấn công, và tại sao phải đợi đến bây giờ. Tôi đã nói về chương trình Chiêu Hồi và những khó khăn nếu tôi muốn thực hiện ý định, vì khi đó tôi ở rất sâu trong chiến khu. Nếu muốn vào thành phố, tôi phải có lệnh công tác ghi rõ tính chất nhiệm vụ. Một nhiệm vụ có thể là nghiên cứu địa hình và trinh sát một tiền đồn để chuẩn bị tấn công sau này. Nhưng ngay cả khi đi trinh sát, cũng phải có người khác đi cùng nên tình hình không cho phép tôi làm điều tôi vẫn muốn làm. Tôi đã tận dụng cơ hội của cuộc tấn công gần đây, khi đơn vị tôi được tiến gần thành phố. Đó là thời cơ thuận lợi cho kế hoạch của tôi.

    Hỏi: Đại úy, thái độ của dân chúng đối với Việt Cộng trong thời gian đơn vị ông ở khu vực Gia Định như thế nào?

    Đáp: Như tôi đã nói, hầu như không có dân chúng quanh chúng tôi. Chúng tôi đi đến đâu họ cũng tránh xa, né chúng tôi. Tôi nhận ra rằng dân chúng không muốn ủng hộ Quân Giải phóng. Chúng tôi không thấy ai.

    Hỏi: Khi trở lại miền Nam, ông có liên lạc được với gia đình không?

    Đáp: Năm 1966 tôi muốn liên lạc với gia đình, nhưng bằng cách nào? Tôi phải thông qua T-4, một tổ chức thuộc Quân khu 4. Tôi cần giúp đỡ và nhờ T-4 liên hệ với gia đình. Tôi không có dịp trực tiếp xuống gặp gia đình. Có lần tôi nói với cấp trên rằng muốn tới T-4 của Khu Sài Gòn – Gia Định. Ở đó tôi quen nhiều bạn và nhờ họ dò hỏi tin gia đình. Đúng lúc ấy tôi gặp may: có một phụ nữ lên đó thăm con. Sau vài câu hỏi chung, tôi biết bà ấy từ Gò Vấp; hỏi thêm thì tôi biết tin về gia đình mình.

    Hỏi: Ông có tin Bắc Việt sẽ lại tấn công Sài Gòn không?

    Đáp: Họ chủ trương không chỉ tiến công Sài Gòn lần này mà còn theo đuổi một cuộc chiến tranh trường kỳ, kéo dài qua nhiều thế hệ. Họ có khả năng tấn công Sài Gòn dù không đạt kết quả và mục tiêu mong muốn. Nhưng họ có lợi thế chính trị: họ muốn gây rối các cơ quan trung ương của chính phủ và dùng việc đó làm phương tiện gây sức ép tại bàn hội nghị ở Paris.

    Hỏi: Tướng Giáp tuyên bố sẽ biến Sài Gòn thành một Điện Biên Phủ thứ hai. Khi nhận quyền chỉ huy ở đây, ông có thấy tài liệu hay giấy tờ chính thức nào cho thấy có quyết định biến Sài Gòn thành Điện Biên Phủ thứ hai không?

    Đáp: Những tuyên bố kiểu đó của lãnh đạo được coi là tài liệu tuyên truyền để động viên binh sĩ. Nhưng nếu so sánh lực lượng hiện có của hai bên, có thể kết luận kế hoạch ấy rất khó. Tình hình rất khác với tình hình của người Pháp khi họ ở trong giai đoạn khó khăn kinh tế. Hiện nay chính phủ miền Nam và Đồng minh mạnh hơn nhiều. Nói Sài Gòn sẽ là Điện Biên Phủ thứ hai nghĩa là họ muốn động viên chiến sĩ giữ tinh thần trong cuộc tấn công. Bây giờ rút lui cũng rất khó.

    Hỏi: Khi chỉ huy đơn vị, ông có biết tướng Trần Nam Trung đang ở đâu đó quanh thành phố không?

    Đáp: Tôi có nghe nhắc đến tên ông ấy nhưng không gặp. Tôi không gặp ai từ Trung ương Cục miền Nam ngoài ông Trần Văn Trà.

    Hỏi: Ông gặp ông ấy ở đâu, Đại úy?

    Đáp: Tôi ở cùng ông ấy trong đợt tấn công thứ nhất khi tôi xuống đây.

    Hỏi: Ông gặp ông ấy ở khu vực nào ngoài đô thành?

    Đáp: Ở Tân Mỹ A. Bây giờ nơi đó gọi là Bình Mỹ A.

    Hỏi: Ông bị thương trong cuộc tấn công này phải không?

    Đáp: Vết thương này ở tay có từ tháng 2-1946.

    Hỏi: Ông có thể kể lại hoàn cảnh bị thương không?

    Đáp: Khi ấy tôi đang chiến đấu chống Pháp. Tôi bị thương khi họ tiến vào làng An Phú.

    Hỏi: Ông ở miền Bắc từ năm 1954. Trong 14 năm đó ông chỉ gặp vợ hai lần, đúng không?

    Đáp: Lần này là lần thứ ba. Năm 1966 tôi gặp bà ấy một lần. Tôi còn gặp bà ấy hôm trước và hôm nay. Như vậy là ba lần.

    Hỏi: Ông gặp bà ấy một lần khi còn ở với Việt Cộng và hai lần sau khi về với chúng tôi. Khi ở miền Bắc, ông sống ở đâu?

    Đáp: Phần lớn thời gian tôi ở Hà Nội và Nam Định.

    Hỏi: Ông có cho rằng các cuộc ném bom của lực lượng Hoa Kỳ đã ảnh hưởng đến nỗ lực quân sự, công nghiệp và kinh tế của Bắc Việt Nam không?

    Đáp: Khi tôi rời miền Bắc vào năm 1965, Hà Nội vẫn chưa bị ném bom. Một số vùng nông thôn đã bị ném bom, nhưng thành phố thì chưa.

    Hỏi: Ông có nghĩ dân chúng ghét người Mỹ nhiều không?

    Đáp: Họ phát động phong trào “Ghét Mỹ”. Tôi nghĩ người Bắc Việt ghét người Mỹ rất nhiều. Đó là một trong những mục tiêu của tuyên truyền. Họ coi việc đánh thắng Mỹ là thành công của cuộc đấu tranh giành độc lập. Họ không nói nhiều về chiến đấu chống Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Mục tiêu đặt ra cho quân đội Bắc Việt là đánh và thắng người Mỹ cùng các lực lượng Đồng minh, trong đó có Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Các lực lượng Đồng minh được Mỹ trang bị; nếu họ đánh bại được Mỹ thì Đồng minh chắc chắn sẽ bỏ cuộc.

    Hỏi: Đại úy nghĩ gì về việc pháo kích Sài Gòn?

    Đáp: Tôi không trực tiếp thấy sự tàn phá, nhưng biết qua báo chí và đài phát thanh. Tôi cho rằng các vụ pháo kích đã xảy ra. Tuy nhiên tôi nghi ngờ việc Việt Cộng cố ý pháo kích dân chúng. Mục tiêu của chiến tranh là giành sự ủng hộ của dân, nên Việt Cộng được dạy không phá hoại tài sản của dân chúng. Tôi không nghĩ họ cố ý pháo kích dân thành phố, vì như thế họ sẽ mất thiện cảm của dân và có thể thua về chính trị. Nếu trong các cuộc tấn công gần đây chuyện đó xảy ra, tôi cho rằng một phần vì thiết bị đo đạc của họ có vấn đề và vì họ sợ địa điểm bắn bị máy bay phát hiện.

    Đáp (tiếp): Nếu có kế hoạch hiệu chỉnh hỏa lực, họ phải bắn vài phát để chỉnh rồi đến phát thứ ba mới đánh trúng mục tiêu. Nhưng ở đó họ không biết cách hiệu chỉnh hỏa lực, cứ bắn như thế trong bóng tối. Bán kính tản mát của rocket 122 mm lớn. Một vấn đề nữa là họ có thể dùng ống phóng để tăng độ chính xác, nhưng họ bỏ ống phóng và dùng một giá đỡ chữ thập đơn giản để đỡ rocket. Dùng ống phóng thì đường bay ổn định hơn và hướng bắn được xác định rõ hơn. Dùng giá chữ thập đơn giản thì rocket khó kiểm soát và có thể rơi vào khu dân cư.

    Ngay cả khi rocket rơi vào khu đông dân, họ cũng không biết ngay để sửa bắn. Phải vài ngày sau họ mới biết kết quả. Các cơ sở bí mật trong thành phố phải báo về, nên mất vài ngày mới biết. Việc hiệu chỉnh hỏa lực được điều chỉnh theo tin của người báo cáo. Đôi khi bản đồ dùng quá cũ nên không chính xác. Phần lớn bản đồ họ có là bản đồ do Pháp để lại; giấy bản đồ không tốt và việc đọc, hiệu chỉnh có thể sai. Tôi nghĩ vì tất cả những yếu tố đó mà rocket rơi vào khu đông dân.

    Hỏi: Đại úy nói Việt Cộng không có chính sách bắn vào khu dân cư và những vụ pháo kích gần đây là do bắn không chính xác. Nhưng chuyện này không chỉ xảy ra một lần mà nhiều lần. Họ tiếp tục pháo kích thành phố một cách không phân biệt, và còn đe dọa rằng sẽ pháo kích thành phố lần nữa. Bây giờ ông vẫn khẳng định Việt Cộng không muốn pháo kích dân chúng?

    Đáp: Như tôi đã nói, đó là điều họ dạy chúng tôi. Họ nói đây là chiến tranh nhân dân, khởi nghĩa của nhân dân. Muốn thắng thì bên thắng phải dựa vào dân. Họ cần dân chúng. Đó là cách họ giáo dục chúng tôi, nên tôi rất ngạc nhiên khi biết họ đã pháo kích dân. Tôi không biết tại sao. Bản thân tôi tin rằng hiệu chỉnh hỏa lực là việc không dễ khắc phục. Tôi vẫn nói rằng họ sẽ còn pháo kích dân chúng nữa.

    Hỏi: Ông có thể cho biết số người Bắc Việt hiện có ở miền Nam không?

    Đáp: Điều đó liên quan đến tổng quân số toàn quân; tôi không nghĩ mình biết. Nhưng trong đơn vị của tôi…

    Hỏi: Trong đơn vị ông có bao nhiêu?

    Đáp: Trong đơn vị tôi, 50% tân binh từ miền Bắc vào.

    Hỏi: Đại úy có tham gia đợt tấn công đầu tiên dịp Tết không?

    Đáp: Tôi không chiến đấu trong đợt đầu. Tôi ở Bộ Chỉ huy Phân khu 1, làm sĩ quan tham mưu tại sở chỉ huy. Tôi nắm tình hình lực lượng phía mình. Sau mỗi trận đánh, tôi phải xuống đơn vị chiến đấu để đánh giá chiến thuật và chiến lược, tìm điểm mạnh và điểm yếu của đơn vị. Lãnh đạo dựa vào báo cáo của tôi để xác định lượng quân tăng viện cần thiết giữa đợt thứ nhất và đợt thứ hai. Trong đợt đầu tôi làm công việc đó.

    Hỏi: Ông có tham gia đợt thứ hai không?

    Đáp: Trong đợt thứ hai, trung đoàn của tôi được tung vào ngày 31 tháng 5.

    Hỏi: Ông có nhận được sự giúp đỡ nào từ dân chúng không? Sĩ quan và binh sĩ của ông nghĩ gì về việc đó?

    Đáp: Tôi đã nói rồi: đi đâu dân chúng cũng tránh chúng tôi. Không có tiếp xúc với dân chúng vì họ đều bỏ đi khi chúng tôi đến.

    Hỏi: Tại sao?

    Đáp: Đó là một trong những lý do tôi rời bỏ cộng sản. Tôi đã nói rằng cộng sản không có sự ủng hộ của dân chúng. Ngoài lý do về chế độ, tôi còn nói đến việc dân chúng không ủng hộ phong trào cộng sản.

    Hỏi: Đại úy, vị này muốn hỏi cụ thể hơn về lý do thứ hai liên quan đến ông?

    Đáp: Tôi chắc rằng dân chúng không ủng hộ chiến dịch, không ủng hộ phong trào, vì họ vội rời khỏi nơi ở ngay khi biết chúng tôi sắp tới.

    II. PHỎNG VẤN ĐẠI ÚY PHAN VĂN XƯỚNG, QUÂN ĐỘI BẮC VIỆT

    Ghi chú trong tài liệu: cuộc phỏng vấn được thực hiện ngày 2 tháng 7 năm 1968; mục “Special Projects”.

    Hỏi: Vì sao ông quyết định hồi chánh?

    Đáp: Có hai lý do. Tôi đã ở với Việt Cộng 23 năm. Trước kia, trong thời kỳ chúng tôi đánh Pháp, quân đội cộng sản được gọi là Quân đội Nhân dân. Đi đến đâu họ cũng được dân chúng ủng hộ, nuôi dưỡng. Bây giờ họ vẫn mang tên Quân đội Nhân dân, nhưng trên thực tế, đi đến đâu dân chúng cũng không ủng hộ chúng tôi và có vẻ ghét, hoặc đã quá chán cộng sản. Quân đội hầu như không có sự ủng hộ của dân chúng. Trong cuộc tấn công gần đây, trung đoàn của tôi đi qua khu vực đông dân nhất, nhưng tôi không thấy ai ở lại giúp chúng tôi.

    Hỏi: Lý do thứ hai là gì?

    Đáp: Lý do thứ hai là tôi đã sống trong hàng ngũ cộng sản lâu năm và biết nhiều hơn về họ. Cấp trên phần lớn thời gian áp chế và nói dối cấp dưới. Chẳng hạn, khi trung đoàn tôi được đưa tới đây có một số vấn đề phải giải quyết: hậu cần, tăng viện để có thể tiếp tục chiến đấu, và chăm sóc thương binh. Khi nhận lệnh đi cùng trung đoàn, tôi hỏi cấp trên về các vấn đề đó. Họ trả lời rằng một khi chúng tôi tới đây, dân địa phương sẽ ủng hộ và giúp đỡ; rồi chúng tôi sẽ vận động dân chúng, dùng người địa phương thay thế các binh sĩ bị thương và để dân chăm sóc thương binh. Nhưng thực tế đúng như tôi đã nói: đi đâu tôi cũng không thấy sự chào đón và ủng hộ nồng nhiệt của dân. Trái lại, họ bỏ chạy và tránh xa chúng tôi. Suy nghĩ lại thì rõ ràng cấp trên đã không nói thật. Họ đưa 500 người tới đây nhưng không dự liệu, không quan tâm hay chuẩn bị gì cho sinh mạng những người đó. Họ không có hành động cụ thể nào để bảo đảm đời sống binh sĩ.

    Hỏi: Ông nghĩ gì về chiến thuật của Chính phủ Việt Nam và Đồng minh? Theo ông chúng tôi nên dùng chiến thuật nào để thắng cuộc chiến này?

    Đáp: Về chiến thuật, tôi có thể nói hai bên khác nhau. Phía Chính phủ Việt Nam và Đồng minh dựa nhiều vào hỏa lực để tiêu diệt đối phương. Việt Cộng có chiến thuật riêng. Họ không triển khai quân để đánh trận như Chính phủ Việt Nam. Họ dùng chiến thuật du kích. Khi thấy có thể thắng, họ mới giao chiến; thấy không thể thắng thì rút. Vì vậy, nếu phía này muốn đánh bại Việt Cộng thì phải sử dụng chiến thuật du kích giống Việt Cộng. Nhưng trước hết, phải xây dựng cơ sở trong dân chúng, nghĩa là bắt đầu từ người dân và thiết lập một mạng lưới điệp viên trong dân. Những người này sẽ tiêu diệt Việt Cộng khi họ tìm cách trà trộn vào dân chúng. Họ dùng chiến thuật du kích, còn các ông không thể tiêu diệt họ chỉ bằng chiến thuật chiến tranh quy ước của mình.

    Hỏi: Trong các chiến thuật của Quân lực Việt Nam Cộng hòa và Đồng minh, Việt Cộng và Bắc Việt sợ nhất điều gì?

    Đáp: Quân phía này được trang bị tốt bằng khí tài hiện đại. Pháo binh và không quân là hai phương tiện mạnh nhất của phía này và là điểm yếu của Việt Cộng. Họ không có những thứ đó. Khả năng phòng không yếu vì thiếu vũ khí phòng không. Trong chiến đấu, điều Việt Cộng sợ nhất và phải đề phòng nhất là pháo binh và không quân của các ông.

    Hỏi: Nếu chiến tranh tiếp tục, ông có nghĩ Bắc Việt sẽ dùng máy bay hoặc trực thăng để chiến đấu ở miền Nam không?

    Đáp: Tôi chưa nghe hoặc được thông báo về việc đó. Nhưng từ quan sát và hiểu biết của mình, tôi có thể nói họ có khả năng làm. Nếu dùng thì việc sử dụng máy bay và trực thăng sẽ rất hạn chế. Họ có thể dùng hai hoặc ba máy bay trong một cuộc tập kích bất ngờ, một dạng chiến tranh du kích nhưng tiến hành bằng máy bay. Họ sẽ không sử dụng không quân theo kiểu chiến tranh quy ước, khi hai bên dàn quân rồi gọi máy bay, pháo binh đánh trước khi bộ binh xung phong. Họ có thể dùng máy bay để thả lính biệt kích bằng dù xuống một khu vực, hoặc bất ngờ tập kích rồi nhanh chóng rút lui, theo một hình thức tác chiến đường không tương tự cách không quân phía này hoạt động.

    Hỏi: Ông có biết Bắc Việt từng dùng trực thăng chở quân sang Campuchia hay Lào không?

    Đáp: Cá nhân tôi không thấy, nhưng bạn bè kể cho tôi sau khi tôi từ Trung Quốc trở về. Tôi được nói rằng khi chiến sự diễn ra ở Lào, Bắc Việt đã dùng trực thăng vận chuyển quân và pháo. Theo phán đoán của tôi, họ có thể làm việc đó, nhưng khả năng dùng trực thăng chở quân rất ít và hạn chế. Bộ binh vẫn là lực lượng chủ yếu.

    Hỏi: Ông nghe nói trực thăng được dùng để chở quân và pháo sang Lào vào lúc nào?

    Đáp: Trước năm 1964, trước khi tôi từ Trung Quốc trở về; khoảng năm 1963. Tôi về Bắc Việt năm 1964 và bạn bè kể lại.

    Hỏi: Những trực thăng đó chở quân từ Bắc Việt sang Lào hay từ Lào đi nơi khác?

    Đáp: Khi đó đang có chiến tranh ở Lào, vì vậy họ chở quân từ Bắc Việt sang Lào để tăng viện cho Pathet Lào, giúp Pathet Lào.

    Hỏi: Sau đó ông vào Nam khi nào?

    Đáp: Tháng 7-1965.

    Hỏi: Cuối năm 1965, khi người Mỹ bắt đầu ném bom Bắc Việt, ông đã tới miền Nam chưa?

    Đáp: Khi tôi bắt đầu đi vào Nam, Hà Nội chưa bị ném bom. Mỹ đã ném bom Bắc Việt nhưng ở các tỉnh khác. Tôi chỉ nghe nói chứ chưa thấy.

    Hỏi: Ông bắt đầu đi vào Nam vào tháng 7?

    Đáp: Đúng, tháng 7-1965 và tới miền Nam tháng 11-1965. Bắc Việt bị ném bom nhưng tôi không tận mắt thấy.

    Hỏi: Chúng tôi biết việc ném bom xảy ra cuối năm 1965. Ông nhận biết việc Mỹ ném bom từ khi nào?

    Đáp: Ngày 5 tháng 8, cuộc tấn công vào Bắc Việt bắt đầu

    Hỏi: Ngày 5 tháng 8-1965?

    Đáp: Không, ngày 5 tháng 8-1964. Cuộc tấn công xảy ra trước đó. Khi tôi còn ở Trung Quốc, cuộc tấn công ở Bắc Việt đã xảy ra.

    Hỏi: Việc đưa quân xâm nhập vào Nam bắt đầu trước năm 1964 phải không?

    Đáp: Có, họ vào Nam năm 1964.

    Hỏi: Nhưng họ có vào Nam trước năm 1964 không hay chỉ trong năm 1964?

    Đáp: Tôi không biết họ có đi trước năm 1964 hay không vì trước năm 1964 tôi còn ở Trung Quốc, và một phần năm 1964 tôi vẫn ở Trung Quốc. Nhưng sau khi trở về trong năm 1964, tôi biết họ đã đưa quân vào miền Nam.

    Hỏi: Ông có biết có khác biệt nào giữa chính sách của Hà Nội và chính sách của Mặt trận Dân tộc Giải phóng không; có sự ghen ghét hay xung đột nào giữa người miền Bắc và người miền Nam không?

    Đáp: Theo hiểu biết của tôi, Mặt trận Dân tộc Giải phóng chỉ là một sản phẩm của Hà Nội. Khi ở Trung Quốc, sau khi Mặt trận ra đời, tôi được học tập về Mặt trận, nguồn gốc của nó, đảng mà nó trực thuộc, các lãnh đạo, v.v. Mặt trận Dân tộc Giải phóng là một tổ chức nằm trong Đảng Lao động Việt Nam. Nó do Hà Nội tạo ra; Hà Nội là nơi giật dây.

    Về quan hệ giữa người miền Bắc và người miền Nam, chúng tôi được giáo dục rằng hai bên đoàn kết. Nhưng trên thực tế, khi sống cùng nhau, có những va chạm về lối sống và chính sách. Đôi khi mâu thuẫn và va chạm dẫn tới đánh nhau giữa họ. Chuyện này đôi lúc xảy ra ở Hà Nội nhưng luôn được giữ kín.

    Hỏi: Còn quan hệ giữa người miền Bắc và người miền Nam ở miền Nam thì sao?

    Đáp: Dĩ nhiên họ được giáo dục và thúc giục mạnh mẽ phải đoàn kết. Nhưng trên thực tế, va chạm và mâu thuẫn thường xảy ra và phải giải quyết. Người miền Bắc và người miền Nam rất khó sống với nhau một cách hòa thuận.

    Hỏi: Vậy theo ông, chính sách của Hà Nội và của Mặt trận Dân tộc Giải phóng là một; Mặt trận chỉ làm theo chính sách của Hà Nội?

    Đáp: Đúng.

    Hỏi: Về việc thống nhất Việt Nam, nếu Bắc Việt cho rằng họ có quyền đánh miền Nam và thống nhất đất nước bằng vũ lực, thì miền Nam cũng có thể đánh ra Bắc và thống nhất đất nước bằng vũ lực. Ông nghĩ sao?

    Đáp: Theo tuyên truyền của họ, Việt Nam là một nước và mọi người Việt Nam có quyền đi bất cứ đâu họ muốn. Đó là lý do thứ nhất. Lý do thứ hai là Hà Nội đưa quân vào miền Nam vì có sự hiện diện của người Mỹ. Nếu người Mỹ không ở đây thì sẽ có tổng tuyển cử, theo Hiệp định Genève. Vì vậy cộng sản phải đưa quân vào đây.

    Nhưng trên thực tế, chuyện Hiệp định Genève không phải nguyên nhân chính. Khi cuộc tập kết bắt đầu, họ để lại những cán bộ Việt Minh cũ ở miền Nam. Điều đó có nghĩa là các tổ chức của họ tại miền Nam tiếp tục hoạt động bí mật ngay từ khi lực lượng tập kết ra Bắc. Điều này không phải mới xảy ra gần đây. Sự có mặt của người Mỹ chỉ là cái cớ họ dùng để biện minh cho hành động của mình. Đó là cách tôi hiểu vấn đề. Vào ngày quân tập kết ra Bắc, nhiều cán bộ và tổ chức vẫn ở lại miền Nam và hoạt động bí mật. Họ tổ chức du kích và mạng lưới địa phương. Họ đã đặt nền móng từ lâu chứ không phải mới gần đây.

    Hỏi: Ông có phải đảng viên không?

    Đáp: Có.

    Hỏi: Bao nhiêu năm?

    Đáp: 21 năm.

    Hỏi: Tôn giáo của ông là gì?

    Đáp: Phật giáo.

    Hỏi: Ai là những người lính tốt hơn, người miền Bắc hay người miền Nam?

    Đáp: Về căn bản, cộng sản Bắc Việt đã tận dụng thời bình ở miền Bắc để huấn luyện binh sĩ. Họ có hoàn cảnh và điều kiện thuận lợi để huấn luyện quân. Ở miền Nam, Việt Cộng trở thành những người lính có kinh nghiệm qua kháng chiến. Họ học từ kinh nghiệm, học bằng thực hành. Đồng đội ở miền Nam giỏi nhất về chiến tranh du kích và xét về tinh thần thì họ cũng dũng cảm hơn.

    Hỏi: Trong những ngày đầu của chế độ Đảng Lao Động [nguyên văn tiếng Anh: “Lao-Dong regime”], rất nhiều người bị xử tử. Nếu Bắc Việt và Việt Cộng chiếm miền Nam, họ có xử tử rất nhiều người ở miền Nam không?

    Đáp: Người ở phía này?

    Hỏi: Đúng.

    Đáp: Chuyện đó chắc chắn sẽ xảy ra, vì từ kinh nghiệm của tôi ở Bắc Việt, tôi thấy sau cải cách ruộng đất, địa chủ và tư sản bị kết án hoặc xử tử. Trường hợp này khó tránh vì chế độ được xây dựng như vậy. Nếu cộng sản chiếm miền Nam, địa chủ, tư sản, mại bản và tất cả những người đã bị đưa vào “danh sách nợ máu” chắc chắn hoặc sẽ bị xử tử, hoặc bị đưa đến một trung tâm cải tạo ở xa.

    Hỏi: Xin trả lời có hoặc không: ông hồi chánh vì sợ hãi phải không?

    Đáp: Sợ chết à? Không. Tôi nghĩ cái chết có thể xảy ra mỗi ngày. Có chiến đấu thì có chết. Điều quan trọng là tôi có thể xác định phía nào đúng và phía nào sai.

    Hỏi: Từ nay ông dự định làm gì?

    Đáp: Tôi chưa có ý tưởng rõ ràng mình sẽ làm gì. Nhưng mong muốn của tôi là có thể phục vụ trong Quân lực Việt Nam Cộng hòa ở binh chủng của mình, tức thiết giáp.

    Hỏi: Ông nói mình hồi chánh không phải vì sợ mà vì đã nhận ra điều gì đúng, điều gì sai. Vì sao và từ khi nào ông nhận ra điều đó? Có phải chỉ trong ba tháng vừa qua không?

    Đáp: Sau khi ra Bắc Việt, tôi quan sát cuộc sống ở đó và so sánh với cuộc sống ở miền Nam khi còn dưới thời Pháp. Khi ấy miền Nam vẫn dưới chủ nghĩa thực dân Pháp và chúng tôi đang chiến đấu chống Pháp. Chúng tôi đánh họ vì tin rằng chủ nghĩa thực dân đã lỗi thời, mục nát. Chúng tôi không thích cuộc sống bị áp bức đó nên ra Hà Nội để xây dựng một cuộc sống tốt đẹp hơn. Cuộc sống trong một xã hội tốt hơn phải thể hiện những mặt tốt nhất của nó qua hoạt động kinh tế, vật chất và tinh thần của nhân dân.

    Nhưng sau khi so sánh cuộc sống ở Bắc Việt với cuộc sống ở miền Nam khi còn dưới sự thống trị của Pháp, tôi đi đến kết luận rằng xã hội tốt đẹp mà chúng tôi xây dựng ở Hà Nội không tốt hơn xã hội miền Nam dưới thời Pháp. Từ khi tôi trở về từ Trung Quốc cho đến lúc vào Nam, Bắc Việt không đạt tiến bộ đáng kể. Trong cùng thời gian đó, tôi nhận được thư từ bạn bè ở miền Nam nói về sự tiến bộ và cải thiện của xã hội miền Nam. Thư nói đời sống dân chúng miền Nam đã khá hơn và nông dân không còn chỉ làm việc bằng tay mà dùng máy móc.

    Khi tới miền Nam và tận mắt thấy sự tiến bộ, tôi nhận ra điều bạn bè viết là đúng. Tôi tự nhủ rằng trong lúc giáo dục tư tưởng, cộng sản luôn nói chủ nghĩa cộng sản là tốt nhất, tiến bộ nhất trong mọi học thuyết trên thế giới. Nếu nó tốt nhất, tôi tự hỏi, tại sao người miền Nam lại không đi theo cộng sản? Nhiều người trong số họ có chồng, con và họ hàng từng chiến đấu chống thực dân Pháp. Những người đó không tán thành cộng sản. Lý do trở nên rất rõ với tôi và tôi quyết định hồi chánh.

    Hỏi: Ông vừa nói lính Bắc Việt tốt hơn vì được huấn luyện tốt, nhưng Việt Cộng ở miền Nam giỏi nhất về chiến tranh du kích. Có đúng không?

    Đáp: Đúng.

    Hỏi: Ông có gặp quân Hàn Quốc nào ở miền Nam không?

    Đáp: Không.

    Hỏi: Cảm ơn ông đã đến đây trả lời những câu hỏi này.

    Đáp: Đó là bổn phận của tôi. Tôi muốn nói ra mọi điều tôi biết về phía bên kia, để phía này hiểu tâm trạng của tôi. Ngoài ra, vì tôi đã hồi chánh, tôi muốn hợp tác với quý vị và Quân lực Việt Nam Cộng hòa, là lực lượng mà tôi hy vọng sẽ dựa vào trong tương lai và cũng là nơi tôi hy vọng được làm việc. Xin hãy tin rằng những điều tôi nói là sự thật.

    Hết bản dịch. Các trang trắng và các trang chỉ có dấu/ảnh mờ không chứa nội dung văn bản đã được lược bỏ. Một số tên đơn vị, địa danh hoặc con số bị mờ được giữ dưới dạng chú thích [không đọc rõ] thay vì suy đoán.

    (còn nữa)

    …………….

    GHI CHÚ HIỆU ĐÍNH TÊN RIÊNG VÀ ĐỊA DANH (KHÔNG THUỘC NGUYÊN VĂN)

    Phan Văn Xướng (Năm Xướng): Bản tiếng Anh ghi “Phan Van Xuong”. Đối chiếu hồi ký của Lưu Phước Lượng và Báo Quân khu 7 cho thấy cách viết đúng là Phan Văn Xướng, bí danh Năm Xướng, Trung đoàn phó Trung đoàn Quyết Thắng.

    (ghi chú thêm của biên tập) Hồ sơ phỏng vấn bằng tiếng Anh ghi cấp bậc của Phan Van Xuong là Senior Captain (Đại úy). Tuy nhiên, một số tài liệu tiếng Việt gọi ông là Trung tá Phan Văn Xướng (Năm Xướng). Do các nguồn hiện có chưa thống nhất về quân hàm và chức vụ của nhân vật, bản dịch giữ cấp bậc theo hồ sơ tiếng Anh.

    Ban chỉ huy Trung đoàn Quyết Thắng: Nguồn đối chiếu ghi: Ba Vinh = Trần Quang Vinh (Trung đoàn trưởng); Hai Phái = Lê Hoàng Phái (Chính ủy); Năm Xướng = Phan Văn Xướng (Trung đoàn phó). Các tên này chỉ dùng để xác minh nhân vật, không được tự chèn vào những đoạn nguyên văn không nêu tên.

    T-4: Hiệu đính thành Khu Sài Gòn – Gia Định (còn gọi Khu 4/T.4); không hiểu đơn giản là “một tổ chức thuộc Quân khu 4”.

    Cây Thị, Cây Quéo: Giữ cách viết có dấu này. Tư liệu địa danh Sài Gòn – Gia Định xác nhận các tên Ngã tư Cây Thị và Cây Quéo.

    Bình Mỹ A: Giữ cách viết Bình Mỹ A; hồ sơ liệt sĩ thời kỳ 1968-1973 cũng ghi địa danh Bình Mỹ A, Gia Định. Câu “Tân Mỹ A, nay gọi Bình Mỹ A” được giữ theo chính lời khai trong bản tiếng Anh.

    Gò Dầu Hạ, Thủ Đức, Bảy Hiền, Biên Hòa, Tây Ninh, Bình Long, Gò Vấp, Nam Định, Cao Lãnh, An Phú: Các địa danh này đã được chuẩn hóa dấu tiếng Việt theo cách viết thông dụng và không có dấu hiệu cần sửa thêm.

    Dong Phuong Tan; Bon Mo: Chưa tìm được nguồn đủ chắc chắn để xác định cách viết có dấu hoặc địa danh/đơn vị tương ứng. Vì vậy bản hiệu đính trả về dạng không dấu đúng như văn bản tiếng Anh, kèm chú thích, thay vì suy đoán.

    S-2; 300 yard; mã căn cứ không đọc rõ: Đối chiếu trực tiếp ảnh scan cho thấy “S-2” và “300 yards” đọc được rõ. Ngược lại, ký hiệu căn cứ ở đoạn gặp vợ năm 1966 không đủ rõ để giải mã; bản trước hiểu thành giờ là không có cơ sở nên đã sửa lại.

    Nguồn đối chiếu chính: Lưu Phước Lượng, “Dấu ấn cuộc đời: Dấu ấn đau thương Mậu Thân 1968”, Thanh Niên, 09-02-2022 (trích sách Dấu ấn cuộc đời, NXB Quân đội Nhân dân); Báo Quân khu 7, “Thoát hiểm trong vòng vây quân thù”; tài liệu lịch sử của TP.HCM về Khu ủy T.4/Khu Sài Gòn – Gia Định; các tư liệu địa danh Sài Gòn – TP.HCM về Cây Thị và Cây Quéo.

    Nguồn: Dương Quốc Chính


    Không có nhận xét nào